Bàn về việc cầu hoà của nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh, có nên không?

Các Cuộc Khởi Nghĩa

Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang đánh dấu chiến thắng hoàn toàn của nghĩa quân Lam Sơn trên chiến trường. Sau rất nhiều gian khổ và hy sinh, nghĩa quân đã đánh tan những nỗ lực quân sự cuối cùng của nhà Minh trong việc đưa nước ta trở thành quận huyện của Trung Quốc. Và như tất cả mọi cuộc chiến chống quân xâm lược phương Bắc khác, chúng ta còn cần phải hoàn thành công việc cuối cùng: Công tác ngoại giao, nghị hòa xin sắc phong để kết thúc chiến tranh. Bài viết này của tác giả Minh Đức là quan điểm có nên hay không việc cầu hoà của nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh.

Nói sơ một chút về tình thế lúc đó: Liễu Thăng chết trận tại Chi Lăng, cánh quân chi viện chủ lực bị tiêu diệt hoàn toàn, cánh quân của Mộc Thạnh cũng bị đánh tan phải hoảng hốt tháo chạy về Vân Nam. Trong nước, quân Minh trong các tòa thành phần bị vây đánh lâu ngày, phần bị chiến thắng này chấn nhiếp mà đầu hàng, phần không hàng cũng đã bị hạ, gần như chỉ còn lại đám Vương Thông trơ trọi ở Đông Quan, không viện binh, không người tiếp ứng, sĩ khí tụt dốc, như cá nằm trên thớt.

Sự sống chết của đám quân Minh này giờ không còn nằm ở việc chúng muốn hàng hay không hàng nữa, mà là ở việc bộ chỉ huy Lam Sơn muốn giết đám này hay không mà thôi.

Các tướng đều đồng lòng muốn giết, chỉ có Nguyễn Trãi sau khi đọc được thư bọc sáp của Vương Thông thì khuyên Lê Thái Tổ nên thả. Chúng ta thử ở vị thế của Lê Thái Tổ để hình dung cần quyết định chuyện đó như thế nào.

Việc cầu hoà của nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh xuất phát từ đề xuất của Nguyễn Trãi
Việc cầu hoà của nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh xuất phát từ đề xuất của Nguyễn Trãi

Giết. Tại sao các tướng lĩnh lại đồng lòng muốn giết dù biết rằng mình sẽ là người công hạ Đông Quan? Chó cùng rứt giậu cũng sẽ có thương vong phải không. Đó là bởi vì tức giận và bất bình đã dồn nén rất lâu rồi. Tại sao ở thời điểm chúng ta mở cửa cho hàng, thậm chí cúi thấp đầu để có thể giảng hòa về nước thì bọn mày không chịu hàng, lúc đó có thể rất nhiều anh em chiến hữu đã có thể còn sống, ít nhất Đinh Lễ, Lý Triện cũng không phải mất mạng. Còn giờ hàng có ý nghĩa gì nữa? Giết một Liễu Thăng cũng là giết, giết 12 vạn quân Minh cũng là giết, thêm 1 Vương Thông nữa thì đã làm sao?

Quyết định giết lúc này ít ra sẽ xoa dịu tâm trạng tướng lĩnh và binh sĩ để họ trút nỗi căm hờn đã dồn nén bấy lâu. Việc cầu hòa cũng chưa chắc đã là không được. Lý Thường Kiệt dẫn quân đồ sát Ung Châu vẫn có thể cầu hòa, vua Trần sai người lật thuyền giết Ô Mã Nhi (theo sử Nguyễn) vẫn có thể cầu hòa, đến như Nguyễn Huệ lấy một cái cớ sứt sẹo là: “Do quân thiên triều anh dũng quá, tụi em nương tay không được nên phải vừa sợ vừa chém chết cmn hết rồi” vẫn là cầu hòa được.

Kể cả trong trường hợp bết bát nhất là không cầu hòa được mà đánh tiếp thì quân Minh có moi ra thêm được đạo viện quân thứ 3 hay không thì vẫn còn là câu hỏi khi mà để chuẩn bị đạo quân thứ 2 đã mất đứt cả năm, sĩ khí Lam Sơn lúc này lên như cầu vồng nên đánh tiếp vẫn là chơi được, đương nhiên, người khổ vẫn sẽ là dân chúng và quá trình xây dựng lại đất nước sẽ khó khăn hơn.

Không giết? Không giết giảng hòa thì sẽ thể hiện thiện chí của nghĩa quân Lam Sơn và có thêm lợi thế để đàm phán nghị hòa với triều đình nhà Minh. Tuy nhiên, đứng trước nỗi bất bình của tướng sĩ lúc đó, ai là người đủ tư cách nói câu này?

Chỉ có một người duy nhất đủ tư cách và cũng đủ uy vọng lúc đó ra quyết định này mà thôi. Đó chính là bản thân Lê Lợi.

Hãy thử ngẫm lại mà xem, vì ai mà gia đình Lê Lợi nhà tan cửa nát, vì ai mà phải sống những ngày trốn chui trốn nhủi, người thân bị quân Minh bắt giết, cháu bị chính tay Vương Thông giết, mộ tiên phụ cũng bị địch quật lên xỉ nhục. Đáng lẽ ra, đó mới chính là người phải muốn “vì nghĩa lớn kinh Xuân Thu”, phải muốn băm kẻ địch ra làm trăm mảnh. Ấy vậy mà, người đó đã có thể nhịn xuống, chủ tướng có thể gác bỏ thù riêng để mong chấm dứt cảnh binh đao thì còn ai có thể đứng ra bất mãn?

Và cái đó là để làm gì, nhẫn nhịn như vậy chính là để việc nghị hòa hậu chiến diễn ra thuận lợi hơn và cũng là giúp Nguyễn Trãi (người đưa ra ý kiến nghị hòa) dễ lấy thiện cảm của quân Minh để đứng ra bàn chuyện.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử khi xung đột giữa nước ta và triều đại của Trung Quốc kết thúc mà có sự nhượng bộ lớn như vậy, chúng ta tha bổng và cấp lương về nước cho cả vạn quân Minh trong cái thế chúng ta có thể ra tay chém hết, tù binh, hàng binh trả về tính tổng các đợt thì đến hơn 8 vạn. Còn xét về chiến công quân sự, chiến công của Lam Sơn hoàn toàn không hề thua kém bất kỳ cuộc chiến tranh vệ quốc nào, đánh tan tận 2 lần tăng viện của quân Minh, lần sau giòn giã vang dội hơn lần trước. Có thể nói đó là lợi thế cực lớn để nghị hòa, cả uy thế về quân sự lẫn thiện chí đều đã rất đầy đủ, những gì mà các tướng lĩnh Lam Sơn có thể làm được đã làm, những gì mà Lê Lợi có thể làm cũng đã làm.

Nhưng kết cục của cuộc đàm phán ngoại giao là gì: Chúng ta cầu hòa được, nhưng điều kiện kèm theo đó là rất ngặt nghèo, Lê Thái Tổ không được phong vương đã đành nhưng chúng ta còn phải đúc tượng vàng thế mạng, mà đúc tượng đã đành chúng ta phải đúc kiểu trói tay, rũ tóc thích chữ lên mặt để tạ tội, và phải dâng 3 cái tượng đó trong 6 năm. Đó là còn chưa kể phải trả lại rất nhiều vũ khí, ngựa …

Nếu có thể đánh giá về thành tích ngoại giao này của Nguyễn Trãi thì nhẹ nhàng là chặc lưỡi một cái: “thôi cũng được”, còn nói nặng thì đứng trước từng đó hy sinh và nhẫn nhịn của chủ tướng để đổi lấy lợi thế đi đàm phán thì đây là một thành tích ngoại giao quá đỗi tệ hại, hỡi ơi đến cả Mạc Đăng Dung trong cảnh ngặt nghèo cỡ đó, địch vây tứ phương tám hướng cũng chỉ phải cống 1 cái tượng vàng mà thôi chứ không cần nói đến đám sứ thần thời Quang Trung.

Công tác ngoại giao cuối cùng của Lam Sơn không tương xứng với những chiến công oanh liệt của nó, đó là lý do vì sao với bản thân mình mà nói, Lam Sơn có hồi kết không trọn vẹn, và nó còn không trọn vẹn hơn nữa khi bây giờ những con người xứng đáng được vinh danh của Lam Sơn không hề nhận được sự đánh giá đúng đắn của hậu thế.

Tác giả Minh Đức. Bài viết từ fanpage Đại Việt Cổ Phong.

Minh Đức
Follow tôi: