Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi thể hiện bản lĩnh sứ thần An Nam

Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi thể hiện bản lĩnh sứ thần An Nam
DocumentObject.png

Xin quyền tác giả

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Enim integer varius faucibus tellus.

Gửi yêu cầu

Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi thể hiện bản lĩnh sứ thần An Nam

Trong sử Việt, người đảm nhận trách nhiệm đi sứ phương Bắc thường phải được lựa chọn kỹ càng, nhiều trường hợp phải có tài khoa cử, thậm chí là trạng nguyên. Nhiều vị sứ thần đại diện cho dân tộc bang giao với nước lớn ấy đã làm rạng danh đất nước, trong đó phải kể đến Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.

Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346) người xã Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Bà mẹ đã chịu hy sinh tất cả để cố nuôi con, cho con đi học.

Trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ. Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập. Vốn là cậu bé có tư chất thông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm chất thanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên.

Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán. Không có sách học thì mượn thầy mượn bạn. Mạc Đĩnh Chi cố học nhiều cuốn sách quý. Không có tiền mua nến để đọc sách, Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên mà học, thật là vô cùng gian khổ nhưng chú bé không hề nản chí.

Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh trác việt, chẳng bao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng nho học xứ Hải Đông.

Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông được chấm đỗ Trạng Nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu.

Biết ý, ông đã làm bài “Ngọc tỉnh liên phú” (Sen trong giếng ngọc), đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình, trong đó có đoạn: Khởi hộ lạc hề vô dung, Thán thuyền quyên hề đa ngộ. Cẩu dư bính chi bất a, Quả hà thương hề phong vũ.

Dịch nghĩa là: Há rằng trống rỗng bất tài Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay. Nếu ta giữ mực thẳng ngay. Mưa sa gió táp xem nay cũng thường

Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ. Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi vinh quy bái tổ Sau khi trở về kinh đô, nhà vua cho vời Trạng vào bệ kiến, hỏi việc chính trị, Trạng nói đâu ra đấy, vua rất hài lòng, ban cho Trạng chức Hàn lâm học sĩ, sau thăng dần đến chức Thượng thư, rồi Đại Liêu ban Tả Bộc Xạ (tương đương chức Tể tướng).

Giai thoại về Mạc Đĩnh Chi có rất nhiều, nhưng nổi bật nhất chính là về việc ông đi sứ phương Bắc.

Sau khi sứ Nguyên là Thượng thư An Lỗ Khôi sang báo tin Vũ Tông lên ngôi. Vua sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên. Mạc Đĩnh Chi người thấp bé, người Nguyên khinh ông.

Vậy nên khi tiếp kiến, triều Nguyên ra câu đối nhằm hạ nhục nước Nam:“Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố”.

Có nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng.

Câu đối có hàm ý nói rằng nước Nguyên là nước lớn như mặt trời có thể đốt cháy tất cả. Còn các nước chư hầu khác chỉ như mặt trăng yếu ớt, chỉ dám sáng ban đêm, còn ban ngày sẽ bị mặt trời đốt cháy.

Mạc Đĩnh Chi bình tĩnh đối lại rằng: “Nguyệt cung tinh đan, hoàng hôn xạ lạc kim ô”. Có nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, khi hoàng hôn mặt trăng bắn rơi mặt trời. Vế đối rất chuẩn, ý tứ lại mạnh mẽ, đồng thời cũng tỏ rõ bản lĩnh của sứ thần, ý chí của nước Nam.

Hơn nữa, việc này cũng nhắc nhà Nguyên nhớ tới việc nhà Trần đã đánh bại quân Nguyên Mông. Triều Nguyên dù tức tối nhưng cũng không sao bắt bẻ được.

Một hôm viên tể tướng mời ông vào phủ cho cùng ngồi. Lúc ấy, đương hồi tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu cành trúc.

Đĩnh Chi vờ ngỡ con chim sẻ thực, vội chạy đến bắt. Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa bỉ lậu. Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ hỏi tại sao.

Đĩnh Chi trả lời: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân”.

Mọi người đều phục tài của ông.

Đến khi vào chầu, gặp lúc nước ngoài dâng quạt, vua Nguyên sai làm bài minh. Đĩnh Chi cầm bút viết xong ngay, lời bài minh như sau: Lưu kim thước thạch, thiên vị địa lô, nhĩ ư tư thì hề, Y Chu cự nho. Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thì hề, Di Tề ngã phu. Y! dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù.

Dịch nghĩa là: Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho. Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo. Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi là thế ru! Y Chu và Bá Di, Thúc Tề là những người trung nghĩa trong lịch sử Trung Hoa, nhưng một người là công thần khai quốc, hai người còn lại thì ở ẩn rồi chết vì đói.

Bài minh này cho thấy sứ thần của Đại Việt sang bang giao thật sự am hiểu văn hóa Trung Hoa, lại có tài ứng đối. Nghe bài minh, người Nguyên lại càng thán phục tài năng ứng đối của Mạc Đĩnh Chi.

Nguyên Thành Tổ xem xong bài minh khuyên son chữ Y và châu phê bốn chữ “Lưỡng quốc Trạng nguyên” (trạng nguyên hai nước), rồi tự tay trao sắc phong cho Mạc Đĩnh Chi. Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi thể hiện bản lĩnh sứ thần An Nam Mạc Đĩnh Chi không chỉ giúp tăng cường vị thế của Đại Việt với Trung Hoa, mà cũng để lại hậu duệ của mình tại Cao Ly.

Bấy giờ, sứ bộ nước Việt giao lưu rất thân thiết với sứ bộ nước Cao Ly. Sự tương đồng hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, cùng với tài năng của Mạc Đĩnh Chi làm sứ thần Cao Ly mến mộ.

Vị sứ thần Cao Ly đã mời ông sang chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được một nữ, và lần ông đi sứ thứ hai thì sinh một nam, từ đó lập ra một dòng họ ở Cao Ly. Vậy là Đại Việt đã có ít nhất 3 dòng họ tại xứ Cao Ly: 2 dòng họ Lý và 1 dòng họ Mạc. Sau này, một hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi đã tìm đến Việt Nam, bút đàm Hán tự với ông Lê Khắc Hoè.

Sau đó ông Hòe có viết bài “Người Triều Tiên đi bán sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi”, muốn tìm họ Mạc để nhận họ, đăng trên An Nam tạp chí số 4 năm 1926.

Sau này Vũ Hiệp sưu tập và đăng trên tạp chí Nghiên cứu Sử số 2, 1996 tại Sài Gòn. Mạc Đĩnh Chi làm quan trải 3 triều vua: Trần Anh Tông (1293 – 1314), Trần Minh Tông (1314 – 1329), Trần Hiếu Tông (1329 – 1341) đến chức Đại Liêu ban Tả bộc xạ (Tể tướng).

Khi làm quan thì ông nổi tiếng là trung thực và thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước, đến lúc già về hưu chỉ có nếp từ đường (thờ tổ tiên) nhỏ bé mà thôi, thường ngày ông vẫn ra ngồi nơi quán lá uống bát nước vối, chuyện trò thân mật với dân làng. Ông sống thanh bạch, giản dị như những người dân quê.

Ngày nay để tưởng nhớ công lao của ông, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều có đường phố, trường học mang tên Mạc Đĩnh Chi.

Hoàng Dũng, sưu tầm và đăng lại Group Việt Sử Giai Thoại.

Donate Box
Donate

Donate cho tác giả

© Bản quyền 2021, VIET HISTORY