Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên: Chính trị gia kiệt xuất

Quân Vương Nước Việt

Không kể Tiên chúa Nguyễn Hoàng, thì vị chúa thứ 2 được mệnh danh là Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ( chữ Hán : 阮福源) xứng đáng được coi như vị anh hùng đứng đầu, tiên phong khai phá, mở rộng lãnh thổ về phía Nam của chúng ta ngày hôm nay.

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên sinh năm 1563 là con trai thứ sáu trong 10 người con trai của Tiên chúa ( ngoài ra còn có 2 người con gái), trước ông thì 5 người anh đều không có lót chữ ” Phúc” trong họ.

Tương truyền khi mang thai ông, thân mẫu nằm mơ thấy thần tiên trao cho mảnh giấy, có viết chữ “Phúc”, quần thần xin lấy đó đặt làm tên cho ông, nhưng bà nói, đại khái là nếu đặt làm tên thì chỉ có mỗi mình ông được hưởng PHÚC, lấy chữ này làm chữ lót thì mọi người đều được hưởng. Và, từ đời ông trở xuống, họ Nguyễn (Gia-Miêu) có họ kép là Nguyễn Phúc cho đến tận hôm nay.

Năm người anh trước ông là:

1/ Nguyễn Hà

2/ Nguyễn Hán

3/ Nguyễn Thành

4/ Nguyễn Diễn

5/ Nguyễn Hải.

Dân Đàng Trong húy chữ Phúc mà gọi thành Phước là húy chữ Phúc này, nhưng không hiểu sao mà nhiều người trong chúng ta khi ghi họ tên của các vua chúa nhà Nguyễn lại húy luôn, sửa thành Nguyễn Phước, rất mong ai am hiểu cắt nghĩa dùm.

Bức thư của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gởi cho Tokugawa
Bức thư của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gởi cho Tokugawa

Tui xin bỏ qua việc đi sâu phân tích, tiếp tục nói về cuộc đời và thành tựu của vị chúa này. Ngay từ khi còn trẻ ông đã sớm bộc lộ tư chất của một nhà lãnh đạo, một vị tướng tài ba. Sử chép năm 1585 có giặc Tây dương đi trên 5 chiến thuyền tới Cửa Việt cướp bóc dân ven biển.

Ông nhận lệnh cha đem 10 chiến thuyền ra giao chiến, bắn cháy 2 thuyền của giặc, số còn lợi bỏ chạy trối chết. Vua cha có lời khen dành cho ông. Khi đó ông mới 22 tuổi.

Năm 1602, khi đó ông 39 tuổi, Tiên chúa giao cho ông làm Trấn thủ Quảng Nam, một vị trí vô cùng quan trọng của xứ Đàng Trong khi đó. Đại Nam thực lục chép:

“Mùa thu, tháng 7 năm Nhâm Dần, Chúa sai Hoàng tử thứ 6 làm Trấn thủ dinh Quảng Nam. Quảng Nam đất tốt dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hóa, mà số quân cũng bằng quá nửa. Chúa thường để ý kinh dinh đất ấy”. Sẵn nói xứ Quảng Nam xưa, đây là nơi phồn thịnh một thời gian dài nhờ hoạt động giao thương với các tàu buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha… trong cuốn “Xứ Đàng Trong” miêu tả dân xứ này sống sung túc, thậm chí không thèm trồng lúa, gạo ăn mua từ Chân Lạp về, chủ yếu hoạt động giao thương mua bán với bên ngoài.

Và cũng như Biên Hòa, Mỹ Tho sau này, khi Tây Sơn nổi lên, họ đã tàn phá sạch, các tàu buôn không còn tấp vô giao dịch nhộn nhịp như trước đó nửa, vai trò của Hội An nói riêng, Quảng Nam nói chung lu mờ cho đến nay.

Năm 1613 Tiên chúa mất, di chiếu để lợi cho ông nối nghiệp, các quan y lịnh phò Nguyễn Phúc Nguyên lên ngai, lúc nầy ông 51 tuổi. Tới đây xin giải thích thêm:

– Sở dĩ ông là con thứ 6 mà được chọn làm người kế vị chớ không phải là các người anh của mình, là do các ông Hà, Hán, Thành, Diễn đều mãn phần sớm, còn ông Nguyễn Hải thì làm con tin cho nhà Lê ở ngoài Bắc. Ông được chọn kế vị là vì vậy. Sau khi lên ngai, ông bắt tay vô việc xây dựng quân đội, củng cố thành lũy để phòng bị, đối chọi lại nhà Trịnh ở phía Bắc.

Tui dùng từ ” nhà Trịnh” là vì quyền lực của các vua Lê đều bị họ Trịnh thâu tóm trong tay. Ông ra sức cầu hiền, vỗ an dân chúng. Các hào kiệt tụ họp về dưới trướng ông rất đông, có thể kể ra vài vị tên tuổi lưu truyền sử sách đến nay: đó là bộ óc thiên tài Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Kiều, Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến… sau có con ông Dật là danh thần Nguyễn Hữu Cảnh cũng nối bước cha ông ra phò nhà chúa.

Về việc ông Đào Duy Từ bằng cách nào vô được Đàng Trong và việc “mâm hai đáy” gây ra nhiều tranh cãi, xin không đưa vô đây, hẹn ở bài khác. Sau khi thâu nạp hiền tài, củng cố sức mạnh quân sự, chúa đã thoát ly hẳn với Đàng Ngoài, không còn lệ thuộc, ràng buộc như trước.

Về tổ chức quân sự, cũng khác xứ ngoài kia. Cuộc Nam tiến bắt đầu…

Về hoạt động giao thương, thời chúa Phật có thể nói rất phát triển, hoạt động mua bán với bên ngoài rất nhộn nhịp, đây là giai đoạn cực thạnh, phồn vinh của Đàng Trong, ông Borri kể khá chi tiết trong “Xứ Đàng Trong”, thậm chí dân thường bình dân cũng xử dụng lụa tơ tằm trong công việc lao động hàng ngày.

Trích một đoạn về hoạt động giao thương thời đó, làm biếng tra sách, mượn tạm trên wiki:” Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam…”

“Thành phố rộng rãi, có thể nhận ra hai khu vực, một khu vực do người Hoa ở, khu vực kia thì người Nhật Bản ở.”

“Người Hoa và Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ.”

“Do chợ này mà Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích.” – (Xứ Đàng Trong).

Năm 1620 chúa đồng ý gả con gái cho Quốc vương Chân Lạp, đây là cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị, có lợi cho cả 2 bên. Cuộc hôn nhân này được ghi chép trong nhiều tài liệu, riêng sử nhà Nguyễn không chép. Để rồi 3 năm sau đó, những người Việt đầu tiên danh chính ngôn thuận đã có mặt ở đất Nam kỳ ngày nay.

Nói “danh chính ngôn thuận” là vì có những tài liệu cho rằng trước mốc này đã có dân Việt sống ở đây, nhưng không trưng ra được tài liệu khả tín nào. Về vấn đề này, trong tập Niên giám viết tay, ở Thư viện Hoàng gia Cao Miên, thì triều vua Chey Chetta II, trang 369 chép sự việc này như sau: “Năm 2169 Phật lịch, tức năm 1623 Dương lịch, một Sứ giả của vua Annam dâng lên Vua Cao Miên Chey Chetta một phong thư, trong đó vua An Nam ngỏ ý “mượn” của nước Cao Miên xứ Prey Nokor và xứ Kas Krobey để đặt làm nơi thu quan thuế.

Vua Chey Chetta sau khi tham khảo ý kiến của đình thần đã chấp thuận lời yêu cầu trên và phúc thư cho Vua An Nam biết. Vua An Nam bèn ra lệnh cho quan chức đặt Sở quan thuế tại Prey Nokor và Kas Krobey và từ đó bắt đầu thâu quan thuế”. (trích nguyên văn từ ” Sử Cao Miên”).

Đổi lại, thì chúa Nguyễn cũng đã giúp Chân Lạp dựng xưởng đóng tàu chiến, hỗ trợ binh lính, súng đạn chống lại quân Xiêm xâm lược. Giai đoạn vua Chey Chetta Đệ nhị trị vì, Chân Lạp có ít nhất 2 lần đánh thắng quân Xiêm và đóng góp của triều đình Huế là không nhỏ. Trước khi dân Việt đặt chân lên đất Nam kỳ, nơi này đã có dân Chân Lạp sinh sống, nhưng thưa thớt, hoang vu, họ sống rãi rác ở những gò cao. Trong “Chân Lạp phong thổ ký” ông Châu Đạt Quan có miêu tả về nơi này, khi ông từ Vũng Tàu đi thuyền vô, trước mắt ông là rừng rậm bao la, đồng khô cỏ cháy. Tuy là ở thế kỷ 13, nhưng cũng là một dữ kiện cho chúng ta tham khảo.

Ngoài Công nữ Ngọc Vạn gả cho Quốc vương Cao Miên, chúa còn gả bà Ngọc Khoa cho vua Chăm Porome ( năm 1631) và một bà nửa cho một thương nhân giàu có người Nhật Bản, đến nay hậu duệ bên đó vẫn còn, vừa rồi có làm lễ tưởng nhớ.

Hình lãnh thổ Việt Nam năm 1611 dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên
Hình lãnh thổ Việt Nam năm 1611 dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên

Nhờ những người Việt tiên phong vô đây định cư, bên cạnh hai trạm thu thuế, đó là tiền đề để sau này ông Nguyễn Hữu Cảnh vô đây kinh lược và lập ra phủ huyện, chính thức thiết lập bộ máy hành chính ở đây cũng như đánh dấu chủ quyền trên vùng đất này. Tất nhiên, còn có sự góp sức của những vị sau này nhưng chính chúa Phật đã đặt nền móng đầu tiên, giúp cho cuộc tiến về phương Nam được thuận lợi hơn.

Về những người có công sau đó, có những bài riêng về họ. Và, cũng chính chúa Phật cũng là người xác lập chủ quyền của Việt Nam sau này với quần đảo Hoàng Sa, bằng chứng là ở nhà thờ họ Võ ngày nay tại An Vĩnh (thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn chữ Hán, đề như sau: “Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu lập hai đội nửa là đội Đại Mao Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh là 30 người….”. Tờ đơn này do ông Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa, viết ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775).

Đội Hoàng Sa được lập ra thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, các chúa sau kế tục và phát triển lên, sau có thêm đội Bắc Hải , tồn tại đến thời các vua nhà Nguyễn, có nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền….

Nhắc sơ về chiến sự với quân Trịnh của Đàng Ngoài, trong suốt thời gian cai trị của chúa Phật, Đàng Trong và Đàng Ngoài giao tranh 2 lần, đó là các năm 1627 và 1633 (đều do quân Trịnh tấn công trước), và cả 2 lần quân Đàng Trong đều chiến thắng. Lũy Thầy cũng được xây thời chúa Phật, dưới sự chỉ huy của Đào Duy Từ.

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ở trên ngai được 22 năm, ngày mùng 10 tháng 10 năm Quý Dậu( 19/11/1635) thì băng hà, hưởng thọ 73 tuổi.

Tác giả Hiếu Tăng. Group Hội Những Người Yêu Thích Lịch Sử

Tham khảo:

Xứ Đàng Trong,

Một số nhân vật lịch sử đất Phương Nam (Nguyễn Phúc Nguyên, Công nữ Ngọc Vạn),

Sử Cao Miên,

Wikipedia : chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, Chân Lạp phong thổ ký.

Ku Gạo