TẤM BIA CHÙA GIẦU VỚI NIÊN ĐẠI THỜI TRẦN VÀ CHÂN DUNG VUA TRẦN NHÂN TÔNG (Trích)

TẤM BIA CHÙA GIẦU VỚI NIÊN ĐẠI THỜI TRẦN VÀ CHÂN DUNG VUA TRẦN NHÂN TÔNG (Trích)
DocumentObject.png

Xin quyền tác giả

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Enim integer varius faucibus tellus.

Gửi yêu cầu

TẤM BIA CHÙA GIẦU VỚI NIÊN ĐẠI THỜI TRẦN VÀ CHÂN DUNG VUA TRẦN NHÂN TÔNG (Trích)

Tác giả: Chu Quang Trứ

​Trong các di vật cổ thì bia đá thường chứa cả hai giá trị thư tịch và nghệ thuật, hai mặt này bổ sung nhau, từ tìm hiểu mặt này sẽ hiểu sâu hơn về mặt kia, nhưng sâu đến đâu còn do ở người khai thác và cách khai thác.

​Trên tinh thần nay, tôi muốn trở lại tấm bia chùa Giầu vẫn được hiểu là bia thời Trần nhưng sự chứng minh thì chưa kỹ.

​Các tài liệu khảo cổ và Hán Nôm từ non 20 năm nay đã vài lần đề cập tới tấm bia này, đều gọi là "bia chùa Dầu". Chùa có tên chữ là "Khánh Long Tự", vậy Dầu có lẽ là tên làng. Nhưng không, chùa thuộc hai thôn Đinh và Trung thuộc xã Đinh Xá huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam.

​Nhân dân địa phương gọi là "chùa Giầu" với hy vọng mong cho quê mình được giàu có, và phải gần 700 năm nay đang thành sự thật. Có thể do phát âm tiếng "Giầu" không chuẩn, song nếu những tài liệu đã công bố viết là "chùa Dầu" thì sẽ không có ý nghĩa gì.

​Chùa đã nhiều lần làm lại, giá trị kiến trúc và điêu khắc không có gì đặc biệt, song đặc biệt quý là tấm bia cổ bị vỡ làm 3 mảnh đã được chắp gắn lại bằng xi măng nên trông khá nguyên vẹn, hiện cao 96cm, trên dưới đều rộng 60cm, dày 12cm.

​[...]

​Dưới góc độ tài liệu thư tịch, bài văn ở mặt sau và hai sườn bai, ông Hồ Đức Thọ và ông Dương Văn Vượng (cán bộ Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Hà Nam Ninh, nay là tỉnh Hà Nam) trong Hội nghị Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1983 đã công bố bài "Về tấm bia thời Trần ở Đinh Xá (Hà Nam Ninh)", và sau đó ông Tống Trung Tín (cán bộ Viện Khảo cổ học) trong luận án Phó tiến sĩ, năm 1997 được in thành sách Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần - thế kỷ XI - XIV đều đã công bố khái quát nội dung bản dịch:

​Bia mang tên Ngô gia thị bi cho biết ở Mai thôn xã Đinh Xá lộ Lợi Nhân có ông Ngô Lãm được vua ban cho hiệu là Ngộ Không cư sĩ, vào năm Mậu Tuất niên hiệu Hưng Long thứ 6 (1298) đã cúng ruộng tiền để xây dựng Vân Am ở địa phương; đến năm Hưng Long thứ 12 (1304) đại sa môn ở đây viên tịch, Ngộ Không quyết định an táng tại địa phương. Phần tiếp theo ghi việc một số người cúng tiền, ruộng để tu sửa Vân Am.

​Hai ông Thọ và Vượng cho hay mảnh bia ghi niên đại đã thất lạc, song ở mảnh bia còn lại có hai chữ "Đại Trị", "nhớ dòng chữ này mà chúng ta biết được một cách chắc chắn tấm bia được dựng vào thời Trần".

​Ông Tín thì thừa nhận luôn: "Bia chùa Dầu ở Đinh Xá (Hà Nam) có niên hiệu Đại Trị thời Trần (1358 - 1369)" mà không chứng minh gì.

​Mấy năm gần đây, ông Phạm Văn Thắm có nhã ý cung cấp cho tôi cả bản chép chữ Hán, bản phiên âm và bản dịch nghĩa toàn văn tấm bia này. Ông vẫn gọi là bia chùa Dầu, vì có một số chữ mờ nên đôi chỗ phải dịch ý.

​Tên văn bia là Ngô gia thị bi nghĩa là Văn bia họ Ngô, nội dung gồm hai phần: phần đầu xin trích nguyên bản dịch:

​"Tại tiểu am thôn Mai, kinh (...), lộ Lợi Nhân, nguyên có người ở Ông Xá đã mất, họ Ngô, được ban hiệu là Ngộ Không cư sĩ. Ngày 10 tháng 8 băn Mậu Tuất, niên hiệu Hưng Long 6 (1298) nhà vua [Ngự lãm] ở Vân Am, đích thân ông họ Ngô (...) dâng tấu xin đem đất vườn để dựng chùa. Khi ấy có vị Viên Tịch đại sa môn đã dâng tấu xin đem đất vườn để dựng chùa. Khi ấy có vị Viên Tịch đại sa môn đã dâng tấu xin phật Tam Thế cho về ở tiểu am thôn Mai, đến năm Hưng Long thứ 13 (1305) thì mất. Ngày 25 tháng 8 Ngộ Không quyết [định mai] táng. Vì lẽ đó dựng nhà tại đây.

​Năm Bính Ngọ niên hiệu Đại Trị (1366), nguyên Nhập nội (...) [hiệu] đạo sĩ ẩn dấu công lao phù thuỷ vốn có [đi] khuyên giáo khắp nơi cúng ruộng làm chùa, khắc bia mới [để mọi người] được thụ trì kinh Ngọc Đế và kinh Đại Bi.

​Hàn lâm Thư tả cục thượng chánh thủ xã chính Nguyễn Hồng (...), Nguyễn Chính, Vũ Thị Tiểu xuất tiền 10 quan [để dựng bia]".

​Phần cuối bài văn ghi việc bà Lê Thị Đàm, ông Phan Cương và vợ là bà Trần Thị Ân, bà Dương thị Nương, ông Đỗ Văn Mã, ông Nguyễn Cán và vợ là bà Đỗ Thị Thịnh, các ông Trương Nhị, Phạm Đạt, Phạm Viêm và Phạm Tổng cúng ruộng hoặc ao cùng vị trí các thửa đất đó.

​Từ những thông tin của văn bản bản dịch, chúng ta nhận ra một số vấn đề và các sự kiện chính:

​- Bài văn không trực tiếp nói rõ niên đại, song nếu năm 1983 ông Thọ và ông Vượng chỉ vì thấy có hai chữ "Đại Trị" mà khẳng định "bia được dựng vào thời Trần" thì không thoả đáng, phải biết năm Đại Trị có sự kiện gì. Nay ông Thắm cho biết năm Đại Trị tổ chức khuyên giáo các nơi cúng ruộng làm chùa, nhân đấy khắc bia mới. Vậy bia mới có thể chính là tấm bia này. Sự phỏng đoán này sẽ được làm rõ hơn khi chúng tôi tìm hiểu ngôn ngữ tạo hình là hoa văn trang trí sẽ nói ở đoạn dưới.

​- Ngày 08 tháng 10 năm Mậu Tuất niên hiệu Hưng Long 6 (1298) nhà vua ngự lãm về Vân Am, đích thân ông họ Ngô dâng tấu xin đem đất vườn để dựng chùa. Vậy vua đây là vua nào? Năm 1298 thuộc đời vua thứ 4 nhà Trần là Trần Anh Tông, nhưng đồng thời cũng có cả vua cha là Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi thường đi vân du khắp nơi, sang cả Chiêm Thành, ngài đi tu và lập ra Thiền phái Trúc Lâm, được coi là vua Phật, là đức Phật tái thế ở Đại Việt.

​- Năm Hưng Long 13 (1305) vị đại sa môn ở chùa thôn Mai mất, ngày 25 tháng 8 Ngộ Không quyết định mai táng ông và dựng nhà tại đây.

​- Tên bài văn là "Ngô gia thị bi" nghĩa là văn bia họ Ngô, nhưng chỉ nói rất sơ lược về cá nhân ông họ Ngô có hiệu là Ngộ Không cư sĩ với các việc xẩy ra vào năm 1298 và 1305, đến năm 1366 dựng bia thì ông mất rồi. Trong danh sách những người công đức cho chùa không có ai họ Ngô.

​Còn về mặt trước bia, năm 1983 hai ông Thọ và Vượng cho biết:

​"Mặt trước nổi bật phù điêu chân dung một vương công mũ, áo chỉnh tề, tai to, mặt lớn và hai tay vòng nâng "hốt" (?) trước ngực, ngồi trên ngai rồng, sau đầu có vòng nhật. Bức phù điêu này cao 0,70m rộng 0,40m dày chừng 2,5cm đến 3cm.

​Dưới bức phù điêu là băng hoa văn hình cánh sen. Dưới lớp cánh sen là bẩy lá đề sắp xếp tạo nên diềm chân bia. Hai bên thành và trán bia được viền bằng dải hoa dây cách điệu, mềm mại. Trán bia khắc đôi rồng chầu vào bốn chữ "Đại Phúc Thông Minh" (tôn quý cụ thể cái phúc lớn, sáng sủa, minh bạch) tương tự như kiểu "lưỡng long triều nguyệt" vậy".

​Ông Tín tập trung khảo tả kỹ bức chân dung: "Choán kín lòng bia là hình chạm một người đàn ông đã luống tuổi đang ngồi trên ghế dựa (tay ghế chạm rồng), khuôn mặt béo tốt, phương phi, mắt dài, mày xếch, sống mũi thẳng, ria mép dài, mồm rộng, hai bàn tay vòng ngay ngắn trước ngực, hai chân buông thẳng, mũi bàn chân quay về hai phía, dáng vẻ quắc thước.

​Phục sức gồm có áo choàng rộng nhiều nếp lớn phủ kín từ vai đến chân, ống tay áo rộng xòe ra che kín trước bụng, phía dưới các ông tay áo xuất hiện ba dải dây lưng có tua tròn.

​Mũ đội kiểu "bình thiên" có hai phần: Phần dưới ôm khít đầu, phần trên loe rộng, đỉnh mũ bằng phẳng có trang trí các hình tròn và đường vạch chéo. Cổ đeo một vòng lớn có đính hạt ngọc (chấm tròn) và các tua dài. Phía bên dưới có hàng cánh sen dẹo".

​Riêng ông Thắm do tập trung vào bài văn bia, nên chỉ nói rất ngắn:

​"Mặt trước bia trang trí dải hoa văn. Trán bia chạm hình lưỡng long, chầu vào bốn chữ Triện. Theo sự đoán nhận của chúng tôi, bốn chữ đó là "Lục Tổ Thông Minh".

Lòng bia chạm khắc hình một người đàn ông đầu đội mũ bình thiên, ngồi trên một chiếc ngai, có thể đây là chân dung một người có công xây dựng chùa". ​

Donate Box
Donate

Donate cho tác giả

Gửi bình luận
Xem tất cả 0 bình luận

Tất cả bình luận

    © Bản quyền 2021, VIET HISTORY