Đặng Tất tướng quân: người anh hùng lỡ vận của thời loạn thế

Đặng Tất tướng quân: người anh hùng lỡ vận của thời loạn thế
DocumentObject.png

Xin quyền tác giả

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Enim integer varius faucibus tellus.

Gửi yêu cầu

Đặng Tất tướng quân: người anh hùng lỡ vận của thời loạn thế

Trong thời đại loạn thế nhiễu nhương ắt sẽ xuất hiện anh hùng kinh bang tế thế để cứu dân giúp nước. Trong số các anh hùng đã từng xuất hiện trong những trang sử nước Việt qua bao thời nhiễu nhương, có người gặp được thời cơ mà làm nên đại sự, lưu danh sử sách. Nhưng cũng có người vì lỡ vận mà phải ra đi trong uất ức, chôn vùi một đời tài hoa.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ được nghe câu chuyện về một vị danh tướng lẫy lừng nhưng lại không gặp được minh quân, để rồi một đời vẫy vùng chinh nam dẹp bắc đổi lại kết quả là bị chính vị chủ công của mình giết chết vì tin lời gièm pha. Đó chính là danh tướng Đặng Tất – người cuối cùng mang khí chất của hào khí Đông A anh hùng.

Các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu

Trong khi quân Minh đánh diệt nhà Hồ từ phía bắc thì ở các châu phía nam, một số tướng lĩnh Đại Ngu đang phải đối phó với quân Chiêm Thành thừa cơ hội đánh ra lấn đất. An phủ sứ Hoàng Hối Khanh bấy giờ là viên quan có quyền hành cao nhất, phục trách mọi việc ở lộ Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay) và trấn Tân Ninh (thuộc Quảng Nam). Đặng Tất làm Đại tri châu, cùng với Phạm Thế Căng làm tâm phúc cho Hoàng Hối Khanh. Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ trấn Tân Ninh phụ trách vùng rừng núi. Nguyễn Rỗ cũng là một tướng có thực lực trong vùng, nhưng hay tị hiềm với Đặng Tất vì ghen ghét công trạng của nhau.

Chế Ma Nô Đà Nan đóng quân trấn giữ tại châu Tư Nghĩa (Quảng Ngãi ngày nay), là nơi cực nam của nước Đại Ngu thời kỳ này. Vua Chiêm là Ba Đích Lại đem quân tấn công vào châu Tư Nghĩa thuộc lộ Thăng Hoa, do Chế Ma Nô Đà Nan trấn thủ. Hoàng Hối Khanh cùng Đặng Tất, Nguyễn Rỗ đem quân vào cứu viện.

Sau thế quân Chiêm quá mạnh, dân Việt vào khai khẩn từ trước phần nhiều bỏ chạy về bắc. Hoàng Hối Khanh, Đặng Tất, Nguyễn Rỗ cũng rút lui bỏ mặc Chế Ma Nô Đà Nan bị vây khốn. Quân Chiêm chiếm được châu Tư Nghĩa, Chế Ma Nô Đà Nam cô thế bị giết. Chiêm Thành thừa thế chiếm luôn Thăng Hoa, các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu phải kéo nhau rút dồn về Hóa Châu, Tân Bình, bị kẹp giữa quân Minh và quân Chiêm Thành. Tại thành Hóa Châu (Huế ngày nay), tướng trấn thủ là Nguyễn Phong thấy đoàn thuyền chở quân của Đặng Tất bỏ biên cương chạy về nên đóng cửa thành không cho vào. Đặng Tất thúc quân đánh chiếm luôn thành trì, giết chết Nguyễn Phong.

Vì ở xa triều đình trung ương, tin tức không thông, lại trong tình thế hỗn loạn nên các tướng lĩnh vùng phía nam đã trở thành các thế lực cát cứ vô tổ chức, mạnh ai người nấy giữ lấy quân của mình. Nguyễn Rỗ cùng các di dân đi đường bộ nên đến chậm, không chịu sát nhập lực lượng với Đặng Tất mà cùng nhau tranh cướp thành trì.

Đặng Tất ở trong thành cố thủ, đánh nhau với Nguyễn Rỗ hơn 1 tháng. Nguyễn Rỗ ở ngoài thành không có tiếp viện, phải đem gia quyến đầu hàng Chiêm Thành. Phạm Thế Căng đem quân về Tân Bình thì hay tin cha con Hồ Quý Ly đều đã bị bắt, bèn ra Nghệ An đầu hàng quân Minh, chỉ điểm cho Trương Phụ, Mộc Thạnh vào đánh Hóa Châu. Đặng Tất ở Hóa Châu, nam thì Chiêm Thành đánh lên, bắc thì quân Minh đánh xuống, liệu thế không chống cự nổi cũng đành chịu đầu hàng quân Minh, xin với Trương Phụ được làm quan cai quản Hóa Châu, thực ra là ẩn nhẫn chờ đợi thời cơ về sau. Trương Phụ lúc này cũng muốn tranh thủ mua chuộc các thế lực tướng lĩnh, quan lại nên đã đồng ý. Đặng Tất hàng Minh rồi, cho người đem Hoàng Hối Khanh giải về Đông Đô làm tin. Hoàng Hối Khanh đến cửa biển Đan Thai (cửa Hội, Nghệ An) thì nhảy xuống biển tự vẫn. Trương Phụ vẫn không chịu buông tha ông, sai người vớt xác chặt đầu bêu ở chợ Đông Đô. Việc Đặng Tất đầu hàng Trương Phụ chỉ là khổ nhục kế, là bước nhẫn nhịn nhất thời.

Trên thực tế ông vẫn nắm giữ lực lượng của mình, về sau là nòng cốt quan trọng để tiếp tục chống lại quân Minh. Về phần Nguyễn Cảnh Chân lúc này cũng phải cho hàng ngũ tan rã, sống ẩn dật chờ đợi thời cơ, tìm bạn đồng chí để cùng mưu sự về sau. Như vậy là các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu trước sức ép của quân Minh và quân Chiêm Thành cũng đều phải tan rã hoặc theo hàng giặc. Tuy nhiên, tình hình sẽ hoàn toàn không như ý định của quân Minh xâm lược.

Việc tiêu diệt được triều đình nhà Hồ không có nghĩa là chúng đã bình định được nước ta. Quân giặc không đủ khả năng dập tắt được các sự kháng cự ở rải rác khắp cả nước và không thể bóp chết được các mầm yêu nước trong nhân dân. Nước Đại Ngu không còn, nhưng dân tộc Việt vẫn còn. Cuộc kháng chiến chống quân Minh của dân tộc Việt vẫn chỉ mới ở giai đoạn đầu. Theo lời hiệu triệu, đầu quân Giản Định Đế cùng xây cơ nghiệp Theo lời hiệu triệu, tướng quân Đặng Tất đầu quân Giản Định Đế cùng xây cơ nghiệp Giản Định đế Trần Ngỗi (hoặc Trần Quỹ) vốn là con thứ của vua Trần Nghệ Tông, tước Giản Định vương thời Trần, về sau mang tước Nhật Nam quận vương dưới triều nhà Hồ.

Được Trần Triệu Cơ tôn phò buổi ban đầu, Giản Định đế là vị vua danh chính ngôn thuận theo chuẩn mực thời bấy giờ. Vua Giản Định vừa lên ngôi, tung tin rầm rộ đi các nơi hiệu triệu toàn dân. Nhân dân các vùng lân cận lần lượt theo về. Quân Minh dò biết tin, lập tức kéo đến đánh thẳng vào đại doanh của Giản Định. Quân nhà Hậu Trần là quân mới hợp, chưa quen chiến trận, chưa đánh đã tan chạy. Giản Định dẫn tàn quân tránh được, rút vào Nghệ An. Lúc này Đại tri châu Đặng Tất ở Hóa Châu biết tin, bèn giết chết viên quan giám sát người Minh, dẫn hơn 1 vạn quân bản bộ dùng thuyền vượt biển ra Nghệ An đón rước nhà vua. Đặng Tất tự biết mình đã đầu hàng quân Minh, dù là việc bất đắc dĩ cũng khó tránh nghi ngại của vua. Bởi thế, ông đã đem con gái dâng cho vua Giản Định để tỏ lòng thành. Giản Định thu nhận Đặng Tất, phong làm Quốc công. Các con trai của Đặng Tất cũng đều được phong các chức vụ chủ chốt.

Giản Định đế có uy tín của một quý tộc Trần để hiệu triệu toàn dân, Đặng Tất có tài trí và quân đội mạnh. Sự kết hợp của hai nhân vật này là điểm tựa quan trọng đầu tiên để gây dựng một phong trào kháng chiến chống Minh to lớn. Quần hùng các nơi biết tin Đặng Tất phò vua Giản Định ở Nghệ An, lũ lượt kéo nhau đến hội quân. Nguyễn Cảnh Chân bấy giờ đang ở Thăng Hoa, tập họp các quân lính dưới trướng cũ của mình kéo ra Nghệ An gia nhập hàng ngũ quân nhà Hậu Trần. Giản Định đế phong cho Nguyễn Cảnh Chân làm Đồng tri khu mật viện. Nguyễn Cảnh Chân từ đó trở thành mưu thần hàng đầu, cùng với Đặng Tất là hai cánh tay đắc lực của nhà vua.

Cuối năm 1407, cuộc khởi nghĩa ở Đông Triều do thổ hào Phạm Chấn cùng hoàng thất nhà Trần là Trần Nguyệt Hồ đứng đầu bị quân Minh đánh bại. Trần Nguyệt Hồ bị giặc bắt. Phạm Chấn chạy thoát được, dẫn lực lượng còn lại chạy vào Nghệ An theo về với Giản Định. Các lãnh tụ khởi nghĩa khác là Trần Nguyên Tôn, Trần Dương Đình, Trần Ngạn Chiêu… cũng từ các nơi kéo quân đến hội. Cho đến đầu năm 1408, nhà Hậu Trần đã trở thành ngọn cờ đầu thu hút lực lượng kháng chiến tập hợp lại với nhau. Thanh thế quân dưới trướng Giản Định đã khá mạnh. Nghệ An lúc này tương đối xa thủ phủ của giặc Minh ở Đông Quan, tin tức không thông, giặc tạm thời chưa nắm rõ tình hình tụ nghĩa của quân ta. Nghĩa quân Hậu Trần không chủ trương đối địch ngay với chủ lực quân Minh tại vùng trung tâm Đại Việt mà thực hiện chiến lược nam tiến. Binh lực của giặc Minh từ vùng Thanh Nghệ trở về nam vốn chủ yếu dựa vào các ngụy quan, ngụy binh đóng giữ. Đó là những chỗ yếu trong hệ thống của quân Minh. Ngụy binh có tinh thần chiến đấu kém do phải theo giặc đánh lại người trong nước, dễ đầu hàng và vỡ chạy trong chiến trận. Quân Minh bất đắc dĩ phải dùng ngụy binh là do chúng không thể có đủ binh lực người Minh để chống lại toàn dân ta. Giản Định muốn tiếp tục phân tán sự chú ý của quân Minh, sai Phạm Chấn, Trần Nguyên Tôn, Trần Dương Đình, Trần Ngạn Chiêu đem quân ra bắc thu nhập tàn quân tái chiếm lại Bình Than, lập căn cứ phòng thủ. Quân Minh biết tin, đem quân đến đánh Bình Than.

Các tướng cầm cự được ít thời gian thì lại thua tan, rút lui về đại doanh ở Nghệ An. Tranh thủ thời cơ, Đặng Tất tham mưu với vua Giản Định đem quân chủ lực vào chiêu dụ thành Nghệ An, Diễn Châu. Ngụy quan trấn giữ thành Nghệ An là Trần Nhật Chiêu, ngụy quan Trần Thúc Giao giữ thành Diễn Châu. Quân Hậu Trần kéo đến, cả hai thành đều đóng cửa không ra đón rước. Giản Định bèn tung quân đánh chiếm lấy thành trì. Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao binh lực mỏng không cầm cự nổi, nhanh chóng bị đánh bại và bị Giản Định bắt chém đầu. Thuộc hạ của Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao hơn 500 người cũng bị xử chém. Việc giết hai ngụy quan là hợp lý vì họ đã theo giặc Minh mà cố giữ lấy thành trì. Nhưng việc giết hại những người dưới quyền vốn bị lệ thuộc vào chủ nhân khiến cho sử sách chê bai vua Giản Định là không có lòng nhân.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên bình rằng: “Thiên hạ đại loạn, nhân dân Nghệ An, Diễn Châu biết ai là chân chúa. Thúc Dao là con người tôn thất, Nhật Chiêu là tướng quân cũ, nhận quan tước của nhà Minh, giữ đất trị dân, dân không theo có được không? Giết Thúc Dao và Nhật Chiêu là phải, còn bọn thuộc hạ nên vỗ về mà dùng, thì chúng không cảm kích ơn đức đó hay sao? Thế mà lại giết nhiều như vậy, sao gọi là quân nhân nghĩa được?” Quả thực Giản Định dù có chí lớn nhưng tính cách đa nghi và thiếu nhân đức. Lời bình của Ngô Sĩ Liên thật xác đáng. Tuy nhiên xét về chiến lược chung, vua Giản Định cùng hàng ngũ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã có những bước đi ban đầu đúng đắn. Chiếm được thành Nghệ An và thành Diễn Châu, quân Hậu Trần đã có đất đứng chân ban đầu để thu hút lực lượng. Nhân dân trong vùng nô nức đến cửa quân xin theo diệt giặc.

Bấy giờ ở nước Minh, vua Chu Đệ vẫn phải lo đối phó với các bộ tộc Mông Cổ ở phía bắc. Nước Bắc Nguyên trên thực tế đã bị phân liệt thành các tiểu quốc nhưng vẫn rất hùng mạnh, thiện chiến. Trương Phụ sau cuộc chiến với nhà Hồ đã được Chu Đệ triệu hồi về nước để tăng cường cho quân đội trong nước Minh trước mối đe dọa từ phía bắc. Phụ toan rút quân về nước, nhưng nhà Hậu Trần nổi lên đã buộc hắn phải nấn ná lại. Hay tin quân Hậu Trần chiếm được hai thành Nghệ An, Diễn Châu, Trương Phụ cùng với ngụy quan Mạc Thúy lập tức đem lực lượng lớn tiến đánh.

Quân lính dưới trướng Trương Phụ đều là tinh binh đã kinh qua nhiều trận, rất thông thuộc chiến trường Đại Việt. Quân Minh tiến đánh thành Diễn Châu, thế như nước vỡ bờ. Quân Hậu Trần cố sức chống giữ, nhưng rồi phải rút lui về thành Nghệ An tránh mũi nhọn của giặc. Trương Phụ lại đem hết quân đánh thành Nghệ An, Đặng Tất cùng các tướng thúc quân chống trả kiên cường. Quân Minh không hạ thành ngay được, Trương Phụ đều quân bao vây thành Nghệ An. Giản Định cùng các tướng bàn nhau sợ rằng ở trong thành bị vây hết lương thì sẽ nguy.

Quân Hậu Trần bèn lựa chỗ mỏng yếu của quân Minh mà mở cổng thành đánh phá vòng vây, đem binh thuyền vượt biển rút về Hóa Châu (bấy giờ Hóa Châu là châu lớn bao gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, bắc Quảng Nam ngày nay). Lúc này, Hóa Châu đã là địa bàn vững chắc do thế lực của Quốc công Đặng Tất cai trị. Khi Đặng Tất đem quân ra Nghệ An phò vua Giản Định, Hóa Châu được hai em trai của Đặng Tất là Đặng Đức, Đặng Quý trấn giữ. Khi quân ta phá vây rút lui, Trương Phụ thúc quân lên thuyền tức tốc đuổi theo nhưng quân ta đã kịp rút đi an toàn. Trương Phụ dẫn quân vượt biển đuổi theo, đến cửa biển Bố Chính thì gặp Phạm Thế Căng đón đường xin hàng.

Phạm Thế Căng là người Mường làm quan cho nhà Trần và nhà Hồ, trước đã từng hàng Trương Phụ rồi. Nhưng khi quân Minh lơ là vùng phía nam thì y đã trở thành một quân phiệt cát cứ địa phương, không thuộc quản lý của ai trên thực tế. Nay Trương Phụ lại đem quân vào nam, y liền về hàng thêm lần nữa. Trương Phụ tuy cố cất quân vượt biển vào nam để truy kích quân Hậu Trần nhưng quân lệnh của vua Chu Đệ không thể trì hoãn lâu. Phụ nhân có được Phạm Thế Căng về hàng, bèn phong cho Phạm Thế Căng chức Tri phủ Tân Bình (Quảng Bình và bắc Quảng Trị), giao cho Phạm Thế Căng quyền cai trị các châu lộ phía nam và nhiệm vụ phải đánh dẹp quân Hậu Trần. Được sự cam kết của Phạm Thế Căng rồi, Trương Phụ dẫn quân về bắc.

Tháng 4.1408, Trương Phụ cùng quân bản bộ tinh nhuệ của mình rút về nước Minh. Như vậy là cả hai tên tướng đầu sỏ của quân Minh khi đem quân xâm lược Đại Ngu là Trương Phụ, Mộc Thạnh đều đã rút về nước cùng với những lực lượng đông đảo và tinh nhuệ. Quân Minh trên khắp nước ta lúc này chỉ còn trên dưới 5 vạn, là thời cơ tốt cho các phong trào khởi nghĩa hành động quyết liệt. Đặng Tất đem quân bắc phạt, tiễu trừ quân phản quốc Khi quyết định rút đại quân về nước, Trương Phụ đặt nhiều kỳ vọng vào ngụy quan Phạm Thế Căng. Thực tế Phạm Thế Căng không làm được gì nhiều ngoài việc tự tung ra oai trong vùng.

Y tự xưng là Vũ Duệ Đại Vương, đóng đại doanh ở núi An Đại (thuộc Lệ Thủy, Quảng Bình ngày nay), muốn dùng phủ Tân Bình làm chỗ chắn ngang đường nhà Hậu Trần tiến quân của ra bắc. Nhưng với đặt thù của vùng phía nam Đại Việt là hẹp về đường bộ, rộng về đường biển thì sự phòng giữ của Phạm Thế Căng trở nên vô ích. Khi Trương Phụ rút về bắc, Đặng Tất giao hậu phương Hóa Châu lại cho hai người em trai Đặng Đức, Đặng Quý cai quản. Còn bản thân Đặng Tất cùng vua Giản Định đem thủy quân vượt biển tiến thẳng ra chiếm lại Nghệ An. Đặng Tất đem quân bắc phạt, tiễu trừ quân phản quốc. Ảnh minh họa từ Việt Sử Kiêu Hùng Thành Nghệ An bấy giờ do ngụy quan Phan Quý Hữu đóng giữ.

Tuy quân lực trong thành không bằng quân Hậu Trần, nhưng nếu dựa vào thành trì mà chống giữ thì cũng có khả năng gây thương vong đáng kể cho quân công thành. Biết được điều đó, Đặng Tất một mặt cho quân phô trương thanh thế, mặt khác thảo thư chiêu hàng Phan Quý Hữu. Lời lẽ trong thư chiêu hàng của Đặng Tất hết sức khiêm nhường, được giao cho chính người con trai trưởng của ông là Đặng Dung đem thư chuyển tận tay Phan Quý Hữu. Thư viết :“… Đệ cùng với đại huynh nguyên là thần tử nhà Trần. Bởi mệnh trời đổi trở thành bề tôi họ Hồ, mới đây mới khuất thân về với Thiên triều [chỉ giặc Minh].

Từ đó ngày đêm đau đáu niềm tủi hổ, thân làm quốc sĩ mà phải chịu phận hàng thần, đắc tội với xã tắc, mang tiếng xấu ngàn thu. Nay đệ quản Hóa Châu, sĩ tốt có hơn 10 ngàn. Nếu được đại huynh dùng tướng hùng binh mạnh của Hoan Châu chung sức chung lòng thì một dải từ Mã Giang đến Hải Vân Sơn lo gì không trở thành đất Ba Thục của nhà Hậu Hán [tức nước Thục của Lưu Bị thời Tam Quốc]. Đệ liều chết dâng thư này, bộc bạch ruột gan, nên chăng thế nào mong đại huynh chỉ giáo.” (theo sử gia Đặng Duy Phúc) Các ngụy quan đa phần chỉ là những người xuôi theo kẻ mạnh.

Phan Quý Hữu cũng nằm trong số đó. Nhận được thư của Đặng Tất, Phan Quý Hữu ban đầu còn phân vân chưa chịu hàng. Sau lại thấy lực lượng quân Hậu Trần hùng mạnh nên đã cùng con trai là Phan Liêu mở cổng thành ra hàng. Nhờ vậy mà nghĩa quân có được đất Nghệ An dễ dàng, đỡ tốn nhiều xương máu. Cùng với việc chiêu hàng Phan Quý Hữu, Đặng Tất còn dụ hàng ngụy quân, ngụy quan ở các nơi dọc đường tiến quân từ Hóa Châu ra Nghệ An. Hầu hết các ngụy quan đều buông giáo quy hàng.

Duy chỉ có Phạm Thế Căng giữ phủ Tân Bình là ra mặt chống lại. Y trù tính rằng Đặng Tất có sở trường dùng bộ binh, nên đã tăng cường xây đắp thành lũy ở núi An Đại để phòng thủ, lại bố trí phục binh ở các chỗ hiểm để đón đánh quân Hậu Trần. Thủy quân của Phạm Thế Căng thì đóng phòng tuyến ở cửa biển Nhật Lệ, chắn ngang đường đi lại của quân Hậu Trần giữa hai vùng cứ địa Nghệ An và Thuận Hóa. Thái độ của Phạm Thế Căng buộc vua tôi nhà Hậu Trần phải kiên quyết đánh dẹp.

Tháng 7.1408, quân nhà Hậu Trần chia đường thủy bộ tiến đánh phủ Tân Bình. Quân thủy do Đặng Tất chỉ huy nhân ngày gió thuận căng buồm chèo nhanh đánh thẳng vào khối quân chính của Phạm Thế Căng đang phòng giữ cửa biển Nhật Lệ. Mặc dù đã có phòng bị, Phạm Thế Căng cũng không thể nào chống nổi quân của Đặng Tất có tinh thần chiến đấu cao hơn hẳn. Quân đội của Phạm Thế Căng chỉ giao chiến được một lúc đang thi nhau tan chạy, chỉ có một số ít chống cự và nhanh chóng bị giết. Phạm Thế Căng cùng cháu là Phạm Đống Cao bị bắt sống tại trận. Đặng Tất cho giải Thế Căng và cháu y về Nghệ An, bị vua Giản Định cho xử chém. Phủ Tân Bình được giải phóng. Nghĩa quân thừa thắng kéo xuống Thuận Châu (Quảng Trị ngày nay). Ngụy quan giữ Thuận Châu liệu thế không thể chống cự, liền mở cổng thành đầu hàng quân nhà Hậu Trần.

Cho đến mùa thu năm 1408, một dải giang sơn từ Nghệ An đến Hóa Châu đã được nhà Hậu Trần khôi phục lại chủ quyền. Sức người sức của trong vùng giải phóng đủ cho Giản Định đế hoàn thành công cuộc đánh đuổi giặc Minh. Quốc công Đặng Tất được giao nhiệm vụ đem lực lượng tiến ra bắc chiếm lại Đông Đô. Tình hình chuẩn bị của toàn quân ta rất khẩn trương. Khắp nơi hào kiệt thi nhau hưởng ứng, quyết cùng chung sức đánh giặc. Trong bối cảnh đó, Minh triều cố gắng tìm biện pháp đối phó lại sự lớn mạnh của phong trào giải phóng đất nước của quân dân Việt. Tháng 8.1408, hạm đội quân Minh gồm 1 vạn quân dưới trướng của Đô chỉ huy sứ Tôn Toàn từ Quảng Đông được phái sang nước ta tăng viện cho quân chiếm đóng. Nhưng bấy nhiêu quân đó không thể đủ làm nên sự khác biệt trên chiến trường. Đặng Tất cất quân bắc tiến, đánh chiếm lại được phủ Trường Yên, Phúc Thành (Ninh Bình), các quan thuộc cũ của nhà Trần, nhà Hồ và anh hùng hào kiệt không ai không theo về. Nghĩa quân tiến công đến tận Hàm Tử (thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), Bình Than (thuộc Nam Sách, Hải Dương), Thượng Hồng (thuộc Hải Dương).

Các toàn quân Hậu Trần tập kích quân Minh ở khắp nơi. Tại vùng Tam Giang (Phú Thọ, Tuyên Quang ngày nay), nghĩa quân chặn đường tải lương của quân Minh từ Vân Nam đến Đông Quan. Ngay xung quanh thành Đông Quan, đã xuất hiện những toán quân tác chiến độc lập của nhà Hậu Trần thừa cơ đánh tỉa quân Minh. Các tướng Minh gồm Lữ Nghị, Hoàng Phúc, Hoàng Trung hễ cất quân đi đánh là thua, chỉ còn cách đóng chặt cửa thành cố thủ và gởi thư về nước xin thêm viện binh: “Nghịch tặc Giản Định cùng bọn Đặng Tất tụ tập dân chúng làm loạn, xin tăng thêm binh để tiễu bình”. Một thư xin cứu viện khác thẳng thắn thừa nhận: “… thế lực của giặc [chỉ quân ta] mỗi ngày một mạnh. Quan quân nhiều lần đánh không nổi …” (Minh Thực Lục).

Minh Thành Tổ Chu Đệ vốn là một bạo chúa hiếu danh, không thể để yên cho nhà Hậu Trần phá tan “kỳ công” của hắn. Nhận được báo cáo từ bọn tướng Minh ở thành Đông Quan, Chu Đệ liền cử ngay Kiềm quốc công Mộc Thạnh đem quân sang tăng viện. Khoảng đầu tháng 9.1408, Mộc Thạnh lĩnh ấn “Chinh Di tướng quân” đem 5 vạn quân tiến sang nước ta, hội với quân Minh ở thành Đông Quan bấy giờ còn trên dưới 5 vạn tên, trong đó có 2 vạn thủy quân. Quân Minh ở thành Đông Quan cả mới lẫn cũ cộng lại có hơn 10 vạn tên, bắt đầu lên kế hoạch phản công lại quân Hậu Trần. Bên cạnh việc liên tiếp điều quân tăng viện, Chu Đệ còn dùng biện pháp ngoại giao hòng lung lạc tinh thần quân ta. Sứ giả Minh triều đem thư của Chu Đệ đến cho Giản Định để chiêu hàng. Thư viết: “Mới đây cha con giặc họ Lê [chỉ nhà Hồ gây việc soán đoạt, buông tuồng bạo lọan, độc hại người trong nước, chiếm đoạt biên cảnh, bèn mệnh xuất sư điếu phạt, bọn ác đầu sỏ bị bắt, dư đảng bị tiêu diệt, rồi thiết lập quận huyện, vỗ về thiện lương, một phương nhân dân đều được yên nghiệp.

Chỉ riêng các ngươi ương ngạnh, lập đảng chống cự triều mệnh, cướp bóc dân chúng. Quần thần xin hưng sư tiêu diệt, Trẫm nghĩ dưới lằn tên mũi đạn, sợ liên lụy đến dân vô tội mà những kẻ bất thiện như các ngươi cũng còn được cơ hội để có thể sửa đổi, nên ban sắc dụ này. Phàm cử sự cần phải hợp đạo trời, cha con giặc họ Lê tội ác đầy rẫy , trời đã phế thì không thể giữ được. Các ngươi là đám tàn dư, trái đạo, nghịch mệnh trời , thì cũng đợi để tiêu diệt mà thôi! Tuy nhiên vui được sống, ghét chết là sự thường tình của con người ta. Nếu trước đây các ngươi chưa nghĩ kỹ nên làm việc bội nghịch trái đạo, hoặc do bọn quan lại hà khắc phải liều lĩnh mưu đồ tự tồn, lòng muốn hối cải nhưng còn nghi ngờ chưa dám quyết! Phàm con người ai mà không sai, sai mà biết sửa, còn gì tốt bằng. Bọn các ngươi hãy nhân lúc này, minh định lẽ nghịch thuận, xem xét cơ duyên họa phúc, tìm yên ổn có lợi cho bản thân, bảo vệ được gia tộc, mưu đồ kế vĩnh cữu. Hãy dốc lòng thành quy phụ, sự sai lầm trong quá khứ được tha hết không hỏi đến, còn được giao chức quan, trả lại đất để cai trị, con cháu đời đời được thế tập. Lời Trẫm phát xuất từ tâm lòng, thông với trời đất; nếu các ngươi chấp mê không theo, họa sẽ đến với bản thân và gia đình, lúc đó hối cũng không kịp!” (theo Minh Thực Lục).

Chu Đệ còn xuống chiếu cho quan lại nước Minh và dân chúng trong nước ta rằng: “Còn nghĩ bọn dư chúng vốn là ngu muội, hoặc vì đói nghèo bức bách, hoặc bị kẻ mạnh bắt ép, hặc bị bọn gian dụ dỗ, việc không thể đừng, tình cũng đáng thương, nếu nhất loạt bắt tội cả, trẫm thực không nỡ. Khi chiếu thư này tới, đều tha cho cả. Quan lại ở các nha môn, quân dân thuộc đất Giao Chỉ hãy thể lòng chí nhân của trẫm phải khoan hồng thương xót, chớ làm ráo riết, chớ vơ vét của dân, hết thảy những việc không cần kíp phải ngừng bỏ cả”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).

Chu Đệ tuy nói lý lẽ nhưng vẫn khỏa lấp những lý lẽ cơ bản. Giản Định đế Trần Ngỗi là con cháu hoàng tộc Trần, nếu xét về tình về lý thì quân Minh phải trả nước cho Giản Định làm vua như lời chúng đã rêu rao khi xâm lược nước ta là “phù Trần diệt Hồ”. Nhưng bởi vốn chúng đã manh tâm lừa dối để cướp nước người, nên trước sau vẫn chỉ coi Giản Định là tàn dư “nghịch mệnh trời”. Lời lẽ của quân giặc trước sau bất nhất, mặc dù có đem lợi lộc ra dụ dỗ, đem vũ lực ra răn đe cũng khó mà khiến người ta tin mà nghe theo. Tất nhiên, vua tôi nhà Hậu Trần đã bỏ ngoài tai những lời dối trá của Chu Đệ. Quân Hậu Trần biết Mộc Thạnh kéo quân sang, đã tích cực chuẩn bị đánh những trận sống mái với giặc. Đặng Tất đặt thiên la địa võng, chờ đấu 10 vạn quân giặc Minh Đặng Tất đặt thiên la địa võng, chờ đấu 10 vạn quân giặc Minh.

Về phía quân Minh, Mộc Thạnh rất mong muốn nhanh chóng đánh bại quân ta trong một trận lớn, để chúng có thể tận dụng tối đa ưu thế về quân số, trình độ chiến đấu của một đội quân chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm. Mộc Thạnh hiểu rằng càng kéo dài thời gian, chúng sẽ càng gặp khó khăn khi mà quân Hậu Trần ngày càng nhận được nhiều sự hỗ trợ, hướng ứng của nhân dân khắp cả nước. Đó là một nguồn sức mạnh gần như không bao giờ cạn kiệt và khiến quân giặc rất sợ phải đối đầu. Bởi thế, ngay khi đến Đông Quan, Mộc Thạnh đã gấp rút chuẩn bị một cuộc tấn công tổng lực nhắm thẳng vào căn cứ địa của nhà Hậu Trần. Cho đến cuối năm 1408, nhà Hậu Trần đã xây dựng được một đội quân chính quy đông hơn 3 vạn quân với đầy đủ trang bị, đầy đủ binh chủng bộ binh, thủy binh, kỵ binh và một đội tượng binh gồm 20 thớt voi. Cùng sát cánh với lực lượng chính quy là lực lượng trợ chiến đông đảo. Tuy nghĩa quân không có số quân chính quy đông như giặc Minh nhưng bù lại, quân ta có thời sự hỗ trợ đắc lực của nhân dân các nơi.

Cụ thể, khi được lòng dân ủng hộ nghĩa là quân Hậu Trần luôn có đủ thông tin về quân Minh, trái lại quân giặc luôn mù mờ về tin tức của quân ta. Với lợi thế trong bóng tối nhìn ra ngoài sáng, quân Hậu Trần có thể thoải mái áp dụng các chiến thuật mai phục, tập kích mà không sợ lộ quân cơ. Có được lòng dân, nhà Hậu Trần có được nguồn nhân lực dồi dào để dùng vào các việc xây thành lũy, chuẩn bị chiến trường, vận lương, đóng thuyền, đúc vũ khí… Các trai tráng trong vùng giải phóng là lực lượng dự bị bổ sung vào quân đội. Song song với việc bắc tiến, nhà Hậu Trần cũng chú trọng xây dựng hậu phương, củng cố lực lượng. Cha con nhà họ Đặng đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu. Hóa Châu, Thăng Hoa vốn là đất căn bản của Đặng Tất cung cấp rất nhiều sức người, sức của. Các xưởng đúc vũ khí, chiến thuyền hoạt động nhộn nhịp. Các quan lại, hào phú không tiếc của quyên góp cho nghĩa quân.

Với tiềm lực có được và khí thế đang dâng cao, vua tôi nhà Hậu Trần không ngần ngại đối đầu với Mộc Thạnh trong một trận chiến lớn để nhanh chóng khôi phục lại chủ quyền toàn bộ đất nước. Đại bộ phận chủ lực quân Hậu Trần từ Nghệ An kéo ra đã tập kết ở phủ Kiến Bình (Nam Định) và châu Trường Yên (Ninh Bình). Quốc công Đặng Tất sau khi khảo sát hình thế các nơi, quyết định lựa chọn bến Bô Cô thuộc xã Hiếu Cổ, huyện Vọng Doanh (nay thuộc Ý Yên, Nam Định) làm địa điểm đón đánh quân Minh. Bến Bô Cô thời bấy giờ là một bến đò nhỏ hoang vắng nối hai bờ sông Lộ Bố (sông Đáy chảy qua Ninh Bình và Nam Định), là điểm tiếp giáp giữa phủ Kiến Bình và châu Trường Yên, lại nằm trên trục đường Thiên lý, vốn là con đường nối liền đất nước từ bắc vào nam.

Đây là địa điểm mà gần như chắc chắn quân Minh phải đi qua để tiến quân xuống phía nam, dù cho đi bằng đường bộ hay đường thủy. Xung quanh bến Bô Cô là một vùng đầm lầy hoang vắng với lau sậy mọc um tùm, cùng với hệ thống các con kênh lạc nhỏ dày đặc. Địa hình nơi đây đặc biệt thuận lợi cho việc đặt phục binh quy mô lớn. Quốc công Đặng Tất sau khi khảo sát hình thế các nơi, quyết định lựa chọn bến Bô Cô thuộc huyện Vọng Doanh làm địa điểm đón đánh quân Minh Tại khu vực bến Bô Cô, Đặng Tất đã cho điều động quân dân dựng lên một công trình phòng thủ quy mô. Cọc nhọn được cắm dưới lòng sông để làm chướng ngại vật ngăn cản thủy quân giặc. Dọc hai bên bờ đều có chiến lũy kiên cố. Dưới sông có lực lượng thủy quân dưới quyền chỉ huy của Trấn quốc tướng quân Đặng Dung chốt giữ. Thủy quân nhà Hậu Trần không dùng các chiến thuyền lớn mà dùng các loại thuyền nhỏ có sức cơ động cao, thích hợp với lối đánh mai phục.

Sau khi bố trí các trận địa, Đặng Tất cho người vào Nghệ An đón vua Giản Định đến đại doanh đặt tại Phúc Thành. Nửa cuối tháng 12.1408, 10 vạn quân Minh chia hai đường thủy bộ rầm rộ nhằm vào hướng châu Trường Yên mà tiến. Bộ binh quân Minh gồm 8 vạn đi dọc theo đường Thiên Lý. Thủy quân giặc gồm 2 vạn tên xuôi dòng sông Cái (sông Hồng), sông Châu Giang để vào sông Lộ Bố. Mộc Thạnh rất tự tin và nóng lòng tiêu diệt toàn quân ta trong một trận. Ngày 29/12/1408, tiền quân của giặc đã tiến đến gần Bô Cô. Phát hiện ra chiến tuyến kiên cố của quân ta, quân Minh bắt đầu dựng trại tập kết. Quân Minh chia làm ba thê đội. Tiền quân dưới quyền Đô đốc thiêm sự Lữ Nghị, trung quân do chính Kiềm quốc công Mộc Thạnh điều động, hậu quân thuộc quyền chỉ huy của Binh bộ Thượng thư Lưu Tuấn. Ngoài ra, quân Minh còn có các tướng lĩnh chủ chốt khác là Tham chính Lưu Dục, Đô chỉ huy sứ Liễu Tông…

Chín phần mười binh lực của nước Minh ở Đại Việt (chưa kể ngụy binh) đã đổ dồn vào trận, cho thấy quyết tâm cao độ của tướng lĩnh quân Minh trong việc tiêu diệt nhà Hậu Trần. Với binh lực mạnh trong tay, Mộc Thạnh cùng các tướng lĩnh quân Minh dự định sẽ nhanh chóng dùng sức mạnh kỵ bộ đánh thủng các chiến lũy của quân Hậu Trần ở bờ bắc, rồi cùng với cánh thủy quân phối hợp vượt sông đánh thẳng vào Phúc Thành, bắt giết vua Giản Định. Tuy nhiên, Quốc công Đặng Tất đã chuẩn bị những đòn không ngờ tới dành cho quân giặc. Mặc dù quân Minh hành quân rất quy củ, luôn có du binh do thám kỹ càng để tránh việc bị mai phục nhưng đã không lường trước được toan tính của quân ta. Đặng Tất đã tận dụng lợi thế địa hình lau sậy mọc um tùm, không đặt phục binh ven đường mà cho quân mai phục đóng cách xa con đường, đủ để vượt ngoài tầm do thám của quân Minh. Quân mai phục cùng với quân đóng ở chiến lũy làm thành một trận địa lợi hại như một cái bẫy lớn chờ quân giặc chui vào để tiêu diệt. Đặng Tất tướng quân: người anh hùng lỡ vận của thời loạn thế Ở dưới sông, thủy quân ta cũng dựa vào bãi cọc và hệ thống kênh rạch nhỏ mà đặt mai phục sẵn sàng chặn thủy quân giặc, không cho chúng phối hợp với bộ binh.

Đặng Tất cùng bộ chỉ huy nghĩa quân đóng trên núi Dục Thúy, một ngọn núi cao trong vùng để quan sát trận địa. Xét về mức độ tinh nhuệ, quân ta lúc này vẫn thua kém quân Minh. Nhưng toàn quân trên dưới đều một lòng xả thân giết giặc. Tinh thần đó hoàn toàn khác hẳn với sự bạc nhược của quân đội Đại Ngu của nhà Hồ. Chính tinh thần quyết tử đã làm nên một sức mạnh phi thường mà quân Minh sẽ phải đối đầu. Bài hay : Đại chiến Thị Nại: một nước cờ thay đổi cục diện thiên hạ Cha con Đặng Tất, Đặng Dung tiêu diệt 10 vạn quân Minh Tướng lĩnh quân Minh đổ rất nhiều tâm huyết vào trận Bô Cô với hy vọng nhanh chóng dập tắt phong trào khởi nghĩa của quân dân Đại Việt. Sau những bước chuẩn bị, hừng sáng ngày 14 tháng Chạp năm Mậu Tý (30.12.1408), quân Minh bắt đầu tấn công vào trận địa quân Hậu Trần. Ở trên bộ, Đô ty Lữ Nghị chỉ huy tiền quân bắn hỏa pháo rồi thúc bộ binh ào lên bắt thang mây tấn công chiến lũy. Do có thời gian chuẩn bị khá dài nên chiến lũy của quân Hậu Trần đã vững, đủ để chịu đựng những loạt pháo của địch. Khi bộ binh giặc tràn đến cận chiến, quân Hậu Trần bình tĩnh dựa vào chiến lũy cố thủ.

Gần như đồng thời với cuộc tấn công trên bộ, các chiến thuyền của quân Minh cũng từ sông Châu Giang tiến vào sông Lộ Bố đánh phối hợp với cánh bộ binh. Quân Minh liệu rằng khi bộ binh phá xong chiến lũy ở bờ bắc thì thủy quân cũng làm chủ được khúc sông, bộ binh giặc sẽ lên thuyền vượt sông để dứt điểm quân Hậu Trần ở bờ nam. Trước sức tấn công của thủy quân nước Minh, thủy quân Hậu Trần dưới sự chỉ huy của Đặng Dung cũng xuất quân nghênh địch, ngăn chặn từ xa không cho thủy quân giặc tiếp cận trận địa chính của quân ta ở Bô Cô. Mọi chuyện diễn ra theo như dự tính của Đặng Tất, thủy quân ta cầm cự đợi cho thủy triều lên che đi bãi cọc ngầm đã cắm ở gần Bô Cô.

Chiến sự dằn co kéo dài hàng giờ liền. Trung quân của Mộc Thạnh dần kéo đến nối sau đội tiền quân của Lữ Nghị nhưng không thể phối hợp dàn trận do đường hẹp không đủ không gian cho số quân Minh đông đúc. Đội hình quân Minh vì vậy mà bị dồn ứa lại dọc theo đường đi. Đặng Tất quan sát tình hình, phất cờ mật lệnh ra dấu hiệu cho lực lượng mai phục ở hai bên đường Thiên lý lặng lẽ di chuyển áp sát đội hình quân Minh. Trong lúc đó, các lực lượng đóng ở chiến lũy bờ bắc bến Bô Cô vẫn kiên cường chống trả quân địch công phá lũy. Quân Minh lăn xả tấn công, tử trận rất nhiều nhưng vẫn không thể qua được chiến lũy quân Hậu Trần. Kỵ binh giặc tinh nhuệ cũng không thể thi thố trước chiến lũy của quân ta. Khi đó quân mai phục đã tiếp cận đến gần ven đường, nơi mà số đông quân Minh đang đứng chôn chân chờ đợi tiền quân hoàn thành nhiệm vụ. Đặng Tất ở trên cao quan sát, cho bắn pháo phất cờ phát lệnh tổng công kích. Từ trong những hàng lau sậy hai bên đường, hàng vạn quân mai phục của nhà Hậu Trần hò reo xông vào đánh tạt sườn quân Minh, ai nấy đều mang khí thế hùng hồn, giáp chiến dữ dội với quân Minh. Mộc Thạnh bị bất ngờ hoàn toàn.

Trận Bô Cô - Cha con Đặng Tất, Đặng Dung tiêu diệt 10 vạn quân Minh

Dù có số quân đông hơn và tinh nhuệ hơn, đòn tấn công thình lình khiến quân Minh không kịp dàn trận đối phó. Mọi sự phản kháng của địch đều rời rạc trước sức tấn công như bão táp của quân ta. Quân Minh chết như rạ, từng tên một bị hạ trước mũi giáo của quân Hậu Trần mà không thể phối hợp với nhau. Các tướng Minh ra sức quát tháo chỉnh đốn hàng ngũ, nhưng âm thanh chiến trường lúc này bị khỏa lấp bị tiếng hò reo vang trời của quân ta. Đội hình địch đứt đoạn, bị xé nát thành từng cụm, không thể liên lạc với nhau và bị quân Hậu Trần lăn xả chém giết. Các chiến binh Việt vốn ít hơn, đã đặt mình vào thế không còn đường lùi và ra sức tử chiến với giặc với một quyết tâm không gì cản nổi. Bấy giờ đã vào buổi trưa, thủy triều đã lên cao che khuất bãi cọc ngầm. Thủy quân Hậu Trần ở dưới sông cũng theo kế hoạch giả vờ thua và rút lui.

Thủy quân Minh hăm hở đuổi theo sau. Đoàn thuyền giặc to lớn tưởng chừng có thể phá được thủy trận của quân ta, tiến nhanh vào bãi cọc ngầm chờ sẵn. Thuyền của quân Hậu Trần là loại thuyền nhẹ, dễ dàng lướt qua bãi cọc. Thuyền quân Minh theo sau, vì to lớn, đáy chìm sâu dưới nước nên vướng cọc hàng loạt, nối đuôi nhau chìm đắm. Đoàn thuyền quân Hậu Trần đang rút lui thừa cơ đánh ập lại. Cùng lúc đó pháo lệnh phát ra, các đội thuyền nhỏ mai phục trong các kênh rạch, các đám lau sậy ven sông nhất tề đổ ra vây kín hạm đội quân Minh. Thuyền giặc lớp bị cọc đâm chìm, lớp va vào nhau, lớp khác bị thủy quân ta tiêu diệt.

Chẳng mấy chốc đa số thuyền giặc đã bị loạt khỏi vòng chiến với thương vong lớn. Số thủy quân còn lại của giặc Minh hốt hoảng toan quay đầu chạy nhưng đã quá muộn. Cán cân lực lượng nhanh chóng nghiêng hoàn toàn về phía quân ta. Các chiến thuyền nhỏ của quân Hậu Trần xiết vòng vây, lần lượt tiêu diệt gần như toàn bộ 2 vạn thủy quân nước Minh. Đến chiều, chiến sự trên bộ vẫn diễn ra đẫm máu. Trung quân và tiền quân giặc Minh đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Đang lúc đó thì hậu quân Minh dưới trướng của Lưu Tuấn tiến đến cứu viện, cố gắng giải nguy và lật ngược thế trận. Có quân tiếp viện, số quân tướng Minh bị trúng mai phục từ trước định thần lại cố gắng phản kích quân Hậu Trần. Quân ta quần nhau với giặc hồi lâu, cơ hồ cũng đã mỏi mệt nên hơi núng thế. Lúc này Đặng Tất mới ra đòn kết thúc.

Quân từ chiến lũy mở cửa xông ra đánh trực diện vào giặc. Các lực lượng dự bị của quân Hậu Trần từ bờ nam đồng loạt phất cờ gióng trống dùng thuyền nhỏ vượt sông tiếp ứng với bờ bắc. Vua Giản Định từ trên núi cao thẳng tay đánh trống thúc quân. Được sự cổ vũ to lớn của nhà vua, các cánh quân ta dẫu mệt mỏi cũng phấn chấn tinh thần mà cố sức đánh mạnh. Nắng chiều tắt dần, quân Minh dù có tiếp viện cũng không chống nổi khí thế quân Hậu Trần. Cầm cự được một hồi thì quân Minh vỡ trận hoàn toàn, quân tướng nối nhau bỏ chạy. Quân Hậu Trần quyết truy kích đến cùng, giết gần hết giặc. Chỉ có Mộc Thạnh lợi dụng trời nhá nhem tối cùng đám thân binh dẫm bừa lên xác đồng đội cố chết phá vòng vây chạy thoát được về thành Cổ Lộng, tòa thành cũ ở gần Bô Cô.

Kết thúc trận đánh, cả thảy gần 10 vạn quân Minh bỏ thây trong trận chiến. Các tướng Minh gồm Thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, Tham chính Lưu Dục, Đô chỉ huy Liễu Tông… cùng với hàng loạt tướng lĩnh chủ chốt khác đều bị giết tại trận. Về phía quân Hậu Trần dù thắng trận cũng tổn thất hơn vạn quân. Trận Bô Cô là một trong những chiến thắng hào hùng của dân tộc Việt Nam, cũng là một trong những trận chiến đẫm máu bậc nhất. Chưa trong chưa đầy một ngày, 10 vạn quân giặc cả quân cũ lẫn quân mới bị đánh tan tác không còn manh giáp. Không ít trong số này đã gây nhiều tội ác trên đất nước ta trong quá trình xâm lược và đô hộ. Nói về thuật dùng binh, Đặng Tất đã áp dụng tư tưởng tử chiến đến cùng với quân giặc. Đây là điều mà binh pháp đời trước rất thận trọng khi dùng. Để thắng được quân địch đông mạnh, quân Hậu Trần đã chẳng tiếc thân mình trong chiến đấu và cũng chịu đựng những mất mát lớn. Sau đại thắng bến Bô Cô, vận mệnh của dân tộc lại trở nên sáng sủa. Giản Định đế và nhà Hậu Trần đứng trước thời cơ lớn để hoàn thành nghiệp trung hưng nước Đại Việt.

Cuộc săn chưa kể thúc, Giản Định Đế lại bẻ gãy cung tên Chiến thắng Bô Cô mở ra một cơ hội lớn cho vua tôi nhà Hậu Trần khôi phục hoàn toàn chủ quyền đất nước. Sau trận này, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã có thay đổi rất lớn. Số quân thiệt mạng tại Bô Cô chiếm gần chín phần mười lực lượng quân Minh trên đất nước ta. Quân Minh chỉ còn lại không quá một vạn tên, cố thủ ở thành Đông Quan. Tại các thành trì khác trên lãnh thổ Đại Việt, Minh triều chỉ còn trông cậy vào lực lượng ngụy binh. Vốn đã có tinh thần chiến đấu yếu kém, ngụy binh các thành lại càng hoang mang tột độ sau khi quân chủ lực nước Minh đại bại ở Bô Cô. Trong khi đó, quân Hậu Trần dù cũng chịu tổn thất nặng ở trận Bô Cô những lần đầu tiên đã có quân số đông vượt trội so với chủ lực quân Minh tại Đại Việt. Sĩ khí của toàn quân cũng dâng cao, nhân dân các nơi cũng nô nức chờ đợi đoàn quân của Giản Định đến để hưởng ứng. Thế nhưng trước những điều kiện thuận lợi như vậy, nội bộ nhà Hậu Trần lại xảy ra bất đồng. Sau trận đại chiến, vua Giản Định và Quốc công Đặng Tất đã có chủ trương khác nhau về chiến lược. Giản Định mong muốn thừa thế thắng xông lên, nhanh chóng giải phóng đất nước.

Vua bàn với các tướng: “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch, như sét đánh không kịp bịt tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc chắn phá được chúng”. Trái với nhận định của vua Giản Định, Đặng Tất lại cho rằng nên triệt để đánh dẹp các thành trì khác trước khi đánh chiếm Đông Quan. Ông tâu rằng: “Hãy bắt hết bọn giặc còn sống sót, không nên để mối lo về sau”. Đặng Tất nói đến “mối lo về sau” là nguy cơ quân Minh sẽ điều quân tiếp viện. Trương Phụ với hàng vạn quân Minh vẫn luôn sẵn sàng vượt biên giới tiến sang. Nếu khi đó ở trong nước vẫn còn nhiều thành trì chưa bị hạ, thì quân ta dù có chiếm được Đông Quan sẽ rơi vào thế bị bao vây. Vả lại quân ta vừa hao tổn ở Bô Cô không ít, quân lính bên cạnh nhà vua chủ yếu là quân Thanh Nghệ, còn quân ở các nơi khác chưa kịp tập họp. Tại vùng kinh lộ (đồng bằng sông Hồng), đa số nhân dân vẫn còn bị giặc kìm tỏa chưa thể hưởng ứng theo quân ngay được. Còn lương thực theo quân cũng chưa tập họp được đủ dùng trong thời gian dài.

Mâu thuẫn giữa hai chiến lược của vua Giản Định và Đặng Tất chính là giữa chớp thời cơ đánh nhanh thắng nhanh hay đánh chắc từng bước một. Vua tôi tranh luận hồi lâu chưa quyết được vì mỗi bên đều có lý của mình. Quân Minh ở Đông Quan tranh thủ thời gian đến thành Cổ Lộng đón được Mộc Thạnh về. Lúc này tuy uy quyền của vua Giản Định là tối cao, nhưng Đặng Tất cầm quân đã lâu, kinh nghiệm có thừa. Bởi vậy mà lời của Đặng Tất được quân tướng rất tin tưởng. Rốt cuộc Giản Định đành theo lời của Đặng Tất. Quân Hậu Trần chia quân vây các thành trì còn lại của quân Minh tại các châu, phủ. Đặng Tất gởi hịch cho các lộ khắp cả nước, kêu gọi cùng góp quân đánh thành. Hào kiệt khắp nơi rủ nhau kéo đến cửa quân góp sức. Ngụy quân các thành khiếp vía, thấy bóng quân Hậu Trần kéo đến là nhanh chóng bỏ chạy hoặc quy hàng.Khí thế của quân ta vô cùng mạnh mẽ, tưởng như việc đánh đuổi giặc Minh chỉ còn là vấn đề thời gian.

Đặng Tất lúc này là linh hồn của cuộc khởi nghĩa. Có thể nói, ngay từ đầu chính ông là người góp công lao nhiều nhất cho tất cả các khâu từ xây dựng hậu cần lực lượng đến điều quân đánh trận. Bên cạnh Đặng Tất còn có Nguyễn Cảnh Chân là người dự trù kế sách trong quân, xếp đặt các việc nội bộ, đóng góp tuy thầm lặng nhưng cũng rất quan trọng. Hai người một là đại tướng, một là mưu thần hàng đầu. Tuy nhiên, cũng vì thế mà ánh hào quang của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đã làm lu mờ vị vua của họ. Điều đó đã trở thành tai họa cho vị Quốc công nhà Hậu Trần cũng như toàn bộ phong trào khởi nghĩa. Vua Giản Định dù theo chủ trương của Đặng Tất thực hiện tiễu trừ quân giặc ở các thành trì nhỏ trước khi tiến đánh Đông Quan, nhưng trong lòng nhà vua đã sinh lòng đối kỵ. Trong lúc đó, bọn nịnh thần bên cạnh vua Giản Định đã buông lời sàm tấu. Hoạn giả Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang là hai kẻ hầu cận vua Giản Định vì ghen ghét đã tâu kín với vua rằng: “Tất và Cảnh Chân chuyên quyền bổ dụng người này, cất chức người khác, nếu không liệu tính sớm đi, sau này khó lòng mà chế phục được”. (theo sách Cương Mục).

Lẽ thường thời bình, quan tướng trong triều đình muốn cất nhắc người nào đều phải tâu lên vua để phong chức tước. Nhưng bấy giờ là thời loạn lạc, việc quân rất gấp. Quốc công Đặng Tất cùng Đồng tri khu mật viện Nguyễn Cảnh Chân mới phải dùng biện pháp thời loạn để có thể chống được giặc mạnh. Đó là do việc quân cần phải như thế. Hai ông không ngờ được rằng điều đó đã trở thành cái cớ cho bọn tiểu nhân đâm sau lưng mình. Vua Giản Định u tối và đố kỵ, đã tin theo lời tâu của bọn hầu cận. Giản Định lập mưu giết hại công thần, điều quân hộ vệ đem chiến thuyền đến đóng trên sông Hoàng Giang, rồi gởi chiếu thư triệu Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân tới. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân chẳng chút nghi ngại, cùng đến thuyền ngự của vua để hầu kế sách. Hai ông không ngờ rằng vị vua mà mình hết lòng phò tá lại nhẫn tâm ám hại mình. Tất và Cảnh Chân lên thuyền, Giản Định ra hiệu cho lực sĩ vây giết. Đặng Tất bị lực sĩ bóp cổ chết. Nguyễn Cảnh Chân cố chạy thoát lên bờ, lực sĩ đuổi theo kịp chém chết. Bấy giờ là vào khoảng tháng 3/1409, vua Giản Định vì tin lời kẻ xu nịnh mà tự tay đống đi hai cây cột chống trời của nhà Hậu Trần. Các sử gia hầu hết lên án rất kịch liệt sự u tối và độc ác này của Giản Định, và thanh danh cả đời của vị vua này cũng tiêu tan theo hành động này.

Ngô Thì Sĩ trong sách Việt Sử Tiêu Án đã có lời cảm thán, đồng thời phân tích cơ mưu tài tình của Đặng Tất mà vua Giản Định đã không bì kịp lại sinh lòng ghen ghét công thần: “Bô Cô ở sông Thanh Quyết, theo thủy triều, đi thuyền 3 trống canh có thể đến Lạc Tràng, đi thẳng lên Đông Đô không đến một ngày, thừa trận được to ấy, mà không tán thành lời quyết định của vua Giản Định, ai chả tiếc là thất cơ[tức bỏ lỡ cơ hội]. Nhưng mà Tất đã vất vả ở Bố Chính, bị Trương Phụ đuổi ở phía sau, Thế Căng ngăn ở mặt trước, mà phá được Thế Căng, lấy lại Tân Bình, mới điều động được quân ở các trấn Thuận, Quảng, Hoan, Ái, để có quân tiến đánh Đông Đô, lặn lội hàng tuần đến được Bô Cô. May mà bẻ gãy được gươm giáo của quân Điền [chỉ quân Minh vùng Giang Nam] và Kiềm [chỉ Mộc Thạnh, tước Kiềm Quốc công], trương thanh thế quân Thanh Nghệ, còn một bước nữa thì đến Thăng Long, còn xa gì nữa mà phải dùng dằng không tiến. Tất đã trù tính kỹ lắm rồi, Mộc Thạnh mới sang, xa xôi nghìn dặm, quân bị đói khát mỏi mệt, thoát chết ở Bô Cô là may lắm. Còn Trương Phụ là tay cáo già, như con hổ ngồi nhìn Đông Đô. Bây giờ toán quân cô độc của ta xa xôi kéo đến, chưa dễ thủ thắng. Vạn nhất trước mặt, sau lưng đều có quân địch, ta không có quân, lương cứu viện, có phải là dẫn thân đến chỗ chết không? Cho nên thà nghỉ ngơi để mà điều độ, mới là kế vạn toàn. Tất cũng là trí tướng đấy chứ. Nếu được dùng hết mưu đồ của ông thì người Minh cũng phải có phen khốn đốn, quyết không dám bảo nước ta không có người.

Tiếc thay! Vua Giản Định tự phá hủy bức trường thành của mình đó !”

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên cũng gay gắt không kém, và ngụ ý chỉ trích sự vong ân của Giản Định: “Vua may thoát khỏi vòng vây hãm nguy hiểm, cầu người cứu giúp nạn nước. Được cha con Đặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi tài mưu lược, đủ để lập được công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng. Với trận thắng Bô Cô, thế nước lại nổi. Thế mà nghe lời gièm pha ly gián của bọn hoạn quan, một lúc giết hại hai người bề tôi phò tá mình, thì làm sao nên việc được! Cho nên đức của người làm vua quý ở chỗ cương quyết, sáng suốt. Cương quyết thì có thể xử đoán được, sáng suốt thì có thể xét rõ được.

Ôi! nếu lúc đó vua gọi hai đại thần đến, dẫn hai đứa ấy kể rõ tội gièm pha vu hãm hại đại thần rồi chém ngay chúng đi thì uy lệnh được thi hành và bọn Tất dũng cảm càng tăng, cảm kích càng sâu, giả sử có manh tâm chuyên quyền chả lẽ không sợ uy mà phải tự bỏ, sợ gì khó kiềm chế nữa. Đã không làm được như thế thì chỉ có long đong rồi đến chết chìm mà thôi!”

Đó là hai nhận xét điển hình, sâu sắc bậc nhất trong sử sách dành cho việc giết hại đại tướng giữa lúc cao trào chiến sự của vua Giản Định. Còn những lời chê trách vị vua này thực không thể nào kể hết ra được. Cái chết của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là một trong những án oan khuất nổi tiếng nhất trong sử Việt. Nhưng sự nghiệp và tên tuổi của hai ông mãi mãi được muôn dân tưởng nhớ đến với lòng biết ơn và ngưỡng mộ. Sau sự việc này, phong trào khởi nghĩa của nhà Hậu Trần xảy ra những chuyển biến lớn.

Tháng 3.1409, nhà Hậu Trần theo đang trên đà thắng lợi thì Giản Định lại nhẫn tâm giết đi hai vị đại tướng của mình là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Tin ấy truyền ra, ba quân nhiều người thương tiếc không cầm được nước mắt. Lòng quân lung lay đến cực độ. Các chiến binh dưới trướng Giản Định bị giằng xé giữa một bên là tình cảm dành cho hai vị chỉ huy đã nhiều phen cùng họ vào sinh ra tử, dẫn dắt họ qua gian nguy với một bên là luân lý phải trung thành với nhà vua trong hệ tư tưởng phong kiến đương thời. Đó là nói chung tất cả quân đội Hậu Trần, còn riêng những tướng sĩ cũ từng ở dưới trướng Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân trước khi hai ông đem quân đón rước vua Giản Định thì hầu hết đều cực kỳ phẫn nộ. Các tướng sĩ Hóa Châu, Thuận Châu, Nghệ An đã từng cùng Đặng Tất nuốt nhục theo về quân Minh để chờ thời cơ, rồi cùng chiến đấu với ông gây dựng những nền tảng vững chắc cho phong trào khởi nghĩa.

Hơn ai hết họ hiểu rõ vua Giản Định có thể đã sớm bỏ thây dưới lưỡi gươm của quân Minh nếu như không có công lao phò tá của Đặng Tất, cũng như khó mà có được thành tựu phi thường nếu không có tài thao lược của Nguyễn Cảnh Chân. Với sự bất mãn và phẫn nộ tột cùng, Đặng gia tướng với hàng loạt tướng lĩnh tài ba đứng đầu là Đặng Dung, con trai trưởng của Đặng Tất cùng các tướng Đặng Chủng, Đặng Thát, Đặng Liên, Đăng A Thiết đã bàn với Nguyễn Cảnh Dị, người con trai của Nguyễn Cảnh Chân đem quân bản bộ các xứ Hóa Châu, Thuận Châu, Nghệ An… rời bỏ vua Giản Định rút về Nghệ An, tìm một tôn thất khác của họ Trần để lập làm vua, tiếp tục giương cao ngọn cờ khởi nghĩa chống Minh.

Thực ra với quân lực của hai họ Đặng và họ Nguyễn hợp lại, họ hoàn toàn có thể làm binh biến giết chết vua Giản Định để báo thù. Nhưng họ đã không làm vậy vì để tránh tội giết vua, bảo tồn tính chính danh cho cuộc kháng chiến. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị rút quân, nhiều binh sĩ thuộc quyền các tướng khác, các binh lính mới tuyển cũng rút theo, một số khác bất mãn rời đội ngũ. Số quân còn lại dưới trướng Giản Định trở nên cực kỳ yếu ớt, hầu như không còn tinh thần chiến đấu. Sự nghiệp của Giản Định có lúc đã tiến rất gần tới vinh quang tột đỉnh, chỉ vì nghe theo lời nịnh, đi một bước sai lầm mà tiêu tan tất cả, thanh danh cũng bị hủy đi trong phút chốc.

Tác giả Quốc Huy.

Bài viết do VSGT tổng hợp từ series bài viết lịch sử của Motthegioi.vn

Donate Box
Donate

Donate cho tác giả

© Bản quyền 2021, VIET HISTORY