Cành đào báo tiệp và chiếc bánh Tét trong Đại thắng mùa xuân 1789

Các Cuộc Kháng Chiến

Tương truyền sau khi truyền ba quân nấu chiếc bánh tét đem theo làm quân lương, ít ngày sau binh đoàn thần tốc Tây Sơn đã hoàn toàn làm chủ Thăng Long và tiêu diệt toàn bộ quân xâm lược. Ngay sau khi vào thành, vị vua uy dũng nhưng hào hoa – Quang Trung đã cho ngựa trạm đem ngay một cành đào từ Thăng Long về Phú Xuân tặng cho người vợ yêu xứ Bắc của mình để báo tin chiến thắng, tạo thêm một giai thoại đáng nhớ trong mùa xuân huy hoàng năm đó…

Vào thuở ấy, hoa đào xứ Bắc và bánh tét của Đàng Trong chắc ít khi nào có khả năng hội ngộ ở Thăng Long. Ấy vậy mà vào mùa xuân năm 1789, cả hai vật phẩm này đều trở thành giai thoại mỗi khi nhắc tới chiến thắng huy hoàng của quân Tây Sơn đánh bại quân Thanh trên đất kinh đô…

Quang Trung đại phá quân Thanh: Chiêu Thống cùng đường cầu Bắc Quốc; Danh tướng Thanh triều kíp xuôi Nam

Tháng 5 năm 1788, vua Lê Chiêu Thống bạc nhược, thế cùng lực kiệt chạy sang cầu cứu nhà Thanh. Triều đình nhà Thanh nhân cơ hội này liền thực hiện âm mưu xâm chiếm nước Việt để mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam.

Vua Càn Long phái Tôn Sĩ Nghị điều động quân chiến đấu cùng với hệ thống dân công tiếp vận binh lương từ 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúy Châu, Vân Nam, số quân tính cả dân binh phu phen khoảng 20 vạn quân kéo sang nước ta dưới danh nghĩa phù Lê. Bên cạnh đó Tôn Sĩ Nghị còn đặt các đài trạm (trạm lương thảo), dịch trạm (trạm truyền tin) từ các tỉnh nam Trung Hoa đến ải Nam Quan nối tới Thăng Long, tất cả đều được tổ chức thật chu đáo nhằm bảo đảm thành công tốt nhất cho chiến dịch.

Cành đào báo tiệp và chiếc bánh Tét trong Đại thắng mùa xuân 1789
Vua Càn Long phái Tôn Sĩ Nghị điều động quân chiến đấu cùng với hệ thống dân công tiếp vận binh lương. (Ảnh: Wikipedia)

Đội quân viễn chinh tiến đánh nước Việt cũng toàn các tướng lãnh nổi tiếng đương thời như: 

Tổng chỉ huy toàn quân Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng, một danh nho người Hán, một thượng thư triều đình có nhiều công lao, đã được vẽ hình trưng ở Tử Quang Các.

Quân chia làm hai đường chính tiến vào nước ta. Đạo quân phía Đông gồm có các tướng lãnh:

Tổng chỉ huy: Đề đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh, võ tướng, võ trạng nguyên, đệ nhất dũng sĩ Mãn Châu tước hiệu Ba Đồ Lỗ. Đây là một mãnh tướng kỵ binh dày dạn kinh nghiệm trận mạc tại Kim Xuyên, Cam Túc, Đài Loan. Do có nhiều công trạng nên được ghi tên đứng trước 20 đại thần ở Tử Quang Các.

Phụ tá chỉ huy:Tổng binh Quảng Tây Thượng Duy Thăng và phó tướng Tôn Khánh Thành. Thượng Duy Thăng là tướng lãnh thuộc Tương Lam kỳ Hán quân, cháu 4 đời Bình Nam Vương Thượng Khả Hỷ, tổng binh Hữu Giang Trấn ở Quảng Tây.

Phụ tá chỉ huy: Tổng binh Quảng Đông Trương Triều Long và phó tướng Lý Hóa Long. Trương Triều Long vốn là danh tướng kỵ binh, tổng binh Phúc Kiến, công thần xếp thứ 31 có hình vẽ trưng ở Tử Quang Các.

Đạo quân phía Tây gồm có các tướng lãnh:

Tổng chỉ huy: đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh. 

Phụ tá chỉ huy : Tổng binh Thọ Xuân Đinh Trụ và Tổng binh Khai Hóa Tôn Khởi Giao.

Ngoài ra còn có cánh thổ quân của Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống, là một thổ quan ở Điền Châu, dẫn theo 1500 thổ binh quân người Miêu giỏi leo trèo, chạy trên núi, trên vách cao như đi đường phẳng cũng đến gia nhập đoàn quân Nam chinh.

Với hàng tướng lĩnh cao cấp tài giỏi như vậy, cùng lực lượng khoản 20 vạn quân và dân binh, trạm dịch đầy đủ, kể cả sự hỗ trợ sát biên giới của Phúc Khang An, mới thấy rõ khao khát muốn chiếm lấy nước Việt của vua tôi nhà Thanh lớn như thế nào.

Ngày 21/11/1788, quân Thanh chia làm 3 đạo tiến vào biên giới nước Việt, thẳng đến Thăng Long sau khi chiến thắng một số trận đánh nhỏ với quân Tây Sơn. Ngày 22/11 Tôn Sĩ Nghị vào thành Thăng Long làm lễ sắc phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Tôn Sĩ Nghị dự tính quân Tây Sơn có tiến ra Bắc cũng phải mất 15 ngày mới đến được Thăng Long, nên ông ta cho lập hệ thống phòng thủ kéo dài từ Gián Khẩu ở Ninh Bình (do Hoàng Phùng Tử của Lê Chiêu Thống lập đồn tiền tiêu chặn quân Tây Sơn), tiếp đến là đồn Nguyệt Quyết (Hà Nam), Nhật Tảo (Hà Nam), Hà Hồi (Hà Nội) và Ngọc Hồi (Hà Nội). Đồn Ngọc Hồi là đại bản doanh, nơi tập trung quân nhiều, công sự kiên cố đặt dưới sự chỉ huy của Hứa Thế Hanh.

Tôn Sĩ Nghị rất yên tâm vì các đồn có thể yểm trợ, thông tin cho nhau khi cần thiết. Dựa vào cách bố trí trên, Tôn Sĩ Nghị quyết định cho tướng lĩnh, quân sĩ ăn tết, vui chơi thoải mái qua Tết năm Kỷ Dậu 1789 sẽ tiến đánh quân Tây Sơn, bắt Nguyễn Huệ, sau đó tiến sâu vào phía nam nước Việt. 

“Nghị nói rằng: Năm đã gần hết, việc gì phải vội vàng, không kíp đánh vội, giặc còn gầy, ta nên nuôi cho nó béo, để nó tự dẫn xác đến để làm thịt. Truyền lệnh cho các quân đóng trại yên nghỉ hẹn đến sang xuân ngày mồng sáu tháng giêng ra quân”  – (Đại Nam liệt truyện).

Được chủ tướng cho phép, quân Thanh ở Thăng Long đi đứng nghênh ngang, hống hách tới khắp nẻo đường cướp giật của cải, đánh đập, hãm hiếp dân lành. Còn quân của Lê Chiêu Thống thì vơ vét lương thực của dân để cung cấp cho bọn xâm lược. Dân ta đã từng lầm than, đau khổ, mất mát dưới sự cai trị của vua Lê – chúa Trịnh, giờ đây thêm nạn giặc ngoại xâm. Thật không biết cầu cứu vào đâu, đau khổ lại thêm chồng chất.

Cành đào báo tiệp và chiếc bánh Tét trong Đại thắng mùa xuân 1789
Quân Thanh ở Thăng Long đi đứng nghênh ngang, hống hách tới khắp nẻo đường cướp giật của cải, đánh đập, hãm hiếp dân lành. (Ảnh: Wikipedia)

Sử chép:

“… Bấy giờ luôn năm mất mùa, đói kém, nhất là năm này lại càng quá lắm. Quân lính nhà Thanh đóng ở kinh thành rông rỡ cướp bóc; dân chúng lại càng chán ghét. Triều đình đốc thúc lương quân, các châu và các huyện đều không cung ứng. Nhà vua (Lê Duy Kỳ) bèn sai các quan chia nhau làm việc này. Dân chúng có người đến nỗi phải khóc lóc mà dâng nộp. Ðường tiếp tế lương thực quân Thanh thì xa, nên bao nhiêu lương và tiền mà triều đình thu được của dân đều đem cung đốn cho họ hết sạch. Còn vài vạn người vừa nghĩa binh các đạo vừa ưu binh Thanh Nghệ thì đều lòng không dạ trống đi theo việc binh nhung. Lòng người do đấy lại càng chia rẽ tan tác…”  – (Trích: Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục).

Xem bài khác : Bản Quân lệnh vua Quang Trung gửi cho Ngô Văn Sở và bộ binh Bắc Hà

Tân hoàng đăng cơ chính vị hiệu; Bánh tét làm lương, hẹn ngày xuất chinh

Tôn Sĩ Nghị đem quân sang nước ta dễ dàng chiến thắng và thẳng chiếm Thăng Long  là do quân Tây Sơn theo chủ trương của Ngô Thì Nhậm rút về phòng tuyến Tam Điệp, Biện Sơn chờ lệnh, các tướng như Phan Văn Lân chiến đấu cũng chỉ để cầm chân quân giặc. 

Sau khi nhận tin cấp báo, Bắc Bình vương quyết định lên ngôi để chính vị hiệu, tập trung quân lực đánh bại quân Thanh. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22/12/1788), vua cho đắp đàn Nam Giao ở núi Bân (cạnh núi Ngự Bình) làm lễ tế cáo trời đất, tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. 

Nắm được tình hình quân Thanh chưa gấp rút xuôi Nam, vua Quang Trung bàn với các tướng lĩnh vạch kế hoạch hành quân thần tốc để tiến nhanh, đánh nhanh tạo yếu tố bất ngờ cho giặc. Về quân lương, vua Quang Trung đã có sáng tạo độc đáo: lấy theo mẫu bánh chưng truyền thống của dân tộc ta tạo thêm một loại bánh dạng hình trụ tròn, dài hơn một gang tay rưỡi, nặng 1,5kg đến 2kg, bánh có thể bảo quản trong khoảng 10 ngày. Một người lính trong quá trình hành quân dùng 1 đòn trong 2 ngày. Nó tiện lợi, dễ lột tét ăn, dễ cất khi không ăn hết. Nó giải quyết được sự gọn, nhẹ, nhanh, không cần thời gian dừng để nấu ăn. Vua cho người đưa mẫu bánh đã thiết kế cho người dân Thuận Hóa và người dân Huế gói. 

Một không khí tấp nập, rộn ràng, đầy quyết tâm không chỉ người dân tại hai nơi ấy, mà còn có cả dân địa phương gần đó. Kẻ hái lá, người chẻ lạt; người không khéo tay thì đãi nếp, đãi đậu; các mẹ thái thịt ướp gia vị, cụ ông nhóm bếp bắc thùng nấu bánh lên; chị em phụ nữ khéo tay thì gói bánh. Từng đòn bánh tét thẳng tắp, xanh mượt ngày càng chồng lên cao. Sự đồng lòng, hiệp sức này làm ta nhớ đến cảnh đẵn gỗ, vót chông nhọn cắm xuống sông Bạch Đằng của dân làng Rừng trong ba cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc. Bánh nấu chín xong chuyển nhanh đến Tam Điệp. Gọi là bánh tét, vì khi ăn bánh ta dùng lạt tét từng phần ra, nên người Huế bấy giờ gọi là bánh Tết, sau đặt là bánh Tét.

Ngày 29/11 Mậu Thân (26/12/1788), vua Quang Trung ra lệnh xuất quân, tập kết tại Tam Điệp, Biện Sơn. Tại Nghệ An, vua tuyển thêm quân, quân số cả cũ lẫn mới lên đến 10 vạn. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền bài ca:

“Thùng thùng trống đánh quân sang,
Chợ Già trước mặt, quán Mau bên đàng.
Qua Chiêng thì rẽ sang Giàng,
Qua quán Đông Thổ vào làng Đình Hương.
Anh đi theo chúa Tây Sơn,
Em về cày cuốc mà thương mẹ già”…

Tuyển quân xong, vua Quang Trung tổ chức cuộc duyệt binh lớn. Tương truyền, ông đọc bài hịch để kêu gọi ba quân, trong đó có những câu như sau:

“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ”.
(Minh Đô Sử-Lê Trọng Hàm).

Đồng thời vua Quang Trung sai người đem thư đến Tôn Sĩ Nghị để xin đầu hàng, lời lẽ trong thư rất nhã nhặn, khiêm tốn làm cho Tôn Sĩ Nghị ngạo mạn hơn. Đó cũng là khoảng thời gian để vua cho xác định lại chính xác lực lượng, bố trí phòng thủ, địa hình từng khu vực, chỗ mạnh yếu của giặc. Vua Quang Trung chia quân ra làm 5 đạo quân: tả, hữu, tiền, hậu và trung quân gồm có tân binh do đích thân ngài chỉ huy:

Đạo quân chủ lực do vua Quang Trung chỉ huy đánh thẳng vào nam Thăng Long nơi đóng quân của Hứa Thế Hanh.

Đạo quân do đô đốc Long chỉ huy từ Tam Điệp đến Thiên Quan (Ninh Bình), tiến đến Nhân Mục (Từ Liêm, Hà Nội), bất ngờ tấn công quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống, rồi qua cửa tây nam (Đống Đa, Hà Nội) và tiến vào uy hiếp Thăng Long.

Đô đốc Bảo chỉ huy đội kỵ binh đến Ứng Hòa (Hà Tây) tiến ra Đại Áng (Thường Tín, Hà Tây) ở phía nam đồn Ngọc Hồi để phối hợp với quân chủ lực.

Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy một cánh quân vượt biển vào sông Lục Đầu đánh chiếm Hải Dương và chặn đường rút lui của giặc bên kia sông Hồng.

Đô đốc Lộc dẫn quân vượt biển vào sông Lục Đầu tiến đến Phượng Nhãn bịt đường tháo chạy của giặc.

Ngày 30 tháng chạp 1788, vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn tết trước. Ông hẹn với ba quân mùng 7 tháng giêng năm Kỷ Dậu 1789 sẽ vào ăn tết ở Thăng Long. Giữa đêm 30 tết, quân Tây Sơn xuất phát đại phá quân Thanh. 

Cành đào báo tiệp và chiếc bánh Tét trong Đại thắng mùa xuân 1789
Ngày 30 tháng chạp 1788, vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn tết trước. Ông hẹn với ba quân mùng 7 tháng giêng năm Kỷ Dậu 1789 sẽ vào ăn tết ở Thăng Long. Giữa đêm 30 tết, quân Tây Sơn xuất phát đại phá quân Thanh. (Ảnh: baomoi.com)

‘Đánh một trận sạch không kình ngạc; Đánh hai trận tan tác chim muông’…

Bắt đầu chiến dịch, Quân Tây Sơn thần tốc xuất phát liên tiếp hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, bắt hết tàn quân và quân do thám của địch, phong tỏa mọi tin tức. 

Ngày mùng 3 tháng giêng, quân Tây Sơn tiến nhanh đến đồn Hạ Hồi, vây chặt đồn, bắc loa gọi giặc đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước xuất hiện quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, thảy đều ra hàng.

Đại Nam liệt truyện viết: “Từ cửa ô thành Thăng Long đến xã Hạ Hồi Thượng Phước, quân nước Thanh đóng liền dặn bảo, đặt súng lớn lên, ngoài đồn ngầm đặt chấn địa lôi phòng bị rất vững. Năm Kỷ Dậu, mùa xuân, nửa đêm ngày mồng ba tháng giêng quân của Huệ đến Hà Nội, mật vây lấy đồn, lấy ống loa của quân truyền gọi, những kẻ ứng lời, đổi nhau dạ, gần đến vài vạn người. Trong đồn run sợ, không phải đánh tự tan vỡ, lấy hết được lương thực và khí giới của quân.”

Ngô Ngọc Du, nhà thơ đương thời viết:

“Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới
Như trên trời xuống dám ai đương”.

Dù đà tiến quân Tây Sơn đánh hạ các đồn rất nhanh và chớp nhoáng nhưng mũi tiến công lại dừng lại ngay trước đồn Ngọc Hồi vì đây là một đồn lớn trấn giữ bởi các đạo quân tinh nhuệ của địch và chiến thắng ở đây có ý nghĩa quyết định với toàn bộ chiến dịch. Vua Quang Trung dừng quân ở đây chẳng qua là đợi tín hiệu giáp công của các cánh quân còn lại.

Thật vậy, cánh quân của đô đốc Long thoạt nhìn tưởng tiến đánh đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh ở Sơn Tây, thì bất ngờ chuyển hướng đánh đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống, quân Thanh bị bất ngờ vỡ trận, Sầm Nghi Đống tự sát. Vậy là sự phòng thủ sau lưng của kinh thành đã bị đột phá, ngay lập tức Quang Trung lệnh cho các cánh kỵ binh, bộ binh, tượng binh với những khẩu đại bác trên lưng tiến thẳng tấn công vào đồn Ngọc Hồi vào rạng sáng mùng 5 tết.   

Hứa Thế Hanh vội ra lệnh cho đội kỵ binh tinh nhuệ lao ra nghênh chiến. Nhưng vừa trông thấy đàn voi, ngựa quân Thanh sợ hãi lồng lộn quay về, rối loạn đội hình, chà đạp lẫn nhau, lui vào thành cố thủ. Đội quân cảm tử Tây Sơn cứ 20 tốp khiêng một tấm mộc bằng gỗ phía ngoài quấn rơm ướt, che chở cho quân xung kích xông thẳng vào đồn như thác lũ, mặc cho đạn pháo của quân Thanh bắn ra như mưa. Từ hai bên sườn đồi Ngọc Hồi, quân Tây Sơn  dùng đại bác từ trên mình voi và phóng hỏa hổ đốt phá thiêu cháy quân địch.Trước sức tiến công như vũ bão của quân Tây Sơn, các chiến lũy và toàn bộ trận địa phòng thủ phía nam đồn Ngọc Hồi bị phá hủy tan tành. Sở chỉ huy của Hứa Thế Hanh bị tiêu diệt.

Giặc choáng váng vì đòn tấn công bất ngờ của quân Tây Sơn, lại khiếp đảm trước biển lửa và tiếng reo hò vang trời của quân và dân ta. Quân Thanh chạy tán loạn, lớp chết, lớp tìm đường trốn chạy về nước. Riêng Tôn Sĩ Nghị sợ mất vía, nhảy lên ngựa không có yên, không mặc áo giáp, bỏ cả sắc thư, ấn tín, kỳ bài… được tướng Khánh Thành bảo vệ nhằm hướng bắc mà chạy về. Lê Chiêu Thống cũng vội vàng chạy theo, thật là:

“”Vua Lê khi ấy vội vàng
Cùng Tôn Sĩ Nghị sang đàng Bắc Kinh.
Qua sông lại sợ truy binh,
Phù kiêu chém đứt, quân mình thác oan”…
(Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái).

Trận đánh Thọ Xương – Chiến thắng Kỷ Dậu, 1789. (Ảnh: Wikipedia)

Toàn bộ các tướng lĩnh cao cấp của của địch đều bỏ mạng, ví như: Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long, Sầm Nghi Đống, Dương Hưng Long…

Cánh quân của Ô Đại Kinh mới đến Sơn Tây đóng quân được mấy ngày thì nghe tin Tôn Sĩ Nghị bại trận, vội dẫn quân rút về nước.

Chỉ trong vòng 6 ngày (sớm hơn dự định 1 ngày), quân Tây Sơn đã đánh tan trên 20 vạn quân Thanh. Chiều mùng 5 tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung cùng các tướng sĩ tiến vào Thăng Long trong sự vui mừng của toàn dân. Thực là:               

 ““Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”.
(Ngô Ngọc Du)

Nghĩa vợ tình chồng cành đào biếc; Bắc phạt quân ca khúc khải hoàn

Mùa xuân 1789 không chỉ rực rỡ trong không khí đại thắng giữa lúc những bông hoa đào biếc khoe sắc trong gió xuân, mà hương xuân còn thắm cả trong cành hoa đào mà vị hoàng đế uy dũng hào hoa đã gửi về cho người vợ phương xa của mình trong giai thoại thú vị như sau:

“Hoa đào Thăng Long đỏ rực đón người anh hùng và nghĩa quân, chưa có năm nào hoa đào nở rộ và đẹp như thế. Vị vua trẻ chọn cành đào Nhật Tân đang nụ, sai người hỏa tốc mang vào Phú Xuân tặng Ngọc Hân hoàng hậu. Cành đào được buộc chéo bằng lạt giang mềm, ngoài phủ gấm vàng biểu tượng quyền uy của nhà vua. Ở mỗi trạm thay người thay ngựa, quan chỉ huy là kỵ sĩ quỳ nhận khẩu dụ rồi lập tức lên đường. Thăng Long – Phú Xuân thời Lê được chia làm 36 trạm. Trạm đầu là Hoàng Mai (ngã tư Minh Khai bây giờ). 

Đến nay còn truyền tụng câu ca: 

“Ba mươi sáu trạm đây là một
Hai chữ Hoàng Mai rõ bảng treo”.

Không kể ngày đêm, kỵ sĩ ra roi cho ngựa phi nước đại, qua bao sông sâu, núi cao. Đến tối ngày mồng 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), cành đào báo tin toàn thắng về tới thành Phú Xuân. Nhìn cành đào lung linh hoa nở, Ngọc Hân hoàng hậu sung sướng rơi lệ ngỡ mình đang đứng trên mảnh đất Thăng Long muôn vàn yêu quý…”

(Cành đào xuân Kỷ Dậu – Lương Sơn: Tạp chí sông Thương).

Lời kết:

Thắng lợi xuân Kỷ Dậu 1789 đã đem lại nụ cười rạng rỡ trên mỗi khuôn mặt người dân Việt. Niềm hạnh phúc, sự tự do đi lại, làm ăn, sinh sống đã trở lại. Những ngày đen tối, tủi nhục, đau khổ không còn nữa. Người dân Việt lại nô nức vui hưởng cái tết tự do dù có muộn màng hơn. Và cũng như mọi năm, nhà nhà quây quần bên nhau làm mâm lễ vật truyền thống với bánh chưng, bánh giầy dâng lên Trời Đất, tổ tiên. Riêng người dân miền trung trên mâm cỗ cúng vào Tết ấy có thêm loại bánh mới – Bánh Tét. Cảm tạ Trời Đất đã sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc xuất chúng. Họ vẫn trường tồn mãi trong lòng bao thế hệ Việt Nam.   

Tác giả Tâm Thanh

– Nguồn tư liệu tham khảo: 

Hoàng Lê Nhất Thống Chí; An Nam ký lược; Khâm định An Nam sử lược; Việt sử thông giám cương mục; Đại nam chính biên liệt truyện.