Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút: Nguyễn Huệ ghi danh vào lịch sử

Các Cuộc Kháng Chiến

Trong cuộc đời chinh chiến của mình, Bách thắng vương Nguyễn Huệ đã lập vô số chiến công khi dẫn quân nam chinh bắc chiến. Những trận thắng oanh liệt của Nguyễn Huệ đã giúp ông hiện hữu trong ngôi đến huyền thoại lưu giữ danh sách những vị tướng và quân vương dụng binh xuất sắc nhất của dân tộc Việt Nam. Nói về chiến công đánh giặc ngoại xâm, ngoài trận chiến vĩ đại đập tan 29 vạn quân Thanh xâm lược thì chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785 cũng là một chiến công oanh liệt nhất của Quang Trung Đại đế và cũng là một trong số những trận đánh hấp dẫn nhất lịch sử nước ta. Có thể nói, vua Quang Trung đã có một trận đánh bình định một phần ba thiên hạ.

Với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, chỉ trong một ngày, đội quân xâm lược 50.000 người của Xiêm La và Nguyễn Ánh đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Chỉ với một trận đánh, Nguyễn Huệ đã đặt toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong dưới quyền kiểm soát của mình. Có lẽ trong lịch sử Việt Nam (và không chỉ riêng Việt Nam) chưa hề có một đội quân bách chiến bách thắng nào tạo dựng được chiến công vang dội như đội quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ.

Nguyễn Ánh bí thế phải cầu viện ngoại quốc

Nguyễn Huệ lần đầu tiên được giao trọng trách làm chủ tướng tự mình cầm binh khi chỉ mới 23 tuổi và từ đây, một trong những đại soái oai hùng nhất trong lịch sử nước Việt bắt đầu tạo dựng danh tiếng của mình với một mỹ từ được dân gian ca ngợi cho đến ngày nay : Bách chiến bách thắng.

Tháng 2 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ vào đánh Gia Định từ cửa biển Cần Giờ. Quân Nguyễn đại bại, Nguyễn Ánh thua to phải chạy về Ba Giòng (Gia Định), quân không còn tới 100 người. Sự sự truy đuổi của Tây Sơn, Nguyễn Ánh và khoảng 5 – 6 bầy tôi trung thành chạy ra đảo Côn Lôn (Cổ Long). Nguyễn Huệ lại cho quân vây đảo Côn Lôn, Nguyễn Ánh rơi vào đường cùng may mà nhờ có sóng lớn nên trốn thoát, ông và tàn quân lại chạy về đảo Cổ Cốt.

Sau khi thấy Tây Sơn rút quân, Nguyễn Ánh lại chạy về Phú Quốc, nhưng lúc này lương hết, còn cột buồm thì gãy, nhờ có thuyền gạo của một người ở Hà Tiên giúp mới qua cơn bĩ cực. Nguyễn Ánh để vợ con ở lại đảo, đem thuyền về cửa biển Ma-ni liền bị do thám của Tây Sơn phát hiện, Nguyễn Ánh phải chạy ra biển lênh đênh suốt 7 ngày đêm hết cả lương thực và nước ngọt. Cuối cùng, “số phận” chưa tận nên gặp được dòng nước ngọt mới thoát chết khát lại trở về Phú Quốc. Quân Tây Sơn vây đánh nhưng lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, Nguyễn Ánh thừa cơ lại trốn thoát, chạy hẳn ra đảo Thổ Chu cách xa đất liền.

Sau khi đuổi Nguyễn Ánh phải chạy cùng đường, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ rút quân về Quy Nhơn.

Bị đánh liên tiếp, trong cơn cùng quẫn, Nguyễn Ánh liền nhờ giáo sĩ Bá Đa Lộc cùng Phạm Văn Nhơn đem Thế tử Cảnh lúc đó mới 4 tuổi sang cầu viện nước Pháp. Mặt khác, Nguyễn Ánh lại sai người đi cầu cứu vua Xiêm.

Thời gian này, nước Xiêm dưới triều vua Cha-kri (Chất Tri) đang thi hành chính sách bành trướng ra các nước trong khu vực. Vua Xiêm thấy Nguyễn Ánh cầu viện thì cả mừng, cho rằng có thể nhân cơ hội nước Việt đang suy yếu bởi nội chiến mà có thể tiến chiếm đất đai.

Theo sách Mạc thị gia phả, khoảng tháng 7/1784, vua Xiêm mượn cớ giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn đã cử hai viên tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm tổng chỉ huy 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền. Vua Xiêm cũng phái hai tướng Lục Côn và Sa Uyên cùng với Chiêu Thùy Biện – người đang là nhiếp chính vương của Chân Lạp nhưng thân Xiêm, đem hai đạo bộ binh khoảng 3 vạn quân tiến sang Chân Lạp để từ đó mở một mũi tiến công đánh phối hợp. Đội quân xâm lược này chia làm 2 đạo tiến sang nước ta. Đi sau chúng là khoảng 3-4 nghìn quân Nguyễn Ánh do Chu Văn Tiếp chỉ huy với chức Bình Tây đại đô đốc và đô đốc Mạc Tử Sanh dẫn đường.

Như vậy, lực lượng bản bộ của quân Xiêm có khoảng hơn hai vạn quân. Lực lượng đó thường xuyên được tăng viện bởi quân Việt (cánh quân thủy) và quân Chân Lạp (cánh quân bộ). Cánh quân bộ được tăng viện bởi quân Chân Lạp do Chiêu Thùy Biện người Chân Lạp và 2 cánh quân khác. Cánh quân thủy được tăng viện bởi quân bản bộ của chúa Nguyễn đi từ Xiêm La về cộng với các cánh quân khác nằm sẵn trong nước. Ước tính lực lượng liên quân Xiêm – Nguyễn – Chân Lạp có quân số khoảng hơn 2 vạn trực tiếp chiến đấu và 3 vạn quân hỗ trợ.

Quân Xiêm thế như trẻ tre, binh tướng Tây Sơn không sức chống đỡ

Tháng 7 năm 1784,  thủy quân Xiêm cùng với quân bản bộ của Nguyễn Ánh đổ bộ lên Kiên Giang đánh lấy Rạch Giá, tiến đánh quân Tây Sơn của Đô đốc Nguyễn Hóa ở Trấn Giang (Cần Thơ) rồi 3 vạn bộ binh của địch do Sa Uyển và Chiêu – Thùy Biện chỉ huy, từ Chân Lạp tiến xuống phối hợp với thủy binh nhanh chóng chia quân tiến chiếm các miền Ba Thắc (Sóc Trăng), Trà Ôn, Sa Đéc, Mân Thít. Dễ dàng lấy được càng vùng đất mới, quân Xiêm không vội vàng tiến quân nữa mà chia nhau trấn giữ các vùng đất vừa chiếm được, từ đây chúng bắt đầu lộ dã tâm của quân cướp nước khi thi nhau cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng. 

Không để cho quân thù chiếm được tiên cơ, tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa liền đem quân thủy từ Gia Định tiến xuống Long Hồ (Vĩnh Long) để ngăn cản bước tiến của quân Xiêm, đồng thời xem xét tình hình với hy vọng nhanh chóng thu hồi các vùng đất đã mất.

Ngày 30 tháng 11 năm 1784, Đại đô đốc Chu Văn Tiếp đem lực lượng của chúa Nguyễn tiến vào sông Mân Thít. Tiền quân Chưởng cơ Tây Sơn tên là Bảo (Chưởng tiền Bảo) đã thăm dò được tình hình nên cho quân ra vây đánh. Trong trận này, Chu Văn Tiếp thất thủ và chết tại trận. Ngay khi vừa được tin, chúa Nguyễn Ánh đã cho quân đánh gấp vào cứu viện, chém chết Chưởng tiền Bảo cùng nhiều quân Tây Sơn. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Nguyễn Ánh và sự uy hiếp của quân Xiêm, xét thấy quân ít, không chống chọi được, phò mã nhà Tây Sơn là Trương Văn Đa cho quân lui về giữ Long Hồ rồi cho người cấp báo tình hình cho Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn.

Về phía quân Nguyễn Ánh, sau khi chỉ huy chính Chu Văn Tiếp tử trận, Nguyễn Ánh đã cử Lê Văn Quân lên thay. Lê Văn Quân nhanh chóng muốn chứng tỏ tài năng của mình nên đã cho quân tiến đánh lũy Ba Lai (Bến Tre) và Trà Tân (Định Tường). Nhưng vốn dĩ quân tướng Tây Sơn giai đoạn này đều rất dũng mãnh chứ không hề tỏ ra sợ sệt uy thế của kẻ thù. Quân Nguyễn đi đến đâu cũng gặp phải sự kháng cự từ các tướng trấn thủ của Tây Sơn. Khi Lê Văn Quân tiến đánh lũy Ba Lai đã gặp phải sức chiến đấu ngoan cường của Tây Sơn, Chưởng cơ của quân Nguyễn là Đặng Văn Lượng bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Kim chém chết, tướng Lê Văn Quân cũng bị Lê Văn Kế chém trọng thương. 

Biết được không thể đánh nhanh thắng nhanh, bộ chỉ huy các cánh quân xâm lược đã quyết định tạm dừng thế công, cho đóng quân dọc theo sông Tiền, từ cù lao Năm Thôn trở lên hướng Mỹ Tho và đặt đại bản doanh tại Trà Tân (Cai Lậy, Tiền Giang).

Sau khi ngừng thế tiến công, quân Xiêm La lộ rõ bộ mặt cướp nước, khi ra sức cướp bóc tài sản, giết người vô cớ. Quân Xiêm đi đến đâu cướp của, giết người, hãm hiếp phụ nữ, rồi lại thi nhau chở thóc gạo về nước khiến cho dân chúng lầm than, lòng người oán giận. Nguyễn Ánh dù bất bình nhưng không can thiệp được vì đã mất Chu Văn Tiếp, người liên lạc chính giữa hai bên Xiêm-Nguyễn. Tận mắt chứng kiến tội ác của quân Xiêm, một số bộ tướng của Nguyễn Ánh cũng không chịu nổi, đã về với quân Tây Sơn.

Tính đến cuối năm Giáp Tuất 1784, tức là sau 5 tháng kể từ khi đem quân vào nước ta, quân Xiêm chỉ chiếm được nửa phần đất phía tây Gia Định. Quân Tây Sơn vẫn làm chủ miền đất phía đông Gia Định và giữ vững những vị trí quan trọng như Mỹ Tho, Gia Định.

Nguyễn Huệ nắm quyền Tổng chỉ huy, quân Tây Sơn phản công

Nguyễn Huệ dụng mưu, kẻ thù chia rẽ

Cuối năm 1784, Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc nhận được tin cấp báo từ Gia Định về việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm qua xâm phạm bờ cõi, ông lập tức cử Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy, đem đại binh tiến vào Gia Định đánh giặc. Nguyễn Huệ dùng thuyền chiến vượt biển vào đến Gia Định khoảng đầu tháng 1 năm 1785. Tháng giêng năm 1785, Nguyễn Huệ đã có mặt tại Mỹ Tho để nghênh chiến.

Ngay khi đến Mỹ Tho, nhận thấy Trà Tân là cứ điểm tập trung rất đông quân Xiêm, được canh phòng cẩn mật, Nguyễn Huệ chủ trương nhử địch ra khỏi Trà Tân để đánh một trận sống còn với chúng. Ông đã cho cử một ít quân mở những cuộc tập kích nhỏ để thăm dò tình thế quân địch. 

Không nóng vội dàn quân đánh nhau khi chưa nắm rõ lực lượng kẻ địch, Nguyễn Huệ một mặt giả vờ xin giảng hòa với quân Xiêm để phân hóa nội bộ kẻ thù, mặt khác tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị diệt địch. Biết quân Xiêm tham tàn, Nguyễn Huệ cho người đưa tiền của sang mua chuộc, bàn việc giảng hòa, cốt làm cho tướng Xiêm chủ quan và làm tăng thêm mối hoài nghi của chúa Nguyễn đối với quân Xiêm.

Chiêu Tăng và Chiêu Sương là hai viên tướng rất nham hiểm, chúng muốn “tương kế tựu kế”, lợi dụng việc Nguyễn Huệ xin giảng hòa để do thám tình hình bố phòng của Tây Sơn. Đến lượt Nguyễn Huệ lại khôn ngoan dùng chính chiêu của giặc để đánh giặc, ông vờ như không hề hay biết ý định của chúng, cứ ngày ngày sai người sang mời quân Xiêm đến xem chiến thuyền và khoe bày mọi chiến cụ của mình. Khi quân Xiêm về thì tặng cho vóc lụa.

Được đối xử hậu đãi, Chiêu Tăng và Chiêu Sương càng thêm kiêu ngạo. Chúng cho là Nguyễn Huệ hao tiền tốn của mà vẫn mắc mưu của chúng nhưng điều chúng không thể ngờ là ý định thật sự của Nguyễn Huệ không chỉ muốn làm chúng chủ quan xem thường mà còn để đánh vào lòng tin của Nguyễn Ánh với quân Xiêm. Quả đúng như Huệ đã dự tính, Nguyễn Ánh ngày một nghi kị Chiêụ Tăng và Chiêu Sương.

Ngoài mối nghi ngờ trên, càng ở gần nhau thì mâu thuẫn giữa quân Nguyễn, quân Xiêm và nhân dân Việt càng trở nên sâu sắc. Quân Xiêm cậy mình là kẻ cứu giúp nên đàn áp, cướp bóc nhân dân, khinh mạn cả chúa Nguyễn và quân Nguyễn. Còn bên Nguyễn Ánh thì lại hoang mang sợ mất lòng dân nên cũng từng mấy lần có ý định lui quân. Nội bộ trong liên quân xâm lược bắt đầu chia rẽ sâu sắc.

Đại Nam thực lục thì chép: “Vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng: “Muốn được nước phải được lòng dân. Nay Chu Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngự được. Nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm. Thà hãy lui quân để đừng làm khổ nhân dân”.

Chỉ với một mưu kế nhỏ của Nguyễn Huệ mà đã làm cho nội bộ quân xâm lược có sự hoài nghi lẫn nhau, dẫn đến sự chia rẽ trong lòng. Điều này chứng tỏ quân xâm lược tuy đông đảo nhưng thế của chúng không thật sự mạnh. Nguyễn Huệ chỉ một chiêu mà có được Nhân hòa và lại có thêm thời gian để nghiên cứu địa hình, bố trí một trận quyết chiến.

Lực lượng của quân Tây Sơn

Cuộc kháng chiến của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm buổi đầu diễn ra trong tương quan lực lượng hết sức chênh lệch. Tổng số quân Tây Sơn ở Gia Định – kể cả quân đồn trú của Trương Văn Đa và đoàn binh thuyền mới được tăng cường của Nguyễn Huệ chỉ khoảng 2 vạn người. Về số lượng, quân Tây Sơn chưa bằng một nửa quân Xiêm, chưa kể quân bản bộ của Nguyễn Ánh. Tuy vậy, về mặt trang bị vũ khí của quân đội thì Tây Sơn không hề thua kém quân Xiêm. Quân Tây Sơn ngoài bộ binh dũng mãnh thì còn có tượng binh, kỵ binh và một đội thủy binh mạnh với nhiều loại thuyền chiến lớn nhỏ khác nhau. Đặc biệt là có nhiều đại bác các cỡ. Đây là những đại bác của quân Nguyễn bị quân Tây Sơn chiếm được trong các trận đánh, bao gồm đại bác do quân Nguyễn chế tạo và do chính quyền họ Nguyễn mua của các công ty tư bản phương Tây.

Tuy quân Tây Sơn thiện chiến với vũ khí không thua kém quân địch và lại đang đại diện cho chính nghĩa nhưng Nguyễn Huệ đã đủ tỉnh táo để so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch. Ông đoán biết quân Tây Sơn không thể nào đánh thẳng vào Sa Đéc hay Trà Tân để giao tranh một trận trực diện với quân Xiêm được, Nguyễn Huệ liền đi xem xét địa hình, thăm dò lòng dân ở đây và tìm hiểu điểm mạnh, yếu của đối phương. Cuối cùng, ông quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, cách Mỹ Tho khoảng 12km, làm trận địa quyết chiến.

Địa thế diễn ra trận đánh

Sông Mỹ Tho là một dòng sông lớn, phía trên tiếp nước Tiền Giang rồi đổ ra biển qua cửa Đại, cửa Tiểu và các nhánh sông Ba Lai, Hàm Luông. Đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài chừng 7km. Lòng sông ở đây lại mở rộng hơn 1km, có chỗ đến trên dưới 2km. Với đoạn sông dài và rộng lớn như vậy, quân Tây Sơn có thể dồn hàng trăm thuyền chiến của địch lại mà tiêu diệt.

Hai bên bờ sông lúc đó có một số thôn xóm, nhưng thưa thớt, cây cỏ rậm rạp. Hai loại cỏ mọc nhiều ở vùng này là cỏ lác và cỏ tranh. Ven sông gần mặt nước là một dải rừng cây bần khá um tùm. Địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc giấu quân và mai phục của bộ binh Tây Sơn.

Đặc biệt, sông Mỹ Tho chảy qua phía trước Trà Tân và Mỹ Tho là hai vị trí đóng quân và cũng là đại bản doanh của quân Xiêm – Nguyễn và quân Tây Sơn. Quân địch từ Trà Tân đánh lên Mỹ Tho phải hành quân theo đường sông Mỹ Tho.

Sông Mỹ Tho ngày nay, đoạn diễn ra trận đánh Rạch Gầm - Xoài Mút
Sông Mỹ Tho ngày nay, đoạn diễn ra trận đánh Rạch Gầm – Xoài Mút

Khoảng giữa Rạch Gầm và Xoài Mút, dòng sông Mỹ Tho có cù lao Thới Sơn. Đây là một bãi đất bồi, chu vi dài khoảng 6km nằm hơi chếch về phía nam sông Mỹ Tho, đối diện với cửa sông Xoài Mút. Tiếp theo cù lao Thới Sơn về phía nam là cù lao Hộ hay bãi Tôn.

Tại Trà Tân và vùng nam bờ sông Mỹ Tho, Tiền Giang, quân địch đã tập trung một khối lượng khá lớn gồm đại bộ phận quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh. Trà Tân ở phía bắc sông Mỹ Tho, khoảng giữa Cái Bè và Bình Chánh đông. Địa hình và vị trí vùng này khá lợi hại. Dòng sông bị chia cắt bởi những cù lao lớn như cù lao Tân Phong, cù lao Trà Luật (hay cù lao Năm Thôn) và nhiều cồn cát, bãi sa bồi. Các nhánh sông chi chít nhưng hẹp. 

Địa thế đó rất thuận lợi cho việc bố trí phòng thủ, phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh và thủy binh. Vùng Trà Tân ở vào đầu sông Mỹ Tho tiếp với Tiền Giang và gần chỗ phân lưu của các sông Cổ Chiên, Hàm Luông, Ba Lai đổ ra biển. Khi tiến công, quân địch có thể từ Trà Tân theo dòng sông Mỹ Tho tiến đánh Mỹ Tho. Ở phía nam Tiền Giang và sông Mỹ Tho, quân địch phân chia một bộ phận đóng giữ những vị trí quan trọng như Sa Đéc, Long Hồ (Vĩnh Long), vừa để bảo vệ sở chỉ huy, ngăn chặn quân Tây Sơn có thể từ biển theo các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên đánh lên, vừa sẵn sàng tiếp ứng cho đại quân ở Trà Tân.

Trận quyết chiến Rạch Gầm – Xoài Mút

Sở dĩ Nguyễn Huệ chọn hai nhánh của sông Tiền làm nơi giao chiến là bởi lúc này, tham vọng của quân Xiêm trong bối cảnh cầu viện của Nguyễn Ánh là chủ động tấn công. Thêm vào đó, về địa thế, giữa hai sông nhỏ Rạch Gầm và Xoài Mút có cù lao Thới Sơn rất thuận lợi cho việc phục kích thủy bộ. Nguyễn Huệ chủ trương nhử địch ra khỏi căn cứ, kéo chúng đến một địa hình có lợi cho ta và tiêu diệt gọn bằng một trận quyết chiến theo lối đánh vận động trên sông.

Và chính trong trận chiến này, sử sách sẽ được chứng kiến mưu lược của vị tướng trẻ Nguyễn Huệ, người nổi tiếng không chỉ với những cuộc hành quân thần tốc về sau mà cũng rất am tường về thủy chiến.

Lược đồ mô tả trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Ảnh: Thư viện lịch sử.
Lược đồ mô tả trận chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Ảnh: Thư viện lịch sử.

Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ chưa vội vàng điều động quân đội lớn để đánh quy ước mà chỉ sử dụng một binh lực nhỏ mở những trận tập kích vào một số vị trí đóng quân của địch. Lợi dụng nước thủy triều lên, Nguyễn Huệ cho những đội binh thuyền nhỏ xuất phát từ Mỹ Tho theo dòng sông đánh lên Trà Tân hoặc theo những cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên đánh lên những vị trí của địch xung quanh Trà Tân rồi lại rút lui. Đó là những trận tập kích nhằm nghi binh thăm dò lực lượng địch và kích động thêm tinh thần chủ quan, khinh địch của quân Xiêm.

Hơn mười ngày đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Huệ đem quân vào Mỹ Tho. Quân Xiêm lúc đầu lo phòng thủ để sẵn sàng chống lại một cuộc phản công lớn của quân Tây Sơn. Nhưng rồi chúng thấy quân Tây Sơn chỉ mở những cuộc tập kích nhỏ và Nguyễn Huệ lại điều đình xin giảng hòa. Những hành động của quân Tây Sơn càng làm cho Chiêu Tăng tin rằng Nguyễn Huệ không dám tiến công và đang chờ đợi kết quả giảng hòa. Hắn hí hửng bàn với Nguyễn Ánh: “Giặc rất tin tôi, rất không phòng bị, ta nên thừa thế mà đánh phá giặc ngay. Xin hẹn đến đêm mùng 9 tháng này (tháng chạp năm Giáp Thìn), quốc vương đem ngự binh đi trước xông vào thuyền giặc. Tôi cùng các tướng bản bộ đem tất cả chìến thuyền lớn nhỏ tiến lên phá các thuyền chắn ngang sông của giặc thì thế nào cũng toàn thắng”. Chiêu Tăng giao Sạ Uyển ở lại giữ đại bản doanh, cử Lục Cổn dẫn bộ binh men theo tả ngạn sông Tiền để cùng phối hợp; còn ông cùng với tướng tiên phong là Chiêu Sương, dẫn hàng trăm thuyền chiến tiến xuống Mỹ Tho, nơi đặt đại bản doanh của Tây Sơn.

Chiêu Tăng cũng khôn ngoan đẩy quân bản bộ của Nguyễn Ánh đi trước mở đường. Còn hắn sử dụng toàn bộ chiến thuyền, theo sông Mỹ Tho, mở cuộc tiến công lớn vào sở chỉ huy của Nguyễn Huệ, hòng bất ngờ đánh tan quân Tây Sơn. Số quân của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ có khoảng ba, bốn nghìn, do tổng nhung chưởng cơ Lê Văn Quân chỉ huy. Nguyễn Ánh tham dự cuộc hành quân với tinh thần lo lắng, hoài nghi và tâm lý thất bại. Ánh cố tình đi sau với một số bầy tôi thân cận như hộ bộ Trần Phúc Giai, cai cơ Nguyễn Văn Bình, thái giám Lê Văn Duyệt để phòng khi lâm nguy còn kịp tháo chạy. Không những thế, Nguyễn Ánh còn phái tham tướng Mạc Tử Sinh về ngay Trấn Giang, chuẩn bị sẵn thuyền bè ở Long Hồ để đón mình chạy trốn nếu bị thất bại.

Trận quyết chiến Rạch Gầm – Xoài Mút

Tại sở chỉ huy đóng ở Mỹ Tho, Nguyễn Huệ bám sát mọi hành động của quân Xiêm – Nguyễn. Nguyễn Huệ biết chắc rằng quân địch sớm muộn thế nào cũng đánh lên Mỹ Tho. Những cuộc tập kích nhỏ, việc điều đình giảng hòa, những hành động nghi binh tỏ ra lơ là phòng bị, đều nhằm mục đích thúc đẩy quân địch sớm rời khỏi căn cứ, mở cuộc tiến công mà ông mong đợi, đồng thời làm cho quân địch thêm chủ quan, tự mãn, tạo ra nhân tố bất ngờ cho trận quyết chiến.

Kế hoạch nhử địch ra khỏi căn cứ để tiêu diệt bằng một trận đánh vận động trên sông của Nguyễn Huệ đã thành công. Bọn tướng lĩnh Xiêm nghĩ rằng quân Tây Sơn bạc nhược không dám đánh lớn, chỉ một trận có thể phá được nên tự tin cho tiến quân. Trong lúc đó, Nguyễn Huệ đã dày công nghiên cứu địa hình từ Trà Tân đến Mỹ Tho và quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến với quân thù.

Đêm ngày 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công. Trên cơ sở phán đoán đúng ý đồ của địch và với những nguồn tin do thám tin cậy, Nguyễn Huệ không những nắm được âm mưu tiến công của địch mà còn biết cả kế hoạch và thời gian tiến công của chúng. Do vậy, quân Tây Sơn phải hoàn thành việc bố trí trận địa trước giờ tiến công của địch.

Nguyễn Huệ huy động đại bộ phận binh lực gồm cả bộ binh và thủy binh, bí mật vận động đến bày trận tại khu vực tác chiến đã được lựa chọn và nghiên cứu trước. Bộ binh với hỏa lực đại bác mạnh, bố trí mai phục bên bờ sông và trên cù lao Thới Sơn.

Hai đội thủy binh tinh nhuệ giấu quân trong Rạch Gầm – Xoài Mút hình thành hai mũi tiến công chặn đầu, khóa đuôi vây chặt quân địch trong trận địa quyết chiến. Một bộ phận thủy binh mai phục trong các nhánh sông, lạch sông, ẩn nấp sau các cù lao, sẽ bất ngờ đánh tạt ngang vào đoàn chiến thuyền địch để chia cắt đội hình của chúng. Một bộ phận thủy binh Tây Sơn vẫn đóng ở Mỹ Tho, bày thuyền chiến trên sông để nghi binh đánh lừa quân địch. Nhưng khi quân địch đã lọt vào trận địa Rạch Gầm – Xoài Mút thì bộ phận thủy binh này lập tức ngược dòng sông Mỹ Tho đến tiếp ứng, tăng cường sức mạnh cho quân ta vào giờ phút quyết định của cuộc chiến đấu.

Đến khoảng đầu canh năm ngày 19 tháng 1 năm 1785, đoàn thuyền chiến của địch lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn ở Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ Trà Tân, chiến thuyền của địch theo sông Trà Luật và Tiền Giang ra sông Mỹ Tho. Từ đây dòng sông mở rộng và quang đãng, đoàn thuyền địch trên 300 chiếc lớn nhỏ xếp thành đội hình tiến nhanh về phía Mỹ Tho. Khi đoàn thuyền đã vào hết trong khúc sông được chọn làm trận địa quyết chiến, nghĩa là tiền quân địch đã đến cửa sông Xoài Mút và hậu quân đã qua cửa Rạch Gầm, Nguyễn Huệ ra lệnh công kích. Tức thì pháo lệnh tấn công của Tây Sơn nổ vang. Mở đầu trận đánh, hai đội thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ lao ra, chặn đánh hai đầu, dồn quân địch vào vòng vây đã bố trí sẵn. Đồng thời, từ hai bờ sông Tiền (đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút) và dọc bờ cù lao Thới Sơn, bãi Tôn, cồn Bà Kiểu, Rừng Dừa… các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra dữ dội vào khúc giữa đoàn thuyền địch lúc bây giờ đang bị ùn lại.

Đồng loạt, đoàn thuyền Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút từ trong những nhánh rạch nhỏ chảy quanh các cồn bãi, nhanh chóng kéo ra chặn đánh đầu. Một đoàn thuyền Tây Sơn khác ẩn náu sau cù lao Thới Sơn, xông ra đánh mạnh vào hông nhằm chia cắt đội hình và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy, quân Tây Sơn, cho những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy…Bị chặn đầu, khóa đuôi và bị hỏa lực quân Tây Sơn áp đảo từ đầu, quân địch hết sức hốt hoảng và đội hình bị rối loạn.

Ngay sau đó, những đội thuyền chiến của quân Tây Sơn từ các vị trí mai phục xông thẳng vào đội hình địch, chia nhỏ đoàn thuyền chúng ra từng mảng mà tiêu diệt. Chiến thuyền quân Tây Sơn từ Mỹ Tho cũng kịp thời đến tiếp ứng.

Hàng loạt thuyền chiến của địch lần lượt bị đánh đắm vì trúng đạn đại bác hoặc vì quân Tây Sơn xông lên tiêu diệt. Vô số quân địch bị giết chết tại trận: kẻ bị trúng đạn, trúng tên; kẻ thì bị gươm giáo đâm chém hay bị chết đuối giữa sông nước. Một số quân địch cố bơi vào bờ để tìm đường tháo chạy. Nhưng ở đấy, những đơn vị bộ binh Tây Sơn đã được bố trí sẵn để chờ chúng.

Quân Tây Sơn, thủy bộ phối hợp với nhau, khép chặt vòng vây, tiêu diệt quân địch hết mảng này đến mảng khác. Dưới sự chỉ huy và đốc chiến của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn lao vào cuộc chiến đấu quyết liệt. Một viên tướng quân Nguyễn về Long Hồ kể cho Mạc Tử Sinh biết: “Nguyễn Huệ đốc chiến ở phía sau, ra lệnh liều chết đánh, quân sĩ nào không quyết chiến thì chém ngay để làm răn. Vì thế các tướng sĩ đều liều, không nghĩ gì đến tính mệnh… tiến công rất là mãnh liệt”.

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của Xiêm cùng một số quân của chúa Nguyễn, không đầy một ngày, đã bị quân Tây Sơn phá tan. Quân Tây Sơn đã có trận chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút huy hoàng. Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy trốn về Sa Đéc, bị truy kích, chúng phải liều chết đánh phá để mở đường tháo chạy lên Quang Hóa rồi qua đất Chân Lạp về Xiêm. Số tàn quân sống sót chạy theo Chiêu Tăng, Chiêu Sương có khoảng vài nghìn người . Ngày 4 tháng 2 năm 1785 (25 tháng chạp Giáp Thìn), vua Xiêm nhận được tin bại trận, vội phái phi-nhã Xuân đem 10 thiếc thuyền đi cứu bọn tàn quân chạy trốn bằng đường biển.

Khi các nhóm tàn quân Xiêm tháo chạy tán loạn theo các ngả đã dần dần tụ tập lại, Chiêu Tăng kiểm quân số thì thấy: “Lúc ở Xiêm La ra đi, thủy binh và bộ binh tổng cộng là năm vạn, đến đây chỉ còn hơn một vạn. Chiêu Tăng rất lấy làm hổ thẹn…”

Riêng chúa Nguyễn Ánh vừa thấy “thế giặc mãnh liệt, không thể chống nổi” (Mạc Thị gia phả) đã cùng đoàn tùy tùng vội vã rút chạy theo sông Trà Luật ra sông Tiền rồi tìm đường sang Trấn Giang. Tại Long Hồ, Mạc Tử Sinh đưa 3 chiếc thuyền còn lại để đón chúa Nguyễn chạy sang Hà Tiên. Còn quân bản bộ của chúa Nguyễn thì tan tác mỗi người một ngả. Viên cai cơ chỉ huy quân thủy là Nguyễn Văn Oai bị chết tại trận. Những viên tướng khác như Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Huy, Tôn Thất Hội…mỗi người cũng chỉ còn được dăm chục quân. Số quân bản bộ của Nguyễn Ánh có khoảng 3 – 4 nghìn thì chỉ còn hơn 800 tên chạy thoát sang Xiêm, trong đó có 200 tên chạy trốn theo Nguyễn Ánh và 600 tên chạy theo Lê Văn Quân. Từ đấy, Nguyễn Ánh và đám tàn quân phải sống cuộc đời lưu vong trên đất Xiêm.

Lời bình về chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút

Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút đã chứng tỏ nghệ thuật dùng binh tài giỏi của người anh hùng “áo vải” Nguyễn Huệ

Trận Rạch Gầm – Xoài Mút diễn ra trên một đoạn sông Mỹ Tho vào lúc trời còn chưa sáng, chỉ trong một ngày hôm đó (191/1785) trận đánh đã kết thúc nhanh chóng. Khoảng 3 vạn quân Tây Sơn đã giao chiến và đánh tan hơn 5 vạn quân Xiêm – Nguyễn, tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm và hàng nghìn quân Nguyễn.

Với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn đã giành được thắng lợi quyết định, quét sạch quân xâm lược ra khỏi đất Gia Định, thu hồi những vùng đất bị chiếm đóng và làm tiêu tan tham vọng của vua Xiêm đối với phần lãnh thổ cực Nam của nước ta.

Chính các sử thần triều Nguyễn cũng nhận thấy: “Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp” (Đại Nam thực lục). Vua Xiêm Cha-kri I cũng phải thừa nhận: “quân Xiêm “đại bại”, bọn Chiêu Tăng, Chiêu Sương “ngu hèn, kiêu căng, hung hãn đến nỗi bại trận”, làm “bại binh, nhục quốc” (Mạc thị gia phả).

Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Xiêm được tiến hành bằng hai giai đoạn: Giai đoạn rút lui bảo toàn lực lượng của đạo quân trấn giữ vùng Gia Định và giai đoạn phản công chiến lược tiêu diệt địch của đạo quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy. Trong giai đoạn phản công chiến lược, vấn đề đánh tiêu diệt được đặt lên hàng đầu. Sở dĩ như vậy là xuất phát từ thực tế không cho phép Nguyễn Huệ kéo dài thời gian chiến đấu.

Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút đã chứng tỏ nghệ thuật dùng binh tài giỏi của người anh hùng “áo vải” Nguyễn Huệ. Điểm nổi bật đầu tiên của chiến thuật quân sự Nguyễn Huệ là tư tưởng đánh tiêu diệt. Với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã viết nên khúc tráng ca đầu tiên về sự nghiệp chống xâm lăng của nhân dân Gia Định. Phong trào Tây Sơn chuyển sang một giai đoạn hoàn toàn mới, giai đoạn hào quang rực rỡ nhất.

Bài cùng tác giả : Học Quản trị kinh doanh từ Lịch sử: Luận về tầm quan trọng của người lãnh đạo trong tổ chức.

Tác giả Đoàn Nhật Quang.

Đoàn Nhật Quang