VIỆT SỬ GIAI THOẠI

Người kể chuyện Sử

Bàn về việc Sứ bộ các nước đi sứ triều cống Trung Hoa

Chia sẻ với bạn bè :

Bàn về việc Sứ bộ các nước đi sứ triều cống Trung Hoa : Các phiên thuộc tới Tuế cống Trung Quốc đều do bộ Lễ đón tiếp. Mỗi thuộc quốc có một kỳ cống khác nhau, Triều Tiên mỗi năm một lần, Lưu Cầu hai năm một lần, Việt Nam và Xiêm La ba năm một lần (Tùy triều đại, mà tuế kỳ của Việt Nam có thay đổi, có thời 1 năm, 3 năm…)

Bàn về việc Sứ bộ các nước đi sứ triều cống Trung Hoa
Bàn về việc Sứ bộ các nước đi sứ triều cống Trung Hoa

Sứ bộ tới kinh do Bộ Lễ phụ trách đón tiếp. Nơi đón tiếp và để sứ bộ ăn nghỉ gọi là Hội đồng quán (còn gọi là Hội đồng tứ dịch quán, Tứ di quán – sang đời Thành đổi thành Tứ dịch quán). Hội đồng quán là dịch quán cực lớn, đầy đủ tiện nghi, vào những năm Chính Thống, đã lập ra Nam quán ở Đông Giang Mễ hạng và Bắc quán ở Trừng Thanh phường. Trong đó các sứ bộ An Nam, Nhật Bản, Lưu Cầu, Triều Tiên tới kinh được cho ở Nam quán, các sứ bộ khác ở Bắc quán.

Hội đồng quán dần dần được mở rộng, năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1408] đã có Nam quán ba sở, Bắc quán sáu sở. Tới năm Thành Hóa thứ 5 [1469] tổng cộng có tới 18 sở, chia làm các quán riêng cho mỗi sứ bộ các nước: Triều Tiên quán, Nhật Bản quán, Lưu Cầu quán, An Nam quán, Chân Lạp quán, Xiêm La quán, Chiêm Thành, Java, Sumatra, Mã Lai, Mông Cổ, Ba Tư, Cao Xương, Tây Tạng, Hà Tây, Miến Điện, Vân Nam bách di. (Tổng 17 sở, có lẽ sở còn lại dành cho sứ thần các nước không có trong danh sách tuế cống), càng về sau quy mô càng mở rộng.

Trong Hội đồng quán có cả phu phen và y sinh phục vụ sứ bộ. Ngoài việc lo ăn ở, Hội đồng quán còn đảm nhiệm việc bảo quản và cất giữ cống phẩm, các cống phẩm khác nhau thì có các phương pháp bảo quản cất giữ khác nhau, kể cả voi ngựa, hổ báo, chim muông cũng đều có phương tiện và nhân lực lo toan hết. Chưởng quản Hội đồng quán là chức Thiếu khanh, trật Chính tứ phẩm (trước kia còn có một viên Thái thường tự khanh, nhưng tới thời Gia Tĩnh thì bỏ). Bên dưới có các chức Dịch tự sinh và Thông sự, ban đầu thuộc Thông chính sứ ty, lo việc phiên dịch văn tự và thông ngôn.

Triều Minh có một cơ quan chuyên trách việc đón tiếp sứ bộ gọi là Chủ khách ty (cơ quan này không chỉ lo việc đón tiếp sứ thần các phiên quốc tới triều cống, mà còn quản lý việc cống nạp của các địa phương cùng các dân tộc thiểu số). Khi sứ bộ tới dịch quán, Chủ khách ty phải có mặt để kiểm tra cấp bậc của sứ bộ, tùy theo địa vị sứ bộ cao thấp mà bố trí phòng ốc, nhưng căn bản vẫn phải lo đầy đủ phương tiện, khiến sứ bộ có cảm giác như đang ở nhà mình, để không làm mất ân trạch của triều đình.

Xem thêm : Lịch sử dân tộc Việt Nam – một dân tộc “dễ bị tổn thương”

Rồi căn cứ theo cấp bậc của sứ thần mà ghi chép lại nhân số của sứ bộ, lo cho việc ăn uống, năm ngày một lần theo lệ cung đốn rượu thịt, trà quả…

Lại căn cứ địa vị của sứ bộ mà tính toán việc cơm nước (gồm cả thực đơn và số lượng), rồi báo cho nhà bếp lo toan. Cắt cử một quan viên thuộc Chủ khách ty để hoặc làm thủ tịch, hoặc ngồi tả hữu lo việc tiếp đãi.

Ngoài ra, nhiệm vụ quan trọng nhất của Chủ khách ty là thẩm định biểu văn triều cống, khảo hạch các viên phiên dịch của Tứ di quán, nghiêm cấm họ tiếp xúc cùng sứ bộ để phòng tiết lộ việc cơ mật. Tiếp đó kiểm kê cống phẩm. Sau khi thu nhận và kiểm kê cống phẩm, Chủ khách ty bàn giao cho Nội phủ. Nội phủ lại kiểm nghiệm và tính toán giá trị cống phẩm, từ đó mà xác định đồ ban thưởng của triều đình cho phiên quốc. Thường việc ban thưởng là rất hậu hĩnh, hơn xa giá trị cống phẩm, ngoài ra sứ bộ phiên quốc còn tranh thủ đem thêm hàng hóa tới bán riêng, hoàn toàn miễn thuế (mặc dù có luật đánh thuế nhưng thực tế là không thực hiện). Cho nên theo lệ thì Triều Tiên mỗi năm cống một lần, mà có năm sang cống tới ba, bốn lần, đỉnh điểm là có năm sang tận sáu lần. Ngoài việc được ban thưởng hậu hĩnh, sứ đoàn tranh thủ buôn hàng Trung Quốc về quốc nội để bán.

Việc tranh thủ buôn bán này, sứ đoàn Việt Nam cũng làm không ít. Đời vua Minh Mệnh, có lần triều thần tâu rằng: “Nước ta là nước văn hiến, vẫn được người nước Thanh trọng vọng. Nếu nhân vâng mệnh đi sứ, mà trao đổi hàng hoá, sợ người không biết, coi đó làm khinh trọng, chưa đủ tỏ là nhã quan. Xin từ nay hễ sứ bộ sang nước Thanh, có nên mua thứ gì, lấy bạc lạng mà trao đổi, còn hoá vật đem kèm đi thì thôi.”

Vua bác đi rằng: “Lời tâu rất không hợp lý. Kể ra, hoá vật đều bởi chỗ sản xuất mà ra, lấy thứ có đổi thứ không có, xưa nay vẫn thế, tức như các hạng: nhục quế, đậu khấu, yến oa, đều là của nước ta sản ra, mỗi khi gặp kỳ sang sứ nước Thanh, thường có đem theo ít nhiều, để trao đổi phẩm vật của nước Thanh, như: nhân sâm, thuốc men, sách vở là những thứ thanh quý để sung cho quốc dụng, không phải như người buôn bán ở hàng chợ, đổi mua tạp hoá, mưu toan cầu lợi. Từ trước đến giờ, đã thành lệ quen, có hại gì cho quốc thể đâu? Huống chi nước Thanh, đổi thứ của mình có mà lấy thứ mình không có, tưởng cũng không phải là không thích, há có coi cái đó là khinh trọng ư? Còn bảo là đem bạc lạng để đổi mới phải, thì thử nghĩ lấy bạc để đổi, cùng lấy vật để đổi, 2 đằng có khác nhau cái gì? Sở kiến kém cỏi bỉ ổi, không đáng nói đến.”

Ấy là nói việc đường đường chính chính buôn bán, chứ sứ đoàn mua hàng cho riêng mình về nước bán kiếm lời thì nhiều không kể xiết. Thời nhà Trần, có sự kiện quan Phụng ngự Nguyễn Bính: “năm trước đứng đầu hành nhân sang sứ nước Nguyên, trở về không mua thứ gì, Thượng hoàng khen ngợi, đặc cách ban thưởng 2 tư.” (Toàn thư – Bản kỷ) Đủ để thấy việc sứ thần mà không mua bán đồ đạc trong khi đi sứ là hiếm thay.

Quay lại với việc cống lễ. Hôm cử hành lễ triều cống, Nha môn bộ Lễ thiết án cử hành nghi lễ nhận cống nạp. Cống sứ theo quan viên Bộ Lễ dẫn tới trước án, hành ngũ bái tam khấu (sang đời Thanh là tam quỵ cửu khấu). Lễ xong, bộ Lễ chuyển biểu văn cho nội các để trình lên Hoàng đế, còn cống vật vẫn để tại Nha môn bộ. Nếu gặp đúng hôm thiết triều, thông thường Cống sứ có thể được theo triều thần yết kiến Hoàng đế. Nếu không gặp ngày triều hội, thì sẽ do Hoàng đế quyết định có cho yết kiến hay không.

Việc dẫn kiến sứ bộ vào triều do Hồng lư tự quản lý, ho đảm nhiệm chức trách chủ yếu là dẫn kiến sứ thần và hướng dẫn họ thực hiện lễ nghi triều cống.

Khi yết kiến, Cống sứ cũng hành lễ ngũ bái tam khấu, Hoàng đế thông qua phiên dịch mà hỏi han úy lạo (Lưu ý, đây là Cống sứ đứng ngoài điện, việc truyền ngôn do phiên dịch thực hiện). Nếu được Hoàng đế đặc biệt ưu ái, có thể được gọi vào đại điện, ban ngồi và ban trà. Ngày hôm sau, Cống sứ tới cổng Ngọ Môn tạ ơn rồi về nước.

Sơ bộ là vậy, qua đó đủ để thấy khả năng để một ông Phó sứ vô danh tiểu tốt, được vào trong điện và đối đáp với Hoàng đế Minh triều, hay khả năng nhà Minh nhốt một ông sứ giả lên lầu cao rồi rút thang,… mấy cái nhảm nhí kiểu ấy, tự mọi người có thể đánh giá được đúng sai.

Nguồn Fanpage Phòng chống nạn xào nấu Sử.


Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.