Đại chiến Xương Giang, trận huyết chiến quyết định đẩy lùi quân xâm lược

Các Cuộc Khởi Nghĩa

Đại chiến Xương Giang hay chiến thắng Xương Giang là trận huyết chiến cuối cùng khép lại chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang vang dội của nghĩa quân Lam Sơn trước quân xâm lược nhà Minh. Kể từ lúc Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên ở trận Bạch Đằng năm 1288, chưa từng có lần nào người nước ta được đắc thắng như thế đối với phương bắc. Không chỉ là một trận chiến định giang sơn, mà âm vang để lại của chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang còn vọng mãi đến ngày nay Hậu thế luôn nhắc đến chiến dịch này như một trong những chiến công hiển hách nhất trong suốt cả hàng năm năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Đại chiến Xương Giang hay chiến thắng Xương Giang
Bản đồ trận đại chiến Xương Giang

Nhà Minh kéo 15 vạn viện binh chuẩn bị cho huyết chiến thành Xương Giang

Đầu năm 1427, Bình Định vương Lê Lợi mặc dù đã hoàn toàn chiếm thế thượng phong trên chiến trường nhưng vẫn mở cho quân Minh một lối thoát trong danh dự, tích cực thúc đẩy việc hòa nghị. Lê Lợi đã có nhiều nhượng bộ như chấp nhận tôn Trần Cảo làm vua, chấp nhận một nước Đại Việt mới gây dựng lại sẽ thực hiện triều cống nước Minh theo lễ nước nhỏ đối với nước lớn, bản thân Lê Lợi thì chỉ xưng làm Lam Sơn động chủ để tiện cho việc hòa đàm.

Đối với quân Minh đầu hàng, phía ta đã cam kết đảm bảo đường sá, thuyền bè đi lại, hứa sẽ giữ an toàn cho chúng rút về nước. Thế nhưng thiện chí đó là không đủ để dập tắt lửa chiến tranh. Trong khi Vương Thông vì nghe lời xui của bọn ngụy quan mà hành xử tráo trở với quân ta, thì tại nước Minh đang gấp rút điều động thêm những đạo quân tiếp viện lớn.

An Viễn hầu nước Minh là Liễu Thăng được vua Minh Tuyên Tông giao cho các quân lấy từ Bắc Kinh, Nam Kinh cùng các tỉnh Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Sơn Đông, Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Phúc Kiến. Tổng cộng chừng 10 vạn quân tinh nhuệ, 2 vạn ngựa chiến, nhận nhiệm vụ tiến xuống nước ta từ hướng Quảng Tây, phối hợp với quân Minh đang cố thủ ở thành Xương Giang đánh xuống thành Đông Quan từ hướng đông bắc.

Kiềm Quốc công Mộc Thạnh – tên tướng già nhiều phen chinh chiến tại Đại Việt được giao các quân điều động từ Thành Đô, Tứ Xuyên, Vân Nam, tổng cộng chừng 5 vạn tinh binh, 1 vạn ngựa chiến. Đạo quân này nhận nhiệm vụ từ Vân Nam tiến xuống, băng qua vùng Tây Bắc nước ta, trước chiếm thành Tam Giang rồi sau đó đánh tỏa xuống đồng bằng, phối hợp với quân của Vương Thông ở thành Đông Quan.

Khác với các lần tăng viện trước đó, lần này Minh triều gần như chuẩn bị lại cả một bộ khung xâm lược mới với trọn vẹn một đạo quân đông đến 15 vạn, được biên chế đầy đủ, được chuẩn bị về lương thực, khí giới để có thể hoàn toàn độc lập tác chiến trước khi phối hợp được với các đạo quân Minh tại các thành trì trên lãnh thổ nước ta. Để tập trung một lực lượng quân viễn chinh lớn như thế trong bối cảnh vừa mới điều động 5 vạn quân cho Vương Thông đi đánh chưa lâu, nước Minh đã phải mất hơn nửa năm trời tiến hành hàng loạt những cuộc hành quân, gom quân, vận chuyển lương thực, khí giới không ngơi nghỉ. Tướng lĩnh cầm quân đều được vua Minh tuyển chọn từ những tướng có nhiều kinh nghiệm tại Đại Việt. Ngoài Liễu Thăng, Mộc Thạnh còn có các tướng Lương Minh, Lý Khánh, Hoàng Phúc, Thôi Tụ …

Sự tráo trở của Vương Thông và việc nước Minh ráo riết điều quân tiếp viện đều được nghĩa quân Lam Sơn nhanh chóng biết được. Đó là một vấn đề không hề đơn giản đối với quân ta, đòi hỏi phải có những quyết định chính xác để không bị mất đi thế thắng. Nếu như chỉ phải đánh với Vương Thông và những quân Minh ở các thành trì bị bao vây thì quân Lam Sơn đã hoàn toàn áp đảo, chỉ cần chờ cho kẻ địch trong các thành hết lương thực, khí giới chúng sẽ phải quy hàng hoặc chịu chết. Thế nhưng tình hình lúc này đòi hỏi quân ta phải có giải pháp đối với các thành trì để khi viện binh giặc tiến sang, chúng không còn khả năng “nội ứng ngoại hợp”.

Đại chiến Xương Giang hay chiến thắng Xương Giang
Mộc Thạnh chuẩn bị cho Đại chiến Xương Giang

Trong quãng thời gian tương đối dài mà nước Minh tiến hành gom quân thì ở trên chiến trường cũng có nhiều diễn biến phức tạp. Tin tức vua Minh quyết định tăng viện lớn đến tai bọn quân Minh trong các thành trì khiến chúng trở nên phấn chấn trở lại, nuôi hy vọng dằn co với quân Lam Sơn cho đến khi được cứu viện. Bình Định vương Lê Lợi căm giận sự giả trá của Vương Thông và bọn quân tướng Minh, bèn tuyệt giao, tăng cường cho quân đánh giặc. Vương Thông thường phái thám tử về bắc xin viện binh và liên lạc, quân ta phục bắt đến hơn 3.000 tên và 500 con ngựa. Thông đành phải thôi không cho người ra thành do thám nữa.

Nhận thấy rằng những thành trì ở gần phía bắc nằm trên hai tuyến đường từ Vân Nam, Quảng Tây nước Minh tiến sang có thể trở thành những điểm tiếp vận, phối hợp với viện binh của giặc, Bình Định vương Lê Lợi đồng loạt điều quân đi đánh chiếm.

Bùi Quốc Hưng lãnh binh đánh thành Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), Thị Cầu (thuộc Bắc Ninh ngày nay)

Trịnh Khả, Lê Khuyển nhận lệnh tiến đánh thành Tam Giang (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay)

Trần Lựu, Lê Bôi đem quân đánh thành Khâu Ôn (thuộc Lạng Sơn ngày nay).

Riêng thành Xương Giang (Bắc Giang ngày nay) là thành trì vững chắc và nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường Thiên lý từ Quảng Tây đến Đông Quan, Lê Lợi phái hàng loạt tướng giỏi là Lê Sát, Lê Thụ, Nguyễn Đình Lý (tức Lê Lý), Lê Lĩnh, Lý Triện, Lê Hốt … cùng hàng vạn quân đi đánh.

Nhân dân cả nước cũng tích cực tham gia vào các cuộc vận lương, chuyển khí giới cho quân Lam Sơn đánh thành. Kết quả các mặt trận công thành có khác biệt lớn. Thành Điêu Diêu đầu hàng trong tháng 2.1427, thành Thị Cầu đầu hàng tháng 3.1427 sau khi nhận thư dụ hàng do Nguyễn Trãi viết. Thành Tam Giang đầu hàng vào tháng 4.1427 khi Nguyễn Trãi đích thân vào chiêu dụ tướng giữ thành là Lưu Thanh. Việc nhanh chóng chiếm được các thành này giúp cho Lê Lợi có thể nhanh chóng tập trung lại lực lượng, tiếp tục khép chặt vòng vây Đông Quan.

Ở mặt trận thành Khâu Ôn, quân Minh cậy ở gần biên giới, quân lương khí giới đầy đủ nên kiên quyết cố thủ. Trần Lựu, Lê Bôi ngoài việc đối phó với quân Minh trong thành còn phải ghìm nhau với 5 vạn quân của Cố Hưng Tổ ở Quảng Tây. Tại đây diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt, hễ quân Lam Sơn tiến đánh thành thì giặc dùng súng thần công, phi pháo bắn ra như mưa, lại có quân Quảng Tây chực ứng cứu. Chiến sự dai dẳng từ tháng 2.1427 đến mấy tháng sau quân ta vẫn chưa hạ được thành. Đến tháng 8.1427, Trần Lựu và Lê Bôi dùng kế nghi binh đánh thành, dụ 5 vạn quân của Cố Hưng Tổ tiến cứu. Quân ta ngầm mai phục ở ải Pha Lũy, đánh tan quân của Cố Hưng Tổ. Bấy giờ Trần Lựu và Lê Bôi mới rảnh tay dốc toàn lực đánh thành Khâu Ôn, phá được thành này. Tàn quân giặc chạy sang Quảng Tây, thương vong rất nhiều.

Riêng mặt trận thành Xương Giang, tình hình còn khó khăn hơn nữa. Thành Xương Giang kiên cố gần ngang ngửa thành Đông Quan, người Minh đã dời dân đến ở rất đông. Khi quân Lam Sơn đánh thành, các tướng Minh là Kim Dận, Lý Nhậm, Mã Trí, Lưu Nhuận, Lưu Tử Phụ … điều động hết quân Minh chính quy, ngụy binh người Việt và dân binh người Minh cả trai lẫn gái đông hàng vạn người quyết đánh trả quân ta đến cùng. Giặc cậy thành cao, súng đạn nhiều, gây cho quân ta rất nhiều thương vong khi cố gắng tiếp cận. Lý Nhậm còn thường lựa những chỗ quân Lam Sơn sơ hở đem quân tinh nhuệ nửa đêm ngầm ra đánh úp, đốt phá chiến cụ. Đối phó với thành trì vững chắc, quân đông tướng mạnh tại thành Xương Giang, quân tướng Lam Sơn đã phải gặp rất nhiều trở ngại. Qua đó cũng cho thấy việc đánh thành là khó khăn như thế nào, cũng thấy được sách lược “đánh vào lòng người” thay vì cố sức đánh thành ngay từ đầu cuộc khởi nghĩa là hết sức đúng đắn.

Thế nhưng, lúc này quân ta đã bước sang giai đoạn quyết định đòi hỏi phải đánh hạ những thành trì nằm ở những vị trí chiến lược quan trọng. Đặc biệt là thành Xương Giang, một thành trì không thể không đánh chiếm trước khi viện binh của Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang. Thử thách đối với nghĩa quân Lam Sơn vẫn còn lớn để có thể giành thắng lợi chung cuộc.

Đại chiến Xương Giang, diệt 5 vạn giặc, bắt sống 300 tướng Minh

Đại chiến Xương Giang
Đại chiến Xương Giang

Ngày 3.11.1427, nhân một đêm mưa gió, quân Lam Sơn mở cuộc tổng tấn công, mở đầu cho đại chiến Xương Giang. Từ bốn phương tám hướng, quân ta bắn pháo vào khối quân Minh, rồi trùng điệp người ngựa, voi chiến đánh dồn lại. Các danh tướng như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An … đều tham chiến, thi nhau giết địch.

Sở dĩ phải đánh mạnh khi quân Mộc Thạnh đã rút chạy là cốt phá đi những lực lượng tinh nhuệ của chúng, đề phòng hậu hoạn về sau và cũng chứng minh cho nước Minh thấy cái giá đắt như thế nào khi động đến nước Đại Việt. Qua trận truy kích không khoan nhượng này cũng cho thấy rằng, những lời chiêu dụ ân cần của Nguyễn Trãi chỉ là những đòn tâm lý chiến chứ không phải thực lòng. Quân Lam Sơn sẵn sàng đánh diệt quân Minh thẳng tay khi có cơ hội chứ không chỉ đơn giản là buộc chúng phải rút lui khỏi bờ cõi.

Sau đại thắng ở hướng tây bắc, nghĩa quân Lam Sơn càng có đủ điều kiện để dồn quân vây Đông Quan và dứt điểm bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở đại chiến Xương Giang. Các lực lượng quân Lam Sơn rầm rộ hành quân dồn lại để xiết chặt vòng vây. Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục dùng văn chương để lung lạc tinh thần của quân tướng nước Minh:

“… Ngày nay tôi đã răn bảo quân lính, dẹp mở dường về cho các ông từ Cần Trạm đến Khâu Ôn, nếu thấy đại quân qua lại không được xâm phạm mảy may. Các ông, trọng hạn ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy. Kinh thi có câu nói: “Người khác có lòng, ta lường tính xem”. Chắc rằng các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp ứng chăng? Hay là ở quân Vân-nam sang tiếp ứng chăng? Thì, từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư? Thế thì các ông trông mong về quân thành Đông Quan đã tuyệt vọng rồi.

Còn như Kiềm quốc công ở Vân Nam trước đây cùng với các ông cũng vâng mệnh trên họp quân ở đấy. Nhưng Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải, thấy việc làm rõ. vừa mới đến bờ cõi, lập tức sai người dò thăm hư thực, nghe tin trước đây thành trì các xứ Tam Giang đều đã hòa giải, bèn lui quân về Lâm An, làm bản tâu về triều. Tôi lại đem những quân nhân của các ông mà tôi đã bắt được đưa đến chỗ Kiềm đại nhân, nói rõ duyên do, bọn An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chét. Kiềm quốc đại nhân đã lui quân về Vân Nam rồi. Thế là bọn các ông trông mong về đạo quân ở Vân Nam lại tuyệt vọng nốt.

Hai mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa, việc trước đã qua rồi, bỏ việc ngày nay không mưu tính đến, hối sao cho kịp. Thư nói chẳng hết lời.” (trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Với bức tối hậu thư này, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã mong rằng 7 vạn viện binh còn lại dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ, Hoàng Phúc sẽ tự rút lui như quân Mộc Thạnh, rồi quân ta sẽ thuận thế đánh một trận “dằn mặt” như ở mặt trận tây bắc. Được như thế, thắng lợi sẽ dễ dàng hơn, trọn vẹn hơn mà sự đổ máu cũng ít hơn. Thế nhưng bọn Thôi Tụ không trúng kế, vẫn tổ chức tử thủ ở cánh đồng Xương Giang.

Bất đắc dĩ, Bình Định vương Lê Lợi phải quyết định mở cuộc quyết chiến tiêu diệt viện binh còn lại của quân Minh. Ngài sai các quân hội nhau bao vây quân Minh ở Xương Giang, đều thêm quân Thiết đột và voi chiến dưới sự thống lĩnh của các tướng Lê Khôi, Phạm Vấn, Nguyễn Xí, Lê Hối … lên tiếp ứng cho các quân.

Ngày 3.11.1427, nhân một đêm mưa gió, quân Lam Sơn mở cuộc tổng tấn công tại Xương Giang. Từ bốn phương tám hướng, quân ta bắn pháo vào khối quân Minh, rồi trùng điệp người ngựa, voi chiến đánh dồn lại. Các danh tướng như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An … đều tham chiến, thi nhau giết địch.

Quân Minh dù vẫn còn hàng vạn, nhưng vũ khí đạn dược mất gần hết, lương thực không có, thế quân mệt mỏi cùng cực nên chẳng mấy chốc đã vỡ trận. Tai hại hơn cho giặc, lần này chúng đã không còn đường đào thoát nữa. Khắp nơi quân dân người Việt chia nhau chặn hết cả ngã đường thủy bộ, núi non, rừng rậm.

Gần 5 vạn quân Minh bỏ mạng trong trận quyết chiến, số còn lại hơn 2 vạn quân, 300 tướng cũng bị bắt sống hết cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép thêm: “Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng không đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gấn hết, không sót tên nào.”Theo sử nước Minh, toàn bộ đạo viện binh của Liễu Thăng đều bị diệt và bị bắt, chỉ có duy nhất một viên chủ sự tên Phan Hậu là chạy thoát được về nước. Số chiến lợi phẩm khổng lồ thu được từ đạo quân Minh được sách Lam Sơn Thực Lục miêu tả lại: “Giáo mác, lừa ngựa, vàng bạc, lụa là, gấm, đoạn, từng hòm, từng đống, chứa chất như núi, không thể kể xiết!”

Đại chiến Xương Giang khép lại chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang thành công tốt đẹp. Kể từ lúc Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên ở trận Bạch Đằng năm 1288, chưa từng có lần nào người nước ta được đắc thắng như thế đối với phương bắc. Không chỉ là một trận chiến định giang sơn, mà âm vang để lại của chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang còn vọng mãi đến ngày nay Hậu thế luôn nhắc đến chiến dịch này như một trong những chiến công hiển hách nhất trong suốt cả hàng năm năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Tác giả Quốc Huy. Nguồn Motthegioi.vn