Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã chuẩn bị 10 năm

Chiến Tranh Việt Nam 1954 - 1975

Việt Nam là nước duy nhất bắn hạ được pháo đài bay B52 của Mỹ, không những thế, Việt Nam đã làm được nhiều lần. Nhưng để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã phải chuẩn bị tới 10 năm.

1. Lời tiên đoán của chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, khi đó là Phó chính ủy Quân chủng PK-KQ nhớ lại: Ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã gặp đồng chí Phùng Thế Tài lúc đó vừa nhận chức Tư lệnh Phòng không và Bác hỏi:

“Chú đã biết gì về máy bay B-52 chưa”? Bác lại nói tiếp: “Có biết lúc này cũng chưa làm gì được, nhưng phải chuẩn bị từ bây giờ để sẵn sàng đối phó với nó…”

Đến ngày 18/6/1965, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, đế quốc Mỹ đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (Tây Bắc Sài Gòn). Ngay sau đó một tháng, ngày 19/7/1965, Hồ Chủ Tịch đến thăm Đoàn pháo Cao xạ “xung kích” và Đại đội 1 Đoàn Pháo cao xạ “Tam Đảo”. Tại đây, Bác đã nói:

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay bê gì đi nữa ta cũng đánh, từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/4/1966, B-52 ném bom khu vực Đèo Mụ Giạ, Quảng Bình. Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng PK-KQ: “B-52 đã ném bom miền Bắc, phải tìm cách đánh cho được B-52. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Tiếp đó, ngày 29/12/1967, trong buổi làm việc với đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh PK-KQ, Bác đã nói lời tiên tri: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị… ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Ngày 5/4/1972, khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng PK-KQ và các Quân khu: “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Và đến cuối tháng 11/1972 Quân uỷ Trung ương lại nhấn mạnh “Đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng”.

Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cùng các Tham mưu phó: Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã thông qua và phê chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng PK-KQ. Đây là một kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng PK-KQ làm nòng cốt.

Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh “Phải hoàn thành nhiệm vụ công tác chuẩn bị trước ngày 3/12/1972” và dặn thêm: “Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ… phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đầu tháng 12/1972, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày về kế hoạch đánh B-52 của Quân chủng. Đồng chí đã nhấn mạnh: “Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội; quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PK-KQ phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng”. Như vậy có thể nói về mặt chiến lược, chúng ta không hề bị bất ngờ trước mưu thâm, kế độc của Mỹ.

2. Nghiên cứu cách đánh B-52 từ những trận “mưa bom”

Để chiến thắng trận 'Điện Biên Phủ trên không" 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52
Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52

Để có cơ sở xây dựng quyết tâm và kế hoạch đánh B-52, ngay từ tháng 5/1966, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức cho Trung đoàn tên lửa 238 (Sư đoàn 363) cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh tại chiến trường Vĩnh Linh. Trải qua gần một năm vừa hành quân vừa chiến đấu, hai phân đội 81 và 83 thực hiện nhiệm vụ phục kích đánh B-52. Trung đoàn đã tổ chức nghiên cứu tìm hiểu B-52 từ những trận mưa bom để quan sát trực tiếp từ những vệt khói, từ các bài bom nổ để phân tích đội hình bay và chiến thuật hoạt động của B-52.

Ngày 15/3/1967, B-52 xuất hiện, Trung đoàn đã tổ chức trận đánh tập trung nhưng không thành. Phát hiện có tên lửa ở Vĩnh Linh, không quân Mỹ đã lồng lộn săn lùng để tiêu diệt mục tiêu.

Đến tháng 1/1972, Quân chủng PK-KQ tiếp tục đưa thêm 4 trung đoàn tên lửa vào Khu 4 cùng một số máy bay Mig-21 để chi viện cho Chiến dịch Trị Thiên. Đến giữa năm 1972 Quân chủng PK-KQ đã đưa 04 đợt tên lửa, ra đa và nhiều chiếc máy bay Mig-21 vào chiến trường, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52. Tuy đã bắn rơi được B-52, nhưng chưa có lần nào B-52 rơi tại chỗ và bắt sống giặc lái. Nhưng từ những nghiên cứu thực tế thu được đã có cơ sở để tháng 9/1972, Quân chủng PK-KQ đã xây dựng được “Phương án đánh máy bay B-52”.

3. Nỗi đau của pháo đài bay B52

Để thực hiện kế hoạch Linebacker II, một chiến dịch tập kích đường không với quy mô lớn nhất nhằm vào miền Bắc mà mục tiêu chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không quân Mỹ đã sử dụng 193 máy bay B52, là lần huy động B52 lớn nhất trong lịch sử, (chiếm 48% số lượng B52 và 75% số phi công B52 của nước Mỹ). Xuất kích 633 lần từ Guam và Utapao, tập trung 444 lần đánh vào Hà Nội.

Cùng các máy bay chiến thuật khác, không lực Hoa Kỳ ném gần 100.000 tấn bom xuống 140 mục tiêu, trong đó B52 đánh 64 điểm. Số lượng bom tương đương với sức công phá của 5 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima.

Lầu Năm Góc cho rằng, “những nơi B52 oanh tạc chỉ còn là gạch vụn, sẽ làm tê liệt đời sống hàng ngày, phá huỷ mọi khả năng chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đưa Việt Nam trở lại bàn đàm phán Paris trong thế thượng phong của Mỹ”. Nhưng họ đã nhầm.

Ngay từ đêm đầu tiên (18/12/1972), 3 pháo đài bay bị bắn hạ và danh sách đó dài thêm trong những ngày tiếp theo. Cao điểm đêm 26/12, 8 chiếc B52 bị bắn rơi. 12 ngày đêm đánh trả, chúng ta đã bắn rơi 34 chiếc B52 (bằng 1/2 số bị bắn rơi trong 8 năm Mỹ đưa B52 tác chiến ở Việt Nam), 47 máy bay chiến thuật, (trong đó có 5 chiếc F111, là loại máy bay chiến thuật hiện đại nhất), bắt nhiều giặc lái Mỹ.

Phi công Mỹ đã sụp đổ niềm tin vào khả năng “bất khả xâm phạm” của “pháo đài bay” và các nhà cầm quân Mỹ coi đó là “cuộc tàn sát B52” và ngao ngán thở dài: “Cứ đà mất máy bay và người lái như thế này thì chả mấy chốc mà hết nhẵn lực lượng không quân chiến lược” còn “chiến dịch Linebacker II không thể vắt ra được quyết định nhượng bộ nào từ Bắc Việt Nam”.

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972
Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Sau nhiều lần xuất kích không thành công, nhiều ý kiến cho rằng MiG 21 khó có thể tiếp cận và không thể bắn rơi B52. Ngày 25/12/1972, Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân triệu tập hội nghị cán bộ, khẩn cấp rút kinh nghiệm.

Sau khi xem xét quy luật tác chiến của địch, Bộ tư lệnh quyết định sử dụng sân bay Yên Bái, một sân bay bị đánh phá liên tục trong những ngày trước, nhưng đã được sửa chữa, nếu địch đánh tiếp, ta cũng khắc phục kịp thời, đảm bảo cho MiG 21 cất hạ cánh.

Chiều 27/12, biên đội của phi công Phạm Tuân được lệnh bí mật cơ động từ Nội Bài lên sân bay Yên Bái, chờ đợi phút xuất kích.

Ông Phạm Tuân kể: “22h20, nhận lệnh từ sở chỉ huy và được sự hỗ trợ của đồng đội, tôi nhanh chóng cho máy bay cất cánh. Khi đến bầu trời Sơn La, nhận được thông báo B52 cách 200, 150, 100km rồi 70km… Khi cách tốp B52 khoảng 3.000m, được lệnh phóng tên lửa. Tôi trả lời xin chờ một chút. Khẩu lệnh bắn lần thứ hai được thông báo, đến lần thứ ba nhắc bắn tôi mới quyết định. Chớp thời cơ có lợi, đưa mục tiêu vào vòng ngắm.

Tới cự ly hiệu quả, tôi nhanh chóng ấn nút phóng liền hai quả tên lửa vào một chiếc B52, tên lửa nổ sáng rực bầu trời trước mắt, tôi nhanh chóng vòng trái xuống độ cao 2.000m, bay trong mây, hạ cánh xuống sân bay Yên Bái, nơi tôi cất cánh 20 phút trước đó.
Thấy pháo đài bay bốc cháy, biên đội yểm trợ điên cuồng lùng sục, nhưng đã quá muộn. Những chiếc còn lại trút bom bừa bãi rồi quay về căn cứ”.

Tiếp sau chiến công của Phạm Tuân, đêm 28/12, từ sân bay Cẩm Thuỷ, phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, được Sở chỉ huy dẫn vòng phía sau đội hình B52, khi đến bầu trời Sơn La, anh phát hiện mục tiêu, dù ở cự ly gần, nhưng anh vẫn quyết tâm công kích, tiêu diệt địch. Máy bay địch trúng tên lửa bốc cháy, Vũ Xuân Thiều không kịp thoát. Anh đã anh dũng hy sinh.

Pháo đài bay bị MiG 21 bắn hạ, điều quá bất ngờ đối với không lực Hoa Kỳ. Chiến công đó là kết quả của trí thông minh và lòng dũng cảm, góp phần vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Tác giả Hữu Hoàng. Từ group Tìm hiểu chiến tranh Việt Nam.