Thần cơ diệu toán Đào Duy Từ, mưu lược xây dựng cơ đồ nhà Nguyễn

Thần cơ diệu toán Đào Duy Từ, mưu lược xây dựng cơ đồ nhà Nguyễn
DocumentObject.png

Xin quyền tác giả

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Enim integer varius faucibus tellus.

Gửi yêu cầu

Thần cơ diệu toán Đào Duy Từ, mưu lược xây dựng cơ đồ nhà Nguyễn

Lịch sử Việt Nam có không ít những mưu thần danh vang lừng lẫy, tài lược hơn người. Trong số đó có một nhân vật được đánh giá là không thua kém gì các mưu lược gia của lịch sử Trung Quốc hàng ngàn năm.

Một người Việt Nam ngang tài với Khổng Minh Gia Cát Lượng hay Hàn Tín. Đó chính là Đào Duy Từ, người mở mang cơ nghiệp trăm năm cho các vua chúa nhà Nguyễn.

Thuở thiếu thời lận đận của Đào Duy Từ

Đào Duy Từ (1572 – 1634), hiệu là Lộc Khê, quê gốc ở phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa (nay là huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Ông có cha là Đào Tá Hán, làm cấm vệ trong triều.

Tá Hán chẳng may mạo phạm chúa Trịnh nên bị đuổi khỏi cung, phải về quê mưu sinh bằng nghề xướng ca. Cha mất sớm, dù phải chịu cảnh mẹ góa con côi nhưng Đào Duy Từ rất hiếu học, thông minh và tỏ ra là một người có chí lớn.

Trong khoa thi Hương năm 1593 đời vua Lê Thế Tông (1567 – 1584), Đào Duy Từ đỗ giải Á nguyên lúc mới tròn 21 tuổi. Đến kỳ thi Hội, bài luận của Đào Duy Từ rất xuất sắc.

Ngay cả các quan giám khảo trường thi cũng gật gù khen ngợi. Thế nhưng chẳng may có người phát hiện ra Đào Duy Từ là con phường chèo, dạng “xướng ca vô loài” vốn rất bị kỳ thị thời ấy. Ông bị lột mũ áo, tước luôn giải Á nguyên rồi bị hạ ngục tống giam.

Đào Duy Từ vào nam tìm minh chủ

Đào Duy Từ sinh ra trong một thời đại đầy biến động. Cùng một lúc trên dải đất hình chữ S khi ấy có tới 4 tập đoàn chính trị chia nhau cát cứ. Đất Bắc Hà có nhà Hậu Lê, chúa Trịnh cùng nhau trị vì (thực tế chúa Trịnh luôn át quyền, vua Lê chỉ còn tượng trưng).

Vùng núi non hiểm trở Cao Bằng là đất đóng quân của nhà Mạc. Còn ở Đàng Trong, vùng Thuận Hóa (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay) là nơi chúa Nguyễn gây dựng nền móng.

Không được trọng dụng ở phương bắc, Đào Duy Từ đã sớm nghĩ đến việc vào nam nương nhờ chúa Nguyễn. Một lần, trong khi đàm đạo với bằng hữu, Đào Duy Từ bộc bạch: “Tôi nghe chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận Quảng, làm nhiều việc nhân đức, lại có lòng yêu kẻ sĩ, trọng người hiền. Nếu tôi theo vào giúp thì chẳng khác gì Trương Lương về Hán, Ngũ Viên sang Ngô, có thể làm tỏ rạng thanh danh, tôi cũng không đến nỗi phải nát cùng cây cỏ, uổng phí một đời”. Nói là làm, Đào Duy Từ mau chóng khăn gói vào nam.

Mới đầu, ông ở đợ, chăn trâu cho một phú ông. Nhưng phú ông nọ mau chóng nhận ra kỳ tài của Đào Duy Từ, lập tức tiến cử ông với khám lý Trần Đức Hòa, vốn là một sủng thần của chúa Nguyễn. Ngay buổi đầu tương ngộ, Trần Đức Hòa đã nhận ra họ Đào không phải kẻ tầm thường. Ông giữ Đào Duy Từ lại bên mình, gả con gái và hết mực tin dùng.

Chuyện kể rằng, sau khi đọc bài thơ “Ngọa Long cương vãn” của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã phải tự thốt lên rằng: “Đào Duy Từ là Ngọa Long đời này chăng?”. Bài thơ ấy có những câu đầy khí phách thế này: “Chốn này thiên hạ đời dùng Ắt là cũng có Ngoạ Long ra đời Chúa hay dùng đặng tôi tài Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên” Biết tài Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa sớm tiến cử ông với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Chúa đọc xong biết ngay họ Đào là kỳ tài hiếm gặp bèn cho gọi vào hầu.

Hôm ấy, tôi chúa đàm luận với nhau không biết chán, chẳng khác nào Lưu Bị gặp gỡ Khổng Minh ở Long Trung năm nào. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong Đào Duy Từ làm Nha úy nội tán, tước Lộc Khuê Hầu, chuyên trông coi việc quân cơ, quốc chính. Từ đó, Đào Duy Từ một lòng phò tá chúa công. Còn chúa Nguyễn thì cực kỳ trọng dụng ông, có kế thì dùng, có mưu thì nghe, thường nói với mọi người rằng: “Đào Duy Từ thật là Tử Phòng và Khổng Minh của ta vậy!”.

Chống giữ mặt bắc với họ Trịnh

Thời điểm Đào Duy Từ vào nam, mâu thuẫn Trịnh – Nguyễn ngày càng gia tăng. Chúa Trịnh là Trịnh Tráng thao túng triều chính ở ngoài bắc, thường mượn danh nghĩa vua Lê để ra lệnh cho thiên hạ. Năm 1627, Trịnh Tráng cử người vào Thuận Hóa mang một đạo chiếu của vua Lê đến sắc phong cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

Sứ giả Bắc Hà tiếng là đến phong thưởng nhưng thực chất là để dò la nội tình Đàng Trong. Trịnh Tráng cũng đòi chúa Nguyễn cho con trai ra Bắc chầu thiên tử và nộp 30 voi đực, 30 chiến thuyền để sang cống nhà Minh. Trước yêu sách ngang ngược của họ Trịnh, chúa Nguyễn rất căm phẫn, nhất quyết cự tuyệt. Tuy vậy, Đào Duy Từ đã hiến một kế hoãn binh rất hay. Ông khuyên chúa Nguyễn che giấu binh tình, thực lực, chấp nhận sắc phong của Bắc triều để tranh thủ thời gian hòa hoãn với họ Trịnh, đồng thời cự tuyệt yêu sách giữ con tin và dâng cống phẩm.

Lấy cớ chúa Nguyễn trái lệnh vua, tháng 3/1627, Trịnh Tráng khởi 20 vạn đại binh, thủy bộ cùng tiến, chĩa mũi giáo thẳng vào xứ Thuận Hóa. Chúa Nguyễn tức tốc cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Phúc Trung đón đánh. Quân nhà Nguyễn phòng ngự kỷ luật, dựa vào địa hình hiểm yếu và sự trợ giúp của đại bác từ Bồ Đào Nha đã đập tan cuộc tập kích của quân Bắc Hà.

Dù đẩy lùi được quân Trịnh về bắc nhưng Đào Duy Từ vẫn thừa hiểu thực lực họ Trịnh vẫn nhỉnh hơn. Ông bày kế cho chúa Nguyễn xây lũy Trường Dục (tức Lũy Thầy), đắp thành cao, hào sâu, tích trữ lương thảo, khí giới, bố trí phòng ngự cẩn mật, sẵn sàng cho một cuộc chiến lâu dài với Bắc triều. Chúa Nguyễn cho là phải, liền y lời thực hiện ngay.

Ông còn hiến kế cho chúa Nguyễn chiếm được châu Nam Bố Chánh (ở Quảng Bình ngày nay) để làm tấm bình phong, chặn lấy đường đi quân của họ Trịnh vào Đàng Trong. Năm 1631, Đào Duy Từ lại khuyên chúa Nguyễn đắp thêm một hàng lũy dài 18 km nữa chắn ngang cửa biển Nhật Lệ. Nhờ có hai con lũy chiến lược này, quân nhà Nguyễn đã đứng vững trong cả 7 trận giao tranh với họ Trịnh suốt nửa thế kỷ sau đó (1627 – 1672).

Mở mang bờ cõi phía nam có nhiều dấu ấn của Đào Duy Từ Dưới sự phò tá của Đào Duy Từ, nhà Nguyễn không chỉ chống cự được những cuộc tấn công điên cuồng từ phía bắc của họ Trịnh mà còn khuếch trương thanh thế mạnh mẽ về phía nam. Chủ trương của ông với các nước phương nam như Chân Lạp, Chăm Pa là vỗ về, khoan dung, dùng đối thoại thay cho đối đầu.

Ông khuyên chúa Nguyễn gả các công chúa của mình cho vương tử và quốc vương của Chăm Pa, Chân Lạp như cái cách các vua triều Lý đã từng làm để giữ yên phên giậu nước nhà.

Ngoài ra, hàng năm, triều đình Đàng Trong đều cử sứ bộ đến thông giao với các nước phía nam để giữ gìn hòa hiếu. Chúa Nguyễn thậm chí còn cử binh sang giúp vua Chân Lạp chống lại những cuộc xâm lăng của người Xiêm (Thái Lan).

Đổi lại, Chân Lạp đồng ý cho nhà Nguyễn lập ra các đồn binh, thương điếm để tiến hành khai thác, thu thuế suốt một dải đất từ Biên Hòa, Sài Gòn đến Bà Rịa ngày nay. Việc giữ mối bang giao hòa bình với Chăm Pa, Chân Lạp là một bước đi cực kỳ đúng đắn. Ông thấy rằng thế lực của chúa Nguyễn còn non yếu, không thể căng mình đối phó với cả hai mặt bắc nam. 

Do vậy, việc thông hiếu với các nước láng giềng Chăm Pa, Chân Lạp giúp mặt phía nam của Đàng Trong ổn định, trừ đi mối nguy hiểm sau lưng để có thể toàn tâm toàn lực đối phó với những cuộc tập kích liên miên của chúa Trịnh ở phía bắc.

Tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng ở phía nam cũng giúp nhà Nguyễn có được bàn đạp căn bản cho công cuộc nam tiến mạnh mẽ suốt thế kỷ 17, 18 sau đó. Có thể nói, cuộc nam tiến của dân tộc Việt có công đầu của các chúa Nguyễn mà trong đó vai trò của Đào Duy Từ là thực sự nổi bật.

Hữu Bằng

Donate Box
Donate

Donate cho tác giả

© Bản quyền 2021, VIET HISTORY