LONG SINH CỬU TỬ : (HỒI 1) ĐÀO HOA

LONG SINH CỬU TỬ :  (HỒI 1) ĐÀO HOA
DocumentObject.png

Xin quyền tác giả

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Enim integer varius faucibus tellus.

Gửi yêu cầu

LONG SINH CỬU TỬ : (HỒI 1) ĐÀO HOA

Lời giới thiệu từ Việt Sử Giai Thoại:

Đây là hồi 2 trong tiểu thuyết chương hồi Long Sinh Cửu Tử của tác giả Phát Nguyễn, lấy cảm hứng từ Lịch sử.

Xin lưu ý, tiểu thuyết này không thuộc các thể loại chính sử hay dã sử.

Mời mọi người cùng theo dõi.

Dãy Thiên Nhẫn trùng điệp, phía xa là những người tiều phu hát mấy câu vè thời cuộc. “Thời đại đảo điên, nhân tâm điên đảo, là ta điên hay thế gian ngu muội?” - Kẻ duy nhất cùng ta điên cuồng thực hiện giấc mộng ngày đó cũng đã không còn rồi. .. “

Đã trót leo đèo, phải xuống đèo Tay không mình tưởng đã cheo leo Thương thay! Thiên hạ người gồng gánh Tháng lụm, ngày thâu, chỉ những trèo” Ánh mắt của lão già nhìn thẳng về phía xa nơi dãy Thiên Nhẫn, chợt nghe: “Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai Lạc hoa vô số há thương đài Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tửu hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi?” - Lão phu tử nhọc tâm cả đời rồi, cùng Du cạn chén rượu, nên chăng? Lão quay người tìm về hướng kẻ vừa ngâm bài thơ. Kẻ trước mặt mày thanh mắt tú, nước da như bạch ngọc. Dường như hơn nửa thập kỉ phiêu bạt chẳng khiến nét phong lưu văn nhã của hắn tổn hại chút nào. Có chăng cũng chỉ là hàng ria trên mép hắn lúc này nhếch lên thành một nụ cười không còn vô tư nữa rồi, mặc cho cố che giấu vẫn phớt nét ưu tư, cái ưu tư của kẻ sĩ thời loạn thế.

- Mấy năm không gặp, Tố Như khiến Thiếp ta phải nhìn bằng con mắt khác.

- Mấy năm không gặp, Phu tử vẫn khiến ta nhìn bằng đôi mắt kính ngưỡng. 

- Hà hà, thất thập cổ lai hi cũng chỉ là lão già bất đắc chí, có gì để Tố Như kính ngưỡng chứ? - Phu tử cười gằn.

- Chí bất đắc bởi do chí cả. Người có đại chí há chẳng đáng kính ngưỡng hay sao?

- Nguyễn Du đỡ lão Phu tử từ từ ngồi xuống ghế. Du lấy trong tay nải ra một bầu rượu , chầm chậm rót ra hai chén nhỏ. Từ ve vòi giơ cao, dòng rượu chảy xuống từng dòng nhỏ vào chén róc rách khe khẽ bên tai tựa hồ một dòng suối chảy từ đỉnh Thiên Nhẫn. Nhìn theo bàn tay Du rót chén rượu, Phu tử dõng dạc ngâm nga: “Thượng tiểu, hạ đa. Tích thuỷ, phi thuỷ. Thọ thai, bất thọ thai” - Chén Bầu đá này Phu tử lúc trước chắc là uống cũng không ít.

- Du nhoẻn miệng cười Nguyễn Thiếp mắt nhìn chén rượu trong tay vẫn còn đang sủi bọt tăm. 

- Bọt tăm li ti trong chén rượu khác gì con người đứng giữa đạo trời, có đông cách mấy, có sủi cách mấy cũng không thoát ra khỏi cái miệng chén - Lão lặng nhìn ra ao cá trước nhà - Như cá thì luôn phải gặp nước.

- Ánh mắt Du hướng theo Lão - Cá không làm được, côn (1) thì được, Lão phu tử cũng nào phải là cá chứ – Du cười ẩn ý. Nói đoạn, Du nâng ly hướng về phía Nguyễn Thiếp uống cạn. Lão phu tử nghe lời Du nói cũng đành nở một nụ cười nâng ly lên uống đánh ực – cười gằn.

Chén rượu cả hai vừa cạn, đặt lên bàn, Thiếp quay sang Du:

- Tố Như lần này tới… Chưa dứt lời, bàn tay của Nguyễn Du đã đưa tới trước mặt ông ra hiệu im lặng, chỉ nghe xung quanh bốn phía hình như có tiếng bước chân dồn dập bao quanh tựa hồ đang lọt thỏm giữa vòng vây kẻ địch. Tiếng bước chân bỗng im bặt, không gian lại phẳng lặng, cảm giác chỉ một cử động nhỏ thì lô hoả mai ngoài kia sẽ biến hai gã thư sinh ngồi trong này ngay lập tức trở thành hai cái bị thịt bấy nhầy bụng chứa đầy văn chương - như mặt hồ vậy, phẳng lặng đến mức chiếc lá rơi hay một cơn gió cũng làm lũ cá hoảng sợ.

- Có lẽ đã bày xong trận – Du thầm nghĩ, mỉm cười lên tiếng tay phe phẩy chiếc quạt – Hôm nay Du tới thăm Phu tử, không gì hơn muốn tìm một chốn thanh tịnh nhấp chén rượu nồng, quân gia lặn lội đến chốn này, có điều chi dạy bảo? Mấy lời vừa nói tuy nhẹ nhàng nhưng thanh âm vang vọng, nghe qua đã biết không tầm thường. Lại một quãng im lặng sau câu hỏi. Lặng đến mức tiếng gió thổi u u luồn vào những trang sách nghe xào xạc mà cứ ngỡ tiếng đao kiếm chạm nhau.

Một lúc sau – bằng thời gian thưởng hết một tách trà, từ bên ngoài cũng vọng lại một tiếng nói:

- Vâng lệnh Bùi Thái Sư, mời Tố Như tiên sinh tới phủ đàm đạo. Nguyễn Du có chút khựng nhung rồi chợt mỉm cười.

- Du mặc dù có mấy năm nương náu chốn quan trường nhưng từ sau việc làm của Chiêu Thống Hoàng Đế, phận làm bề tôi cũng cảm thấy hổ thẹn, mà lòng thì cũng đã nguội lạnh từ lâu. Vả lại, Du và Thái Sư đương triều trước nay dù có nghe danh nhưng cũng là chưa từng có qua lại. Lời mời của Thái Sư hơi đường đột rồi. Nguyễn Du vừa dứt lời thì tiếng nói kia lại vọng tới.

- Thái sư nói họ Nguyễn Tiên Điền đời đời công thần, Tố Như tiên sinh lại càng là cẩn du (2) trong đám ngọc quý. Tuy chưa từng gặp mặt nhưng đã ngưỡng mộ từ lâu, vẫn mong một ngày được hạnh ngộ. Nguyễn Du nghe xong, khoé môi thanh tú lại nhoẻn một nụ cười – nhấp một ngụm rượu.

- Du từ lâu đã chán ghét chốn lao xao, chỉ muốn ngu dại sống cuộc đời an nhàn nơi vắng vẻ. Hôm nay đến tìm Phu tử cũng vì nặng tình cố nhân. Mời ngài trở về bẩm Thái Sư, thứ cho Du không thể tuân mệnh.

- Tố Như tiên sinh đã nói như thế, chỉ đành xin phép thất lễ - giọng nói kia lập tức đáp trả. Quả thật họ Nguyễn ở Tiên Điền xưa nay vốn là danh gia vọng tộc, nếu có giao du thì cũng là Thái Sư của Lê Triều. “Bao giờ Ngàn Hống hết cày Sông Rum hết nước họ này hết quan” Nhà hắn trước nay vẫn có tiếng là đời đời trung thần của họ Lê. Nguyễn Nghiễm cha hắn cũng làm đến chức Tể tướng Lê Triều, từng Nam chinh đánh nhau với Tây Sơn. Đó là còn chưa nói tới việc nhà tổ ở Tiên Điền của hắn bị Tây Sơn phá nát sau khi Nguyễn Quýnh nổi dậy chống Tây Sơn thất bại. Thật ra cũng không phải vì vậy mà hận thù đến mức không thể giải được.

- “ Anh em nhà ta thì xoè cả hai bàn tay cũng đếm không hết” - vả lại còn là khác mẹ. Có chăng cũng là chia sẻ chung một cái chí của gia tộc Nguyễn Thị Tiên Điền, cái chí của sĩ phu Nho gia Bắc Hà mà không ưa gì việc chiếm ngôi của hai anh em họ Hồ. Mặc dù vậy, người học trò tâm đắc của cha hắn, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, mặc dù tuổi tác chênh lệch, lại cùng với hắn thật là tâm đầu ý hợp.

Tiếc rằng, tri âm tri kỉ của hắn lại ra giúp sức cho bọn giặc cỏ vốn là kẻ thù của giới tôn gia sĩ tộc. – Ta vì cảm cái ân tri ngộ của hắn mà cực chẳng đã mới phải xuất sơn một chuyến, cam tâm làm kẻ điên dưới con mắt của bọn sĩ phu. Hà hà, có điều ta không ngại, chín người mười ý. Thiên hạ đại loạn, cái gốc là do đâu chứ? Tố Như, ngươi nói xem nào? Gương mặt tuấn tú khẽ chau mày rồi trả lời - Không phải cũng là do lòng người hay sao?

Nguyễn Thiếp lại nhìn ra phía cây tùng đầu ngõ, chỉ nghe “Đoàng” một tiếng, bên ngoài sấm chớp lại giật liên hồi, bàu trời lại vần vũ những đám mây đen. Những lúc thế này mới thấy tới trời cũng còn không bỏ đc sân si, nói chi tới con người.

- lũ chim trên cây hoảng sợ bay tứ tán, mỗi con một hướng, chẳng khác nào đám người chạy loạn mà giẫm đạp lên nhau. Rồi lão lại ngẩng mặt lên trời.

- Ồ, nhân tâm à? Phải, nếu lòng người cùng nhìn về một phía, thì đã không có chuyện mày đánh tao hay tao đánh mày rồi. Là do quá khác nên không dung được nhau, hay vì quá giống nhau nên hổ không thể sống thành bầy được nhỉ? – Cười gằn – Ta đúng là đã gìa thật rồi. 

- Dừng lại, trong xe là người nào? Đang miên man với ký ức câu chuyện mấy hôm trước thì tiếng gọi của tên lính gác thành kéo Nguyễn Du về với thực taị.

- Vâng lệnh Bùi Thái Sư, đưa Nguyễn Du tiên sinh tới đàm đạo. Tên phu kéo xe vén bức màn cho tên lính thấy mặt nhân vật quan trọng. Ánh mắt hắn ghé vào, chỉ nhìn thấy con người ngồi bên trong là một thư sinh có vẻ trói gà còn không chặt, có muốn cũng khó mà hại được ai. Bèn phẩy tay cho qua một cách nhẹ nhàng. Chiếc xe ngựa tiếp tục lăn bánh vào thành Phú Xuân. Nguyễn Du đưa mắt nhìn qua khe cửa xe ngựa. Ngước mắt nhìn lại cổng thành Phú Xuân mới thấy một toà thành xứng tầm kinh đô. “Kinh thành” của tám đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong thậm chí còn cứng cỏi tráng lệ hơn bội phần, nhờ công lao của vị vua thứ hai triều Nguỵ Tây. Tường thành phải có dày đến ba lần những toà thành khác. Đứng dưới chân thành mà ngẩn mặt nhìn lên thì có lẽ đến chính ngọ mới thấy được mặt trời.

Từ xa trông lại chính là một pháo đài gần nhứ không thể phá vỡ. Nếu có thành trì nào có thể so sánh thì hẳn chỉ có thể là Phượng Hoàng Trung Đô (3) mà thôi.

- Ngươi có biết thành trì xây bằng chất liệu gì là kiên cố nhất không? – Nguyễn Du hỏi người phu xe; mắt vẫn hướng về phía tường thành.

- Ừm… - Người phu xe suy nghĩ hồi lâu - Không phải vẫn là Đá và Cát sao? Nguyễn Du cười gằn:- Chính là lấy xương cốt làm gạch, máu thịt làm keo. – Nếu vậy thì Thăng long của tiên sinh hẳn là kiên cố lắm, chôn xác cả hai mươi vạn quân Thanh kia mà - A Quý lại nói đùa. 

- Haha, máu thịt của ngoại bang làm sao bằng xương cốt của đồng bào một nước chứ. Quanh co mấy lần, chiếc xe ngựa cũng dừng lại trước cổng Bùi Phủ. A Quý nhảy phóc một cái, đôi chân trần đặt xuống mặt đất, khẽ mở cửa xe. 

- Tiên sinh, đã tới nơi, mời tiên xuống xe ạ. Du bước xuống xe đưa mắt một vòng quanh phủ Thái Sư đương triều. Chỉ riêng hai con sư tử đá đặt trước cửa phủ cũng có khí phái lấn lướt cả chủ nhà. Trong lòng Tố Như dâng lên nỗi cảm thán phải thốt lên thành lời. 

- Hoa lệ đến vậy cũng chỉ có Phú Xuân thành, Hoa cho người trên, Lệ cho kẻ dưới. Đưa tay chỉnh lại chiếc mũ lục lăng, tay lại phe phẩy chiếc quạt, ung dung bước chân vào phủ. Qua dãy hành lang về phía đông thì đến một ngôi nhà lớn, vừa cao vừa rộng, hai bên để hai chiếc kiệu ngự, đồ nghi trượng đều sơn son thiếp vàng, đồ vật thật là khó thấy giữa chốn nhân gian đang loạn khói lửa binh đao này. Lại quanh co một lúc thì bước tới chính điện của phủ Thái Sư. Chỉ thấy trong điện chật nức những con người đang chen chúc nhau như tranh giành thứ gì đó. Khuất phía sau lớp người, là một lão già tuổi tác ngoài lục tuần. 

- Ba ngàn lượng! - Tiếng hô lớn nghe rõ mồn một, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía kẻ vừa lên tiếng, chỉ thấy kẻ vừa ngã giá đầu chít khăn đóng, người mặc tấm áo bằng lụa màu xanh ngọc, dáng vẻ phục phịch, hàng râu chuột nhếch lên đắc ý.

- Năm ngàn lượng! - Lần này lại là một vị hoà thượng. Mọi người trong sảnh đều cười lớn. Một giọng nói từ trong đám người lớn tiếng hỏi: 

- Hoà thượng, ông không ở chùa tu tập, chạy tới đây làm cái gì vậy? có đủ năm ngàn lượng không đấy? Tên hoà thượng bèn cười nói:

- Haha, anh hùng phải biết thức thời, ta vào chùa kiếm ba bữa cơm. May sao nhân lúc sư sãi trong chùa đều đi xây thành, có một tên địa chủ bỏ năm ngàn lượng mua lại chùa làm chỗ cho nhà hắn. Có năm ngàn lượng rồi, mua một chức quan, cần gì phải làm sư cho phí một đời chứ hả? Hoá ra trò náo nhiệt từ nãy đến giờ là cuộc đấu giá định kỳ theo từng quý, nhằm tuyển chọn “nhân tài” cho triều đình.

- Năm ngàn lượng lần thứ nhất! Năm ngàn lượng lần thứ hai! … – Tiên sinh, mời đi lối này - A Quý lại rẽ vào mấy lối quanh co. Tiết trời cuối tháng chín lúc này ở Thăng Long chắc là đang giữa Thu. Nguyễn Du bất giác dậy lên nổi nhớ nơi quê xưa chốn cũ, nơi mà hắn sinh ra, Thăng Long thành.

Đã lâu lắm rồi, Nguyễn Du chưa có cơ hội trở lại chốn ấy. Mà có trở lại, cũng không biết nơi đó có còn là Thăng Long của mười năm trước không. Khi mà thành vẫn nơi đây nhưng chủ nhân không còn mang họ Lê nữa. Cơn gió mùa Thu quả thật có một năng lực kì lạ, đó là làm lòng người trở nên yếu đuối. Nhưng mềm lòng là chuyện của ngày mai, còn hôm nay, ngay lúc này, hắn còn đại sự phải giải quyết đã. Phủ Thái Sư, Bước vào thư phòng, quả nhiên khí phái không hổ là bậc Thái Sư đương triều (bổ sung: Ở Phú Xuân, 4 mùa không rõ như xứ Bắc Hà, nhưng gió vẫn đủ se lạnh để Nguyễn Du bồi hồi).

Liếc nhìn sơ đống văn phòng tứ bảo: Giấy, nghiên, bút, mực; thì giá trị cũng hơn cả cái chức Hộ bộ thị lang vừa mới rao bán kia. Chiếc nghiêng mực đen bóng đặt trên chiếc khung bằng gỗ mun, chỉ nhìn thôi cũng thấy hàn khí toả ra khắp căn phòng, đích thị làm từ đá Thuỷ Nham được lấy từ Đoan Khê về. Tương truyền là được ngâm trong nước suối lâu ngày nên hấp thụ đầy đủ linh khí của đất trời, chỉ một cái nhìn cũng đủ làm lạnh buốt cả sóng lưng. Nguyễn Du khẽ cười: 

- Năm ngàn lượng à, haha, giá rẻ, giá rẻ. Bùi gia ở Bình Định vốn là một gia tộc lớn, tuy không phải trâm anh thế phiệt nhưng cũng là hào phú một vùng. Người của họ Bùi trước nay vốn lấy kiếm thuật xưng bá thiên hạ. Khắp hai xứ Đàng trong, Đàng ngoài chỉ cần nghe bốn chữ “Xuân Hoà Bùi Thị” đã đủ kinh hồn bạt vía. Trong Bùi thị lại phân thành hai chi phái là Long Hổ Đường và Phụng Thư Đường. Phàm là nam nhân trong tộc sẽ xếp vào Long Hổ Đường, còn sinh là phận nữ nhi sẽ nhập vào Phụng Thư Đường. Quy củ này không biết đã xuất hiện tự bao giờ, nhưng truyền tới nay có hơn mười đời, mặc dù giữa hai đường vẫn tồn tại mẫu thuẫn, nhưng đứng trước đại sự của gia tộc sẽ luôn đồng tâm hiệp lực. Vì vậy, để giữ vững hoà khí giữa hai đường, cứ mỗi năm năm, Đường chủ của hai Đường sẽ thay phiên nhau bảo quản Tộc Phổ của Bùi Gia. Hiện tộc phổ đang do Đường chủ Phụng Thư Đường đương kim Thái Hậu Bùi Thị Nhạn bảo quản, còn Thái sư Bùi Đắc Tuyên chính là Đường chủ Long Hổ Đường.

Nguyễn Du ngẫng mặt lên vách tường - nơi cuối căn phòng. Trên vách đang treo một bức tranh chỉ được vẽ độc bằng loại mực tàu màu đen vẽ hình một con Rồng và một con Phụng, đang tựa như đánh nhau nhưng không phải đánh, tựa như nương vào nhau nhưng cũng không phải nương vào nhau. Phía dưới lại là một con hổ đang đứng trên đầu núi nhe nanh múa vuốt, mặt lại hướng về phượng hoàng như có ý trợ chiến cho con rồng phía trên. Ba con mãnh thú cứ như thế vờn nhau cùng hợp thành chữ “Bùi” to tướng mà cũng đầy uy lực.

- Tố Như tiên sinh hình như cũng đặt chút tâm tư vào bức tranh này, không biết có cao kiến gì? Nguyễn Du quay người nhìn lại, người vừa lên tiếng chính là lão già tuổi ngoài lục tuần chủ trì cuộc đấu giá vừa nãy trong sảnh đường, hẳn là Thái Sư Bùi Đắc Tuyên.

- Người trong giang hồ đồn đại, Bùi Thái Sư tuổi ngoài 80 nhưng do võ nghệ cao cường nên bề ngoài mới hơn 60, thiết nghĩ là không nói quá – Nguyễn Du hơi nghiêng đầu chào hỏi.

- Hà hà, Tố Như nói quá rồi, là người trong giang hồ không rõ thực hư mới nói thế. Ngày trước còn trẻ, sính cường hiếu thắng, đi lại trong giang hồ thường xưng quá tuổi để chiếm thế trên. Tiên sinh nghỉ thử, Thái Hậu đương triều tuổi mới tứ tuần, ta là vai anh, làm sao có cái tuổi ngoài 80 được chớ. Chẳng hay tiên sinh đánh giá bức tranh này thế nào?

- Du tài thô học thiển, mạo muội mấy lời đánh giá - Nguyễn Du trả lời rồi hướng mắt về phía bức tranh ngắm nhìn một lúc rồi đáp.

- Chữ “Bùi”( 裴) trên là chữ “Phi” ( 非) dưới là chữ “Y”( 衣). Chữ “Phi” phía trên lại vẽ thành một long một phụng. Mấy nét vẽ bút lực trầm hùng, không giống với nét bút của thư sinh thông thường. Người vẽ hẳn không phải nhân vật tầm thường. Bùi Đắc Tuyên đưa tay vuốt chòm râu dài tới ngực đã điểm hoa râm, gật gù:

- Quả không hổ là họ Nguyễn Tiên Điền, bức hoạ này chính là Tiên Đế Quang Trung ngự bút. Người đời chỉ nhớ Vua ta võ nghệ siêu quần, công lao hiển hách, mà quên rằng ông cũng được ăn học, thọ giáo tài kiêm văn võ. Nguyễn Du vẫn nhìn về phía bức hoạ, tựa hồ câu trả lời vừa rồi đã trả lời nhiều câu hỏi mà hắn còn thắc mắc, hắn lại lên tiếng.

- Hai con rồng và phụng trong tranh thoạt nhìn tưởng rằng tựa nhau cùng bay. Nhưng nhìn kĩ thì rồng nhe nanh múa vuốt, phượng thì vỗ cánh kêu vang, chính là cái thế đang tấn công nhau. “Song phi” như thế cũng thật là mệt mỏi. Còn con hổ phía dưới, tuy mặt hướng về con phượng mà gầm gừ, nhưng kinh dịch cũng viết rằng: “Đi sau hổ, đapkj đuôi hổ, bị nó quay lại cắn, nguy hiểm”(4), cũng không khác con rồng trong bức tranh là mấy.

Bùi Đắc Tuyên nghe xong mấy lời vừa rồi của Nguyễn Du thì bật tiếng cười rộ “ha ha ha” - Tố Như ơi Tố Như, bao nhiêu tâm tư của tao, đều bị mi nhìn thấu cả. Chỉ tiếc là con rồng này là nói họ Bùi ta, hay là nói tiểu Hoàng Đế đang ngồi trên ngai vàng kia đây! Nguyễn Du lại cả cười - Mấy lời nói xằng của tôi, Thái Sư hà tất bận tâm. Là rồng, là hổ, hay là phượng mai nay sẽ rõ.

Thái Sư lặn lội đường xa, đưa Du tới kinh thành chắc không chỉ là để xem tranh? Bùi Thái Sư đưa tay cầm lấy ấm trà rót ra hai ly mời khách - Ấm trà cũng chạm khắc đầy tinh xảo những hoa văn rồng phượng. Lại ho mấy tiếng, - Ta xem tử vi, ông thầy tướng số bảo rằng tuổi ta sống đến hôm nay là đã quá ý trời, mà tứ trụ lại khuyết hoả, nhà cần trang trí thêm màn đỏ để xông hỷ. Vốn nghe Nguyễn Du cầm kỳ thi hoạ nức tiếng gần xa.

Ta từ lâu muốn tới thăm Thăng Long thành một chuyến, mấy năm trước có cùng Tiên Đế, nhưng đã lâu ngày công sự bận rộn lại không có dịp trở ra mà lòng luôn nhớ cảnh anh đào nở rộ. Tuổi cao sức yếu lại thêm gió Thu se lạnh, khiến lòng người xốn xang bồi hồi, chỉ sợ đại sự trước mắt, ngoạ hổ bất thành sẽ không được ngắm nữa, nên đành mời tiên sinh hoạ lại cảnh hoa đào ở cố đô cho nguôi nỗi nhớ. Nghe mấy lời vừa nói của Bùi Thái Sư thì con rồng trong bức hoạ trên tường thật sự không biết là họ Bùi, hay họ Nguyễn. Việc Bùi Thái Sư chuyên quyền, muốn đưa con trai Bùi Đắc Trụ lên ngôi hoàng đế vốn đã truyền khắp Đàng Trong, Ngoài. Xem tình thế này thì dã tâm của họ Bùi không hề giấu diếm chút nào, ngày đó có lẽ cũng không còn xa nữa.

Đắc Tuyên trước nay vốn là một trong số đệ nhất cao thủ ngồi tron bóng tối mà điều động Bùi Gia Long Hổ Đường. Nhiều danh tướng Tây Sơn đều xuất thân từ Long Hổ Đường của Bùi Gia. Ba anh em Nguyễn Huệ ngày thu phục nhà họ Bùi về dưới trướng cũng tốn không ít công phu. Lẽ dĩ nhiên dòng họ có uy rộng lớn nhất trong triều đình Tây Sơn không phải ai khác mà chính là họ Bùi. Những việc cơ mật nhất đều đến tay họ lo liệu. Không phải ngẫu nhiên mà Quang Trung tốn không ít tâm sức hoạ bức “Long Hổ Phụng” tặng cho họ Bùi. Mục đích không gì khác ngoài nhắc nhở họ về vị trí “Con Hổ” của mình là để trợ giúp cho “Con Rồng” họ Nguyễn. Nguyễn Du ngẫm nghĩ một lúc rồi trả lời.

- Du vốn sinh ra là người đất Thăng Long, hoa đào thì mỗi năm đều ngắm đến quên cả đường về. Nay nếu Thái Sư đã thích, thì tôi cũng xin hoạ một bức gửi lại phủ. Bùi Thái Sư nghe vậy thì vui vẻ bảo tả hữu bày biện bát nghiên giấy mực ra bàn rồi lui ra ngoài chuẩn bị yến tiệc để mời khách. 

- Du xưa nay có thói quen kỳ lạ, chỉ dùng bút của bản thân mình. Nói xong, bèn rút trong tay áo ra cây bút nhỏ, làm bằng ngà voi, thân bút chạm khắc con Phụ Hí (5) đầy tinh xảo, vốn là vật mà sinh thời Nguyễn Nghiễm vô cùng yêu thích, lúc mất truyền lại cho các con mỗi người một bảo vật. Nguyễn Du được thừa hưởng cây bút yêu quý của cha mình. Du đặt bút chấm mực vừa được tả hữu mài trong chiếc nghiên mực quý mà vừa bước chân vào thư phòng đã đập ngay vào mắt hắn. Bùi Đắc Tuyên ghé mắt nhìn vào trang giấy chỉ thấy nét bút thanh thoát như rồng bay phượng múa trong bầu trời phủ giăng mây.

Cứ mỗi bước để lại những đường nét dứt khoát hằn trên mặt giấy, trở thành những nhánh cây trơ trọi mùa thu vừa thay lá, chỉ đợi một cơn mưa phùn tưới mát để đơm hoa. Bùi Thái Sư mắt nhìn không rời còn bụng thì thầm khen tài hoa của con người trước mặt. Nguyễn Du cất lời hỏi, bút vẫn không rời trang giấy, tựa như thăm dò.

- Thái Sư một thời tung hoành giang hồ, tôi đây cũng hiếu kỳ không biết kiếm của Thái Sư nhanh tới mức nào? - Ồ, bất quá cũng chỉ nhanh bằng bút của Tố Như mà thôi - Bùi Đắc Tuyên bèn trả lời. Nguyễn Du cả cười đáp, tay vẫn tiếp nét vẽ:

- Thái Sư quá khen rồi. Vừa dứt câu thì cũng vừa hoàn thành xong phần nhánh và thân cây còn trơ trọi, đang đợi điểm lên đó mấy bông hoa.

- Nhánh đã vẽ xong, vẫn còn thiếu ít màu đỏ để vẽ hoa.

- Nguyễn du tiếp lời.

- Trong phủ trước nay vốn không thiếu thứ gì, Tố Như cần loại chu sa nào cứ việc lên tiếng. Nguyễn Du bèn cúi đầu trả lời, tay xoay nhẹ thân bút.

- Loại chu sa ta cần hơi đặc biệt, mời Thái Sư ghé tai để tôi bảo. Bùi Đắc Tuyên tiến hai bước đến gần Du, mắt Du dán chặt vào hai bàn chân của Thái Sư đang bước đến. Bất chợt ánh mắt đanh lại, Nguyễn Du thoắt xoay người, ngọn bút ngà tung lên, lông bút theo gió mà tung bay để lộ một mũi dao sắc lẽm, cứa một đường thật ngọt trên cổ vị Thái Sư đương triều, một đường vung dứt khoát. Nhưng bỗng nhiên, Nguyễn Du thấy cổ tay của mình tê rần, đường bút vẫn chưa đi hết đã bị một bàn tay chặn lại. Máu từ cổ của Tuyên và ngòi bút từng giọt từng giọt thấm lên trang giấy,, vừa hay điểm xuyết vào vị trí những cánh hoa đang thiếu. Bùi Thái Sư gương mặt lạnh tanh:

- Đúng rồi, suýt tí ta quên mất, cha ngươi không chỉ là văn thần, mà còn là võ tướng……

Hết Hồi 1 …

Xem tiếp HỒI 2- TÂM CHI HỎA

Tác giả Phát Nguyễn. Từ Việt Sử Giai Thoại.

(1) Côn: thượng cổ Linh Thú trong Sơn Hải Kinh, Loài Kình Ngư cư trú ở vùng biển sâu, sau một thời gian dài hấp thụ linh khí trời đất, tánh linh thức tỉnh, thọ mệnh trường tồn, kích thước tăng trưởng theo thời gian, lại có thể rời khỏi mặt biển, thong dong tự tại nơi thiên không bao la.

(2) Cẩn du: cũng mang ý nghĩa là ngọc quý, Chu Du (175 – 210) thời Tam Quốc tự là Công Cẩn, “cẩn” và “du” là một cặp mang nghĩa này

(3) Phượng Hoàng Trung Đô: kinh thành ở Nghệ An (nay thuộc thành phố Vinh) mà Quang Trung xây dựng, định sẽ dời đô về nhưng chưa kịp hoàn thành đã mất, tới thời Cảnh Thị thì bị bỏ phế

(4) Lời hào từ quẻ Trạch Thiên Lý từ kinh dịch, nguyên văn “Lý hổ vĩ, điệt nhân, hung”

(5) Phụ Hí: một trong “Long Sinh Cửu Tử” (9 đứa con của rồng), Mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời hay chữ tốt. Vì thế được tạc trên đỉnh, hay hai bên bia mộ, là linh vật bảo vệ bia mộ

Nguồn giải nghĩa : Wikipedia.

Donate Box
Donate

Donate cho tác giả

© Bản quyền 2021, VIET HISTORY