Đại chiến Việt Xiêm – Cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài nhất sử Việt (bài 2)

Các Cuộc Kháng Chiến

Vương triều nhà Nguyễn đến thời Minh Mạng đã đạt đến cực thịnh. Đặc biệt sau chiến thắng Xiêm La năm 1833-1834 thì uy danh của Đại Nam đã vang khắp khu vực. Nước nhỏ nể phục, nước lớn tôn trọng. Năm 1836, vua Minh Mạng quyết định sáp nhập Chân Lạp vào lãnh thổ Đại Nam gọi là Trấn Tây Thành…

Xem lại bài 1 : Đại chiến Việt Xiêm (1705-1845) – Cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài nhất sử Việt

Phần 5: Chiến tranh Việt Xiêm lần 5 (1841-1845)

Tướng sĩ triệt thoái khỏi Trấn Tây
Quân Xiêm mưu đồ sang xâm lấn

Uy chấn hải nội, lập Trấn Tây Thành

Mọi chuyện lẽ ra vẫn tốt đẹp, nếu nhà Nguyễn ra chính sách đúng và các quan lại cai trị Chân Lạp là những người đạo đức nhân nghĩa biết cảm phục lòng dân. Tuy nhiên một loạt quyết định sai lầm về ngoại giao và cai trị tại Chân Lạp đã khiến cho quân Xiêm La một lần nữa can thiệp vào khu vực này kết hợp với nhiều cuộc nổi dậy của dân bản địa làm tình hình thêm rối ren. 

Quyết sách sai lầm, Xiêm La lợi dụng

Loạt quyết định trị quốc đối nội sai lầm, không lấy dân làm gốc của nhà Nguyễn đã bị người Xiêm lợi dụng. Sử chép:

“Vua Minh Mạng mất, để lại gánh nặng ở phía biên giới Việt Miên. Loạn lạc đã phát khởi ngay từ khi cuộc chinh phạt của tướng Trương Minh Giảng đang diễn ra tại phía Biển Hồ, tuy rằng về hình thức là dẹp xong nhưng mầm mống còn đó. Người Miên cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường như sẵn sàng hưởng ứng, chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên phong trào lên cao. Quân Xiêm lại khéo phao tin tuyên truyền. Người Cao Miên lúc bấy giờ ở Nam kỳ lại bực dọc với chính sách “nhứt thị đồng nhơn” của vua Minh Mạng, bắt buộc họ phải lấy tên, lấy họ như người Việt để đồng hóa. Lại còn chủ trương cải cách tổ chức nông thôn cổ truyền của sóc Miên khiến họ mất quyền tự trị.

Người Cao Miên lúc bấy giờ ở Nam kỳ lại bực dọc với chính sách “nhứt thị đồng nhơn” của vua Minh Mạng, bắt buộc họ phải lấy tên, lấy họ như người Việt để đồng hóa.

Vùng biên giới Hà Tiên, An Giang bắt đầu xáo trộn khi vào năm 1838, một người tên Gi – làm chức An phủ cho ta – cấu kết với người Xiêm. Năm sau, viên quản cơ người Miên ở An Giang là Hàn Biện cùng đồng bọn làm phản rồi bỏ đi, một số đông lính Miên cũng chạy theo chúng nhưng rồi một số quay trở lại. Vua truyền lịnh tha tội những người biết hối cải. Năm 1840, tình hình thêm bi đát: người Miên ở Tịnh Biên (An Giang) nổi loạn khiến quan tri phủ bỏ trốn, loạn quân kéo về phía biên giới Hà Tiên đánh đồn Châu Nham (Đá Dựng), quan binh nhiều kẻ bị hại. Tháng 10 năm ấy, giặc từ Thất Sơn gồm hơn 2000 người kéo qua tận Kiên Giang, phá chợ Rạch Giá, đắp đồn ở hai bên bờ rạch này; vùng Xà Tón (Tri Tôn) cũng bị khuấy động. Năm Thiệu Trị nguyên niên, tất cả các vùng người Miên sống đông đúc đều nổi loạn, quan quân vô cùng vất vả”
(Lịch sử khẩn hoang miền Nam-Sơn Nam).

Chính sách đối ngoại thiếu hiểu biết gây mất lòng dân:

Năm Minh Mạng 19 (1839) Nặc Ong Yêm (Ang Em, em của Ang Chan II và Ang Duong) đem 9.000 dân Khmer cùng 70 chiếc thuyền từ Battambang (vùng Thái Lan chiếm đóng) về Trấn Tây (vùng Việt Nam cai quản), định xin triều đình nhà Nguyễn cho được làm vua kế vị Ang Chan II, đã mất mà không có con trai nối ngôi. Trương Minh Giảng muốn giết đi, nhưng Minh Mạng chỉ cho phép bắt Ang Em về Gia Định xét hỏi rồi đưa ra Huế giam.

Đến năm Minh Mạng thứ 21 (1841), Trà Long (Chakrey Long), Nhân Vu (Yumreach Hu) và La Kiên đến Huế mừng thọ, thì Minh Mạng lại kể tội và đày ra Hà Nội. Rồi tham tán Trấn Tây là Dưỡng Văn Phong khép cho Ngọc Biện, em gái Ngọc Vân, tội mưu phản muốn trốn sang Xiêm, phải xử tử. Trương Minh Giảng đưa Ngọc Vân, Ngọc Thu và Ngọc Nguyên, các con gái Ang Chan II về Gia Định an trí. Nên người Cao Miên thất vọng oán ghét quân Nam.”
(Đại Việt địa dư toàn biên – Nguyễn Văn Siêu).

Hoàng đế băng hà, Xiêm La thừa cơ

Năm 1840, mấy vạn quân Xiêm kéo vào đóng ở U Đông (Oudong), vua Minh Mạng sai tướng Phạm Văn Điển và Nguyễn Tiến Lâm mang quân sang đối phó nhưng không kết quả.

Năm 1841, Minh Mạng qua đời, Thiệu Trị lên nối ngôi. Ông không có nhiều tham vọng về lãnh thổ như tiên đế. Lúc bấy giờ, tình hình Trấn Tây thành đang rối ren vì quân Đại Nam chiếm đóng gặp phải sự chống đối mãnh liệt của người Chân Lạp. Tướng Trương Minh Giảng tỏ ra yếu kém về mặt bình định lãnh thổ và năng lực trị dân. Lại thêm các hoàng thân Chân Lạp dưới sự ủng hộ của quân Xiêm liên tục nổi dậy. Cuối cùng vua Thiệu Trị đã quyết định rút quân, bỏ Trấn Tây thành (tức Phnom Penh ngày nay) và toàn bộ Trấn Tây, phục hồi vương quốc Cao Miên. Trương Minh Giảng phải theo lệnh rút quân về trấn thủ An Giang.

Vùng đất Cao Miên do Đại Nam bảo hộ (tô màu hồng). Phần gạch chéo là phần đất lập trấn Tây Thành.

Vua cho rằng từ khi Trấn Tây có việc binh đao đến giờ, sáu tỉnh Nam Kỳ, binh và dân đều nhọc mệt, triều đình cũng khó nhọc tổn phí không biết đâu mà kể, ý đã chán việc binh đao, vả lại sang năm sau có việc tuần du ra Bắc, hãy tạm xếp việc Trấn Tây lại không nghĩ đến, cũng chẳng hại gì, mới dụ rằng: “Sự thế hiện nay buộc phải như thế, chuẩn cho theo lời bàn mà làm. Các viên từ Kinh lược, Tướng quân cho đến Tán lý và Hiệp lý không làm được công trạng gì, đều giao cho bộ Hình nghiêm ngặt nghị tội từng viên có khác nhau”
(Đại Nam thực lục).

Lời bàn:

Xưa có câu “vật cực tất phản”, “thịnh cực ắt suy”. Nhà Nguyễn đạt đến đỉnh cao của mình vào thời Minh Mạng rồi sẽ phải suy, đó là tất yếu. Khá khen cho Xiêm La trải trăm năm binh bại nhiều lần mà vẫn kiên trì xâm lấn nước ta, quả là một kẻ địch đáng nể. Cũng may lòng Trời vẫn còn thương dân ta, quân tướng nhà Nguyễn anh dũng nên tuy gian khó buổi đầu nhưng rốt cục cũng đánh lui ngoại xâm nội phản một cách vinh quang. Muốn biết chiến quả thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.

Người Xiêm tuy thất bại nhiều lần cả trăm năm qua, nhưng chưa hề nguôi dã tâm muốn chiếm lấy miền Nam. Họ rất kiên trì và cũng sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau để đạt mục đích. Lần này họ đã có một cơ hội hiếm có, khi vua Minh Mạng vừa mất và vua Thiệu Trị từ bỏ Trấn Tây Thành…

Phần 6: Chiến tranh Việt Xiêm lần 5 (1841-1845)

Chất Tri đem quân nhiễu Nam Kỳ
Chư tướng đồng tâm dẹp ngoại xâm

Chất Tri đem quân nhiễu Nam Kỳ

Tháng 9 năm 1841, toàn bộ quân đội nhà Nguyễn đã rút về An Giang. Ngay lập tức người Xiêm liền chớp thời cơ. Danh tướng số 1 Xiêm La bấy giờ là Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin Decha), kẻ thù cũ trong lần xâm lược 1833 đích thân chỉ huy chiến dịch lần này.

Để chuẩn bị cho chiến dịch, người Xiêm đã rất tích cực phá hoại từ những năm 1838 với đủ các thủ đoạn dân vận, lật đổ, cho đến cả chiêu bài chính trị cho lần xâm lược này. Có thể kể ra như sau:

1-Mua chuộc quan lại bản địa, kích động dân Miên nổi dậy trong khắp các phum sóc cả miền Nam:“Vùng biên giới Hà Tiên, An Giang bắt đầu xáo trộn khi vào năm 1838, tên Gi – làm chức An phủ cho ta – cấu kết với người Xiêm. Năm sau, viên quản cơ người Miên ở An Giang là Hàn Biện cùng đồng bọn làm phản rồi bỏ đi, một số đông lính Miên cũng chạy theo chúng nhưng rồi một số quay trở lại.”

2-Đóng đồn quân sát biên giới, hư trương thanh thế, tài trợ cho các nhóm phiến quân lớn nổi loạn ngay tại các địa phương quan trọng:
“Vùng Trà vinh (nay là Vĩnh Bình) bao gồm các khu vực rộng lớn từ Tiền Giang qua Hậu Giang (Trà Vinh, Cầu Kè, Tiểu Cần, Cầu Chong), sử gọi là vùng Lạc Hóa. Cuộc khởi loạn dai dẳng và có quy mô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1841, người cầm đầu là Lâm Sâm (còn đọc Lâm Sum, người địa phương gọi là Xà Na Xom hoặc Xà Xom, tức là viên tướng tên Xom). Thủ đoạn xách động là dùng bùa ngải, do các tên thầy bùa đưa ra rồi loan tin thất thiệt: Ai không theo chúng sẽ bị Trời Phật hại, ai theo thì được cứu thoát, võ khí là đao mác, chà gạc, phãng kéo cổ thẳng (trở thành cây mã tấu). Thoạt tiên loạn quân chiếm Trà Vinh (đồn Nguyệt Lãng của ta). Giặc lại lôi cuốn được mấy sóc Miên ở rạch Cần Chong (nay là Tiểu Cần) xuống đến Bắc Trang ra đến mé sông Hậu Giang, vùng Trà Điêu. Có lúc giặc thắng thế, chiếm giữ một vùng dài hơn 30 cây số, gồm toàn sóc Miên. Trận gay go nhất xảy ra ở vùng Trà Tử (nay gọi là Hiếu Tử), bố chánh Trần Tuyên và tri huyện Huỳnh Hữu Quang đều tử trận. Số loạn quân lên đến bảy tám ngàn, ngoài Lâm Sum còn tên tổng Cộng (chắc là cai tổng tên Cộng) và một tên tự xưng là phó mã Đội. Tham dự cuộc tảo thanh ở vùng Lạc Hóa, gồm có tổng đốc Bùi Công Huyên, tham tánh thành Trấn Tây là Nguyễn Tấn Lâm và Nguyễn Công Trứ cũng rút về nước hỗ trợ, ngoài ra còn có tướng Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Tri Phương dời binh tiến đánh, tuy phá tan được luôn, nhưng chỗ này tan rã thì chỗ kia quy tụ, cứ đánh phía đông, giữ phía tây, không thể nào diệt hết được. Khi Trương Minh Giảng rút lui về An Giang, ta được thêm 3000 quân sĩ đến tiếp ứng ở mặt trận Lạc Hóa. Trong đám loạn quân đầu thú, có cả người Việt và người Tàu. Sở dĩ loạn quân dám kiêu ngạo vì bên kia biên giới, Phi Nhã Chất Tri “đem quân Xiêm đến dựng đồn lũy ở bờ sông Vĩnh Tế rồi qua lại gây sự với những đồn bảo của quân ta”.
(Lịch sử khẩn hoang miền Nam – Sơn Nam).

Chư tướng đồng tâm dẹp ngoại xâm

Dù Xiêm La đã dày công chuẩn bị và được dẫn dắt bởi danh tướng Chất Tri giàu kinh nghiệm, nhưng lần này quân đội nhà Nguyễn vẫn đã làm rất tốt phận sự khi liên tiếp đập tan tất cả các cuộc nổi loạn và ngoại xâm trên toàn miền Nam mặc dù khá vất vả:

“Vùng Sóc Trăng, trung tâm cuộc khởi loạn là Ba Xuyên, Trà Tâm, từ tháng ba cũng năm Tân sửu. Thoạt tiên giặc bị phân tán rồi tập trung tại Sóc Đâm đóng đồn mà chống cự. Tháng 11, quân của Nguyễn Tấn Lâm và Nguyễn Tri Phương đánh hai mặt giáp lại. Giặc tan, vua Thiệu Trị cho Nguyễn Tấn Lâm ở lại Ba Xuyên dẹp đám tàn quân và lập an ninh.
Quan binh bèn chia đường đi tiễu trừ, giết và làm bị thương rất đông, chiếm lấy được bảy đồn, hai bên bờ sông Vĩnh Tế một loạt được dẹp yên. Bọn giặc ở trong các đồn ở núi Cấm, núi Tượng nghe tin bèn chạy trốn. Quân Xiêm gặp sự thất bại tan rã ấy muốn tăng thêm binh và chiến thuyền để trở lại một lần nữa giúp dân Miên gây sự, vừa lúc ấy nước họ có việc nên ngưng”.

Lời bàn:

Bước đầu trong chiến lược xâm lấn Nam Kỳ của quân Xiêm đã hoàn toàn thất bại bất chấp việc họ đã chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng. Cũng là nhờ quân đội nhà Nguyễn tinh nhuệ đã kinh qua nhiều cuộc chiến tranh cùng với các tướng lãnh tài năng mà được như thế. Muốn biết người Xiêm sẽ đi bước tiếp theo thế nào hãy đợi xem phần sau sẽ rõ.

Nếu năm 1841 chỉ mới là phiến loạn nội địa thì sang năm 1842 là năm quân Xiêm chính thức xâm lăng nước ta…

Phần 7: Chiến tranh Việt Xiêm lần 5 (1841-1845)

Chất Tri đại bại phải cầu hòa
Ang Duong thành công lên ngôi báu

1842 liên quân Xiêm Miên đại bại, rút về Trấn Tây

Đầu tiên họ tụ tập một nhóm người vốn là tù nhân tội phạm lưu vong ở Cao Miên sau cuộc nổi loạn Lê Văn Khôi 1833, rồi cùng tôn một người thanh niên – nói là con hoàng tử Cảnh, tự xưng là Hoàng tôn (cháu nội vua Gia Long) về nước làm chiêu bài chính trị, dọn đường cho việc đưa quân Xiêm sang xâm lược Miền Nam. Điều này chứng tỏ đại tướng thống lãnh quân Xiêm là Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin Decha) thực sự là một kẻ lắm thủ đoạn, đa mưu túc trí. Sử sách ghi chép:

“Năm thứ 2 mùa xuân, bọn Man phỉ liên kết với giặc Xiêm, phái thêm rất nhiều viện binh, quân thuỷ bộ cả nước chia đường vào cướp, tướng của giặc ở đường thuỷ tên là Ô Thiệt, quản suất binh thuyền hướng vào cửa biển Hà Tiên mà bắn. Giặc ở đường bộ liên kết với bọn thổ phỉ, từ Chu Nham đến núi Lộc Giác, thiết lập đồn sách, ba mặt súng lớn giao nhau bắn ra, ngoài đài luỹ, tên đạn rơi xuống như mưa…
(Đại Nam liệt truyện).

Rút kinh nghiệm từ thất bại trước, lần tiến quân này Bodin Decha thay đổi cả đường hành quân tiến sang nước ta với tiêu chí là nhanh gọn, bí mật với yếu tố đánh úp bất ngờ:

“Tháng 2 quân Xiêm lại tăng cường hải quân, đến gần Cần Vọt (Quảng Biên, Kampot), ta bố trí giữ tại cửa Hà Tiên (Kim Dữ). Rồi binh thuyền của Xiêm kéo tới Bạch Mã (Kép) đông đảo hơn với ý định chiếm Lư Khê (Rạch Vược, phía nam Hà Tiên, bờ biển) và chiếm Tô Môn (cửa Đông Hồ, bên cạnh núi Tô Châu) để bao vây Hà Tiên. Xiêm kéo mấy vạn binh tràn vùng kinh Vĩnh Tế, ta chống đỡ không kịp. Cánh quân chánh của Xiêm đánh từ bờ biển vịnh Xiêm La qua theo đường Hà Tiên, chớ không từ Nam Vang mà thọc xuống theo sông Tiền giang như mấy lần trước”.(Lịch sử khẩn hoang miền Nam – Sơn Nam).

Rồi binh thuyền của Xiêm kéo tới Bạch Mã (Kép) đông đảo hơn với ý định chiếm Lư Khê (Rạch Vược, phía nam Hà Tiên, bờ biển) và chiếm Tô Môn (cửa Đông Hồ, bên cạnh núi Tô Châu) để bao vây Hà Tiên

Trước tình hình nguy cấp, vua Thiệu Trị đã điều động binh lính chủ lực cùng các danh tướng vào Nam dẹp loạn:

“Tỉnh Hà Tiên báo tin nguy cấp. Vua lập tức sai bọn Đoàn Văn Sách mang quân ngăn chống, đốc thúc binh thuyền đi tắt ngoài biển thuộc địa phận Hà Tiên để viện trợ đánh giết. Lại sai Phạm Văn Điển, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn chia đường tiến đánh. Cho Lê Văn Đức làm Tổng thống tiễu bộ quân vụ, Lê Văn Phú làm Tham tán đại thần, quản lĩnh binh thuyền đi mau đến đánh giết. Đại binh chưa đến, Đoàn Văn Sách đóng giữ đài Kim Dữ. Tuần phủ Hà Tiên là Lương Văn Liễu giữ luỹ đều thân đốc biền binh ngày đêm luôn luôn phát súng lớn chống đánh. Thuyền giặc lui trước, bọn Chất Tri chưa biết, cùng nhau đem quân Xiêm, quân giặc liên kết với nhau, lập đồn luỹ ở sông Vĩnh Tế để chống cự, lại đến đồn bảo quân ta đi lại quấy nhiễu. Bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Nhàn chia đường tiến đánh, giết hại rất nhiều, đốt phá hết trại sách của giặc…”.
(Đại Nam liệt truyện).

Với kinh nghiệm chiến đấu phong phú và hỏa lực hùng mạnh trong suốt mấy chục năm chinh phạt từ lúc lập quốc, quân nhà Nguyễn dù chỉ có 5000 quân nhưng đã nhanh chóng đánh bại triệt để quân Xiêm, dù họ có quân số đông hơn gấp nhiều lần. Phi Nhã Chất Tri (Phraya Bodin Decha) cùng Nặc Ông Đôn phải nhanh chóng triệt thoái về Cao Miên:

“Trận đánh này, quân ta không quá vài ngàn người mà giết lui được hơn 2 vạn bè lũ của giặc; không đến ba khắc, lấy được 7 đồn, chém giết không biết đâu mà kể, bên tả bên hữu sông Vĩnh Tế dẹp hết một loạt. Lại di quân chuyển đến núi Thất Sơn cùng Lê Văn Đức hội quân lần lượt tiến đánh các đồn thổ phỉ ở núi Cẩm Sơn, Tượng Sơn, quân giặc nghe thấy bóng gió chạy trốn cả, lại vào núi Trà Biệt giữ chỗ hiểm để chống cự. Quan quân tiến đánh, chém và bắt được nhiều. Kịp đến 2 xứ Sà Tốn, Tô Sơn, rất nhiều hiểm trở, bọn giặc ấy chia từng đoạn thiết lập đồn sách, ước hơn 10 chỗ. Quan quân chia làm 5 đạo, lấy thuyền nhỏ nhân đêm lẻn tiến đi, đến mờ sáng đến bờ cả một loạt. Đốc quân lên luỹ, bọn giặc cùng quẫn, cùng đem nhau đến thú, kể có hàng ngàn. Thất Sơn đều dẹp yên hết cả, bèn ra lệnh kéo quân về. Triệu Lê Văn Đức về Kinh, những viên biền các tỉnh chia phái đi hợp đánh, đều về nhận chức cũ. Người nước Xiêm bị thua đau lần này, thường muốn phái thêm binh thuyền lại đến lần nữa, để giúp giặc Man sinh sự. Vừa gặp nước ấy có việc, vội dừng lại”.(Đại Nam liệt truyện).

Quan quân chia làm 5 đạo, lấy thuyền nhỏ nhân đêm lẻn tiến đi, đến mờ sáng đến bờ cả một loạt. Đốc quân lên luỹ, bọn giặc cùng quẫn, cùng đem nhau đến thú, kể có hàng ngàn.

1845, quân Việt phản công trên đất Cao Miên

Nặc Ông Đôn dựa hơi quân Xiêm mà lên ngôi vua Cao Miên. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, khi vừa thua đau tại Đại Nam, lại phải chịu thêm cảnh quân Xiêm La tàn bạo quấy nhiễu, làm dân chúng ca thán khắp nơi. Nhiều lưu dân bỏ xứ sang xin quy thuận Đại Nam.

Vua Thiệu Trị nhân đó sai tướng đi kinh lý đất Cao Miên. 1845, Quân ta đại phá quân Xiêm Miên ở Oudong, khiến cho Phi Nhã Chất Tri phải cầu hòa:

“Mùa đông năm ấy, bọn tên Sô, tên Mẫn mang gia quyến chạy sang ta xin viện trợ. Liêm Đạt thân đến An Giang xin quân. Bèn sai Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Công Nhàn chia đường tiến sang viện trợ đánh dẹp. Lại phái đại thần là Vũ Văn Giải, Tôn Thất Bạch đến Gia Định tuỳ cơ điều khiển. Nguyễn Ương, Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng tiến đánh Sách Sô, phá luỹ Bình Thiết, Chất Tri bị thua mới bỏ Trấn Tây đem tên Dun chạy về Ô Đông ẩn nấp, đắp luỹ cố giữ. Tức thì sai bọn Vũ Văn Giải đi mau đến An Giang, nhân cơ hội đánh dẹp và vỗ yên, quan quân nhân thế thắng tiến đến dẹp yên được Trấn Tây, chia đặt thổ quan chiêu dụ và coi quán dân thổ; rồi tức thì tiến quân đến Vĩnh Long, vây chặn Ô Đông, đắp núi đất, vận đại bác lên để bắn, Chất Tri thế đến cùng quẫn. Rồi sau trận đánh ở Liên Kiên, Hồ Đúc Tú khinh suất tiến lên, gặp quân phục bị thua. Chất Tri bèn nhân cai đội bị bắt được là Lê Văn Ân yên ủi cho về, mang thư cầu hoà, Vũ Văn Giải cứ tình thực đề đạt lên. Triều đình nghĩ đến quân dân, chuẩn y lời xin”.
(Đại Nam liệt truyện).

“Tháng sáu năm Ất Tỵ (1845), là năm Thiệu Trị thứ năm, Võ Văn Giải vào đến Gia Định, cùng với Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Tôn Thất Nghị, tiến binh sang đánh Chân Lạp, phá được đồn Dây Sắt, lấy lại thành Nam Vang, người Chân Lạp về hàng kể hơn 23,000 người. Đoạn rồi, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem binh đuổi đánh quân Tiêm La và quân Chân Lạp, vây Nặc Ông Đôn và tướng Tiêm La là Chất Tri ở Ô-Đông (Oudong).”(Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim).“…

Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem binh đuổi đánh quân Tiêm La và quân Chân Lạp, vây Nặc Ông Đôn và tướng Tiêm La là Chất Tri ở Ô-Đông (Oudong)

Sau chiến thắng của ta, Phi Nhã Chất Tri phải cùng các tướng lãnh nhà Nguyễn ký hòa ước, lập lại vua Cao Miên dưới sự bảo hộ của cả hai nước. Từ đó trở đi hòa bình đã được lập lại ở miền Nam. Sử chép:

“Tháng chín năm ấy, Chất Tri sai người sang xin hòa. Qua tháng mười thì Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn và Chất Tri ký tờ hòa ước ở nhà hội quán, hai nước đều giải binh. Nguyễn Tri Phương rút quân về đóng ở Trấn Tây, đợi quân Xiêm thi hành những điều ước đã định. Tháng chạp năm Bính Ngọ (1846), Nặc Ông Đôn dâng biểu tạ tội và sai sứ đem phẩm vật sang triều cống. Tháng hai năm Đinh Mùi (1847) – là năm Thiệu Trị thứ bảy, Triều đình phong cho Nặc Ông Đôn làm Cao Miên Quốc Vương và phong cho Mỹ Lâm Quận Chúa làm Cao Miên Quận Chúa. Lại xuống chiếu truyền cho quân thứ ở Trấn Tây rút về An Giang. Từ đó nước Chân Lạp lại có vua, và việc ở phía nam mới được yên vậy”.(Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim).

Bại tướng 2 lần Chao Phraya Bodin Decha là ai?

Trong vòng trăm năm mà người Xiêm đã năm lần xâm lấn nước ta. Trong đó 2 lần có cùng 1 tướng chỉ huy là Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin Decha) một kẻ địch lợi hại và nham hiểm. Người viết cảm thấy cũng cần nói thêm về viên tướng chỉ huy người Xiêm này để nêu bật lên chiến công anh dũng của quân tướng nhà Nguyễn: từ Trương Minh Giảng đến Trần Văn Năng, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương… đã vô cùng xuất sắc đánh bại triệt để đội quân của tướng Phi Nhã Chất Tri, đem lại một vết nhơ không bao giờ rửa trôi trong cuộc đời binh nghiệp huy hoàng của vị đệ nhất danh tướng Xiêm La triều Chakri này.

Tướng Phi Nhã Chất Tri là tướng lĩnh cao cấp nhất của vương triều Chakri Xiêm La. Ông ta từng giữ các chức Bộ trưởng Phòng vệ, Bộ trưởng Nội vụ, Thống lĩnh quân đội (แม่ทัพใหญ่) và Thái sư nhiếp chính Akkhra Maha Senabodi (อัครมหาเสนาบดี) của vua Rama III. Ông được xem là một trong những vị tướng quyền lực nhất trong giai đoạn đầu của vương triều Chakri.

Ông là người thờ 2 đời vua Xiêm là Rama II và Rama III, cũng là người đã dẫn quân tiêu diệt vương quốc Viêng Chăn, đốt trụi thủ đô nước này và dời dân sang bờ bên kia sông Mekong (vùng Đông Bắc Thái Lan ngày nay).

Ông cũng là người trực tiếp dẫn quân xâm lược Đại Nam 2 lần vào năm 1833 và 1842. Lần thứ hai vào năm 1842, tuy bị thua về quân sự nhưng về mặt chính trị ông lại thành công khi giúp nước Cao Miên từ chỗ là một phần lãnh thổ của Việt Nam mà được khôi phục lại ngôi vua, chịu sự bảo hộ của cả Xiêm và Việt. Người lên ngôi vua cũng là người do ông ta bảo hộ. Nên biết rằng khi dẫn quân sang đánh Đại Nam ông ta đã hơn 70 tuổi mà vẫn còn tinh lực như thế, quả thật là một đối thủ đáng gờm của nước ta vậy.Tướng Phi Nhã Chất Tri là tướng lĩnh cao cấp nhất của vương triều Chakri Xiêm La.

Tướng Doãn Uẩn nhà Nguyễn nhận xét về Phi Nhã Chất Tri [Bodin Decha] như sau:
Phi Nhã Chất Tri là đại tướng của Xiêm. Từ thời Minh Mạng đã công phá Viêng Chăn. Người Xiêm bỏ hòa hiếu tìm thù địch. Y tự chuyên việc biên giới. Nhiều lần đến xâm lược đều là do y gây sự. Bị quan binh ta đánh bại, không biết đã mấy lần rồi. Lần này bại ở Thiết Thằng (đồn dây sắt), bỏ Nam Vang (Phnom Penh), thoái thủ U Đon (Oudong), thế lực đã quẫn, bất đắc dĩ đem cái mặt dày tự đến thuyết hòa, là chúng đã hết trò rồi. Trong khi ngồi, ta (Doãn Uẩn) nhìn y tuổi đã ngoài bảy mươi mà sức vóc khỏe mạnh, nói năng trôi chảy, cử chỉ giao tiếp rất thành thạo. Người xưa nói: “Kỳ tài anh khí bất tất trung hạ, cao kiến mẫu thức bất tất độc thư” (khí phách kỳ tài không cứ phải trung hạ, trông xa biết rộng không cứ phải đọc sách) quả có như vậy“.

Lời kết:

Từ sông Bạch Đằng, nơi ghi dấu ấn của Tiền Ngô Vương diệt quân Nam Hán, Lê Hoàn khiến nhà Tống ôm hận, rồi Trần Hưng Đạo bắt Ô Mã Nhi, đến chiến tuyến sông Như Nguyệt ghi dấu Thái úy Lý Thường Kiệt vang danh với bài thơ Nam Quốc Sơn Hà… Thế sự chầm chậm trôi, từng triều đại nối nhau qua đi, dòng thời gian vẫn vô tình phủ mờ đi công tích của các bậc tiền nhân, khiến cho hậu thế mỗi lần giở trang sử sách vẫn không khỏi bồi hồi.

Mỗi triều đại dù ít hay nhiều đều góp một phần to lớn vào sự hình thành của đất nước này, cái gọi là Tổ Quốc mà mỗi người dân Việt vẫn luôn tự hào. Và nhà Nguyễn cũng lại giống như vậy – cũng hoàn thành tốt hết mức có thể vai trò lịch sử của họ.

Triều Nguyễn trong suốt mấy trăm năm, từ thời chúa Nguyễn với 9 chúa và 13 đời vua, trải qua không ít thăng trầm nhưng đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử. Và dẫu cho các sử gia sau này có đánh giá họ là “bán nước” hay “đầu hàng Pháp” gì đi nữa thì cũng không thể phủ nhận một điều là: triều đại này [triều Nguyễn] đã mở mang bờ cõi rộng nhất trong suốt mấy ngàn năm qua.

Chính nhà Nguyễn đã đưa miền Nam vào bản đồ quốc gia và đã đổ máu chinh chiến vô số lần, chiến thắng nhiều kẻ thù sừng sỏ cỡ như Hà Lan (thời chúa Nguyễn Phúc Tần) và chiến thắng chung cuộc trước đế quốc Xiêm La trong cuộc chiến chống ngoại xâm 140 năm – dài nhất trong lịch sử. Không có triều Nguyễn, sẽ không thể có miền Nam, một phần quan trọng nhất của nước ta. Vậy nên với vai trò là một triều đại mở cõi, cùng với những danh tướng vì nước quên thân như Trần Văn Năng, Doãn Uẩn, Nguyễn Công Trứ… và các trận chiến đi vào sử sách như trận Vàm Nao, U Đông, Sầm Khê, thì công lao và danh tiếng của nhà Nguyễn sẽ luôn tồn tại trong lòng nhân dân mãi mãi về sau và làm nức lòng bao thế hệ hậu nhân bất kể mọi lời khen chê, công tội…

Tác giả Minh Bảo.

Minh Bảo