Hiểu rõ về khởi nghĩa Lam Sơn: từ Nghệ An đến chiến thắng Xương Giang

Các Cuộc Khởi Nghĩa

Khởi nghĩa Lam Sơn là một cột mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nó đánh dấu thời kỳ chúng ta giành lại quyền tự chủ từ tay nhà Minh sau tận 20 năm trời ròng rã, với những đứt gãy và phá hoại về văn hóa và lịch sử. Nó đánh dấu sự thành lập của nhà Lê, việc phục hồi, mở rộng lãnh thổ và đến thời Tư Thành ca – Lê Thánh Tông aka Hạo đại ca đã xác lập vị thế vững chắc trong khu vực cũng như tạo dựng những nền tảng và bàn đạp hết sức quan trọng cho công cuộc xuôi Nam hình thành nên lãnh thổ của Việt Nam đương đại.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là không nhiều người hiểu rõ bản chất, quá trình và công lao gầy dựng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thậm chí tên tuổi những nhân vật có đóng góp then chốt đến thắng lợi của nghĩa quân cũng không được mấy người chú ý đến, mà hầu hết đều diễn dịch nó theo một cách rất tiểu thuyết và sách vở, của những cuộc “chiến tranh nhân dân” “công tâm kế” “dụ hàng kế” “bình Ngô sách” … Vai trò của các tướng lĩnh (không có drama) hầu như bị lãng quên và bị hạ thấp tới một mức không thể thấp hơn nếu so với những đóng góp của họ.

Những cột mốc quan trọng của khởi nghĩa Lam Sơn

Nếu xét cả quá trình 10 năm của khởi nghĩa Lam Sơn, có 3 cột mốc quan trọng, 3 bước ngoặt thành bại của nghĩa quân.

Hiểu rõ về khởi nghĩa Lam Sơn: từ thành Nghệ An đến chiến thắng Xương Giang
Hiểu rõ về khởi nghĩa Lam Sơn: từ thành Nghệ An đến chiến thắng Xương Giang

Bước ngoặt thứ nhất: Theo kế của Nguyễn Chích dời vào Nghệ An. Giai đoạn trước đó của Lam Sơn, bất kể là bám trụ vùng núi rừng Thanh Hóa hay hoạt động dọc biên giới Việt Lào, nghĩa quân đều ở vào thế yếu, bị săn đuổi và đánh tan bất cứ lúc nào, phải trốn lên Chí Linh ăn rễ cỏ, măng dại tới tận 3 lần. Nhưng từ khi chuyển vào Nghệ An, có một khu đồng bằng Thanh Nghệ rộng rãi để nuôi lính và tuyển quân, một chặng đường dài từ Đông Đô kéo xuống Nam với nhiều chỗ hiểm yếu để đánh chặn và mai phục, nghĩa quân có được một cơ sở vững chắc và thời gian yên ổn quý giá để phát triển và gây dựng lực lượng, bắt đầu quá trình quật khởi của mình.

Bước ngoặt thứ hai: Trận Tốt Động – Chúc Động. Có một cơ sở vững chắc và một lực lượng tinh nhuệ, khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu mưu tính tiến quân ra Bắc, nhưng lúc này nghĩa quân chưa có mấy tiếng tăm ở Bắc Hà, công tác “dân vận” địa phương thất bại, nói gãy lưỡi dân chúng chả ai dám theo, quân Minh lúc đó lại có tin viện binh sắp sang, phao tin binh lên 10 vạn trước diệt tiền quân, sau vào Nam làm cỏ Lam Sơn. Lúc này chính là các tướng mà nổi bật là: Lý Triện, Đinh Lễ … liều mạng 1 địch 10 đại thắng Tốt Động – Chúc Động thu giữ binh lương, khí giới của địch trang bị cho quân, từ đó tiếng tăm của Lam Sơn mới vang xa khắp cõi Bắc Hà, dân chúng khắp nơi nô nức theo về đưa sổ binh lên tới 35 vạn, từ việc quân đang ở thế yếu chuyển sang tiến công mạnh mẽ khắp các mặt trận dồn ép quân Minh phải chạy vào các thành đóng cửa cố thủ chờ đạo viện quân tiếp theo.

Đó, đó chính là “dân vận” đấy các bạn ạ, vào thời loạn, dân chúng sẽ đi theo kẻ cho mình cái ăn, kẻ dẫn dắt mình đánh thắng, người đủ sức đưa ra cho họ một viễn cảnh thắng lợi và no ấm chứ không phải là một vài bài hịch vu vơ mà có thể làm được điều đó, anh không đủ lực thì miệng nở hoa sen cũng vậy mà thôi.

Nếu nói dời về Nghệ An giúp khởi nghĩa Lam Sơn gầy dựng cơ sở ở Nam, thì Tốt Động – Chúc Động chính là bước ngoặt giúp nghĩa quân gây dựng danh vọng và phát triển ở Bắc Hà, chuyển thủ sang công, giành lấy quyền chủ động trên chiến trường.

Bước ngoặt thứ ba: Trận Xương Giang – Chi Lăng. Trước khi đi vào phân tích cụ thể trận chiến này, chúng ta nói một chút về chủ trương của nghĩa quân.

Từ khi giành được quyền chủ động trên chiến trường, chủ trương được quán triệt của khởi nghĩa Lam Sơn là: Dụ địch hàng và để cho quân Minh đồng ý nghị hòa, rút quân về nước. Rất nhiều người đã được giao đi làm nhiệm vụ này, thậm chí Lê Thái Tổ còn phải để Lưu Nhân Chú và con trai mình Lê Từ Tề vào tay địch làm con tin, và mặc dù có trong tay một văn thần “Bình Ngô sách đáng giá 10 vạn đại quân”, Lê Thái Tổ vẫn phải đi năn nỉ cầu hiền:

“ Lại dụ những người có tài văn chương mà chưa được nhận chức, nếu ai viết thư dụ được người thành Đông Quan, khiến họ mở cửa thành ra hàng và giảng hòa về nước, thì sẽ được thăng chức vượt cấp.” – Lê Thái Tổ – Toàn Thư – 11/1426

Từng đó người, chung tay góp sức, nên đánh đã đánh nên dụ đã dụ, những gì có thể nhượng bộ được đã nhượng bộ, tuy nhiên kết quả là: địch thà chết không hàng, hoặc chỉ hàng khi bị đánh đến chỉ còn đường “một chết, hai hàng” thì mới ra hàng.

Lý do là vì sao? Quân Minh trung quân ái quốc, tận trung với thiên triều không màng mạng sống?

Một phần nhỏ có thể, nhưng nguyên một đám, hơi khó. Lý do chính là vì sự trừng phạt của triều đình rất nghiêm khắc, đầu hàng tuy có thể sống thêm được trong phút chốc nhưng đến khi về nước tùy tình hình, nhẹ thì lột lon bãi chức, nặng có thể chém cả nhà. Do đó, cái kết cục tử trận chiến trường, nhà hưởng tập ấm xét ra vẫn còn đỡ hơn nhiều so với việc cả nhà bị chém vì tội đầu hàng khi chưa có chủ trương từ triểu đình. Đấy chính là lý do vì sao mà công tác dụ hàng lại hết sức khó khăn dù rằng đến cả Vương Thông cũng đã muốn hàng lắm rồi.

Trong tình cảnh đó, một tin cứu cánh cho quân Minh là: Đạo viện binh tiếp theo sắp đến. Đạo viện binh này do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy, theo Toàn thư tổng 2 đạo quân là 15 vạn trong đó Liễu Thăng 10 vạn, Mộc Thanh 5 vạn, còn theo Minh sử, Liễu Thăng 7 vạn, Môc Thanh 5 vạn.

Đây là tin không khác gì than ấm giữa trời đông đối với các toán quân Minh đang bị vây khốn trong các thành tại Đại Việt.

Trong khi đó điều này đẩy nghĩa quân Lam Sơn vào một tình thế cực kỳ hung hiểm. Nên nhớ rằng sổ binh của Lam Sơn lúc ấy tuy là 35 vạn, nhưng quân tinh nhuệ thì chỉ vào khoảng 5 vạn mà thôi. Quân tinh nhuệ chính là tinh binh, là lão binh đã trải qua chiến trận, là binh sĩ có thể trông cậy vào trong những trận chiến then chốt, giao phong trực diện với quân địch trên chiến trường, còn 30 vạn còn lại đa số chỉ là tân binh mới tuyển mộ, là dân chuyển thành binh, nói trắng ra chỉ khá hơn so với đám phu vận lương một chút mà thôi.

Đó là còn chưa kể, đám tàn binh quân Minh đang ở trong các tòa thành. Bọn chúng không phải chỉ là những con rùa rúc đầu, chết dí trong đó không ra, mà lúc cần thiết có thể tiến công một cách chí mạng bất cứ lúc nào. Ngay cả Lý Triện trong lần vây Đông Quan cũng là vì bị địch tập kích bất ngờ không chống nổi mà tử trận, thì cứ thử tưởng tượng cảnh địch nội công ngoại kích, trong thành đánh ra, viện quân đánh vào, quân Lam Sơn trơ trọi trên chiến địa, ai có thể đứng ra đánh thắng?

Ngoài ra còn một điều hết sức quan trọng: Quân lương. 35 vạn quân, có nghĩa là 35 vạn cái miệng ăn, quân ta đông hơn quân địch lại nằm trong thế công thành tức tiêu hao lương thực của quân ta cũng gấp địch nhiều lần, trong khi việc canh tác trong nước chưa khôi phục do chiến hỏa liên miên thì trận này càng không thể nào đánh quá lâu mà phải bằng mọi giá dứt điểm trong thời gian ngắn, quên cái “Thanh dã” đi, không xài được trong trường hợp này đâu.

Đấy, đấy chính là khó khăn của khởi nghĩa Lam Sơn mà người đứng đầu khi ấy là Lê Thái Tổ phải đối mặt khi nhìn vào 15 vạn quân Minh đang chuẩn bị tiến sang nước ta.

Giai đoạn cuối cùng của khởi nghĩa Lam Sơn, trận Xương Giang – Chi Lăng.

Để đối phó với 2 đạo viện binh quân Minh sắp sang, Lê Thái Tổ sau khi xem xét tình hình đã ra quân lệnh: Bằng mọi giá chiếm được Xương Giang.

Quân lệnh ban xuống, Xương Giang lập tức trở thành điểm nóng, phái đoàn dụ hàng tiếp tục đi qua du thuyết nhưng … công cốc, các tướng bắt buộc lại phải đánh, mở ra một trận huyết chiến hết sức khốc liệt, những người được phái đi đều là các danh tướng lão luyện của Lam Sơn: Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê Lãnh, Lê Triện, Nguyên Hãn, trận chiến kéo dài 9 tháng trời, sử dụng tất cả các biện pháp có thể sử dụng được, thương vong quân ta không được nhắc đến nhưng đánh công thành trong tình trạng này thì tổn thất nhiều là chuyện chắc chắn. Thành bị hạ khi chỉ còn 10 ngày nữa là cánh quân tiếp viện của Liễu Thăng kéo sang (2 ngày theo Minh sử).

Câu hỏi đặt ra ở đây: Tại sao lại là Xương Giang? Tại sao không phải là Đông Quan, Tây Đô, Chí Linh hay Cổ Lộng?

Để hiểu vị thế của Xương Giang, chúng ta cần hiểu được vai trò của thành trì. Một tòa thành không đơn giản nhiệm vụ của nó chỉ là để phòng thủ, mà nhiệm vụ quan trọng hơn của nó chính là nơi đóng và luân chuyển quân, chính nhờ ưu thế phòng ngự của thành trì mà các đội quân có thể yên tâm nghỉ ngơi, hoặc cố thủ khi bị địch tập kích để chờ viện binh, cũng như tiếp viện các cánh quân bị tấn công, phối hợp với viện binh chủ động xuất kích tấn công quân đich ở nơi trống trải.

Do đó, thành thường không phải một cái cô thành mà là một hệ thống thành trì ở những nơi trọng yếu trên các tuyến đường quân sự chiến lược, nơi quân có thể chủ động xuất binh tấn công hoặc rút lui khi gặp bất lợi, tiến lùi đều có sự yểm trợ.

Công thành có khó hay không? TL: Nếu không khó thì người ta mất công xây thành làm cái quần gì.

Công thành, nhất là từ thời vũ khí lạnh luôn là một chuyện hết sức khó khăn, những tòa thành bị đánh chớp nhoáng thường là rơi vào vài trường hợp: Thấy khó tự hàng, nội gian mở thành cho địch (trường hợp nhiều nhất), trong tình trạng không kịp chuẩn bị, thành quá yếu, quân thủ thành quá mỏng so với lực lượng của địch ..

Còn ngoài ra đều phải trải qua quá trình công thành hết sức gian khổ và mất thời gian. Lữ Văn Hoán giữ Tương Dương đến tận 6 năm trong tình trạng quân địch hoàn toàn áp đảo và không một ai cứu viện, Sơn Hải Quan không có Ngô Tam Quế mở thì còn khuya quân Thanh mới vào nổi Trung Nguyên, những trận chiến công thành kéo dài tới vài năm trời là chuyện không hề hiếm lạ gì trong lịch sử, thậm chí có trường hợp một tòa cô thành, quân đông gấp chục lần nhưng không đủ khí cụ công thành cuối cùng cũng chịu chết, chẳng hạn như thành Ansi. Chính vì đánh thành khó khăn như vậy nên người ta mới có câu: “Công tâm vi thượng công thành vi hạ”.

Cho nên, mặc dù đúng là xét về mặt công thủ thành trì, Đại Việt so ra kém hơn về cả công nghệ lẫn kinh nghiệm so với Trung Hoa, nhưng điều đó không có nghĩa công thành là dễ.

Xét về vị trí, Thành Xương Giang nằm ngay trên tuyến đường từ biên giới nhà Minh đến thành Đông Đô, nếu không công hạ được thành này, hai cánh viện quân của nhà Minh tiến sang sẽ có một cứ điểm an toàn để hội quân nẹp Lam Sơn vào giữa Đông Quan – Xương Giang đẩy nghĩa quân vào thế 2 mặt thọ địch, và như vậy thì sự chủ động trên chiến trường hoàn toàn rơi vào tay địch, nghĩa quân phải tản ra trên một khu vực không có cứ điểm phòng thủ, đánh địch thì không được mà khi địch hội quân đánh sang thì hết đường đỡ.

Còn tại sao không lấy Đông Quan? Đông Quan lấy được đương nhiên đã tốt, nhưng điều đáng nói là Đông Quan kiên cố hơn thành Xương Giang rất nhiều.

Thời Nhà Hồ, Đông Đô bị đập phá một số đoạn để lấy vật liệu về xây thành Tây Đô, nhưng đến thời Minh thuộc thành này đã được tu sửa lại, đổi tên thành Đông Quan (với hàm ý là xóa bỏ thủ đô của một nước độc lập, chính thức trở thành quận huyện của nhà Minh) tòa thành được coi là một cứ điểm trọng yếu cả về quân sự lẫn mang tính biểu tượng, ở đây trú đóng không chỉ là quân Vương Thông mang sang mà còn có cả quân đội nhà Minh đóng ở đây từ trước, và còn cả quân từ các thành trì khác kéo về (như thành Nghệ An). Từ đó đủ hiểu, Xương Giang đã xương như vậy thì Đông Đô càng khỏi phải bàn.

Thực tế chứng minh, lấy được thành Xương Giang và một chiến thuật dụ địch, phục kích, bao vây tấn công hợp lý nhằm vào 2 đạo viện binh (cộng thêm một chút may mắn), Lam Sơn đã thành công chia cắt quân tiếp viện của nhà Minh và những cánh quân Minh đang ở trong nội địa, dùng quân lực tập trung đánh với quân lực phân tán, bẻ gãy từng cánh quân của địch và giành được thắng lợi sau cùng.

Trên chiến trường, yếu tố tốc độ rất quan trong. Quang Trung trong bài dụ các tướng sĩ từng nói: Ở lúc bình thường sự mau lẹ cũng rất cần thiết rồi, đụng chiến sự lại càng cấp bách, bất cứ sự chậm trễ nhỏ nhặt nào cũng có thể ảnh hưởng đến đại sự.

Giả như quân tiếp viện của Liễu Thăng và Mộc Thạnh đến sớm hơn vài tháng, thậm chí chỉ 15 ngày thôi, cuộc chiến có thể đã có những chuyển biến rất khác và sẽ rất bất lợi cho Lam Sơn.

Vậy tại sao quân Minh cần một thời gian lâu như thế cho đạo viện quân thứ hai?

Trước nay trong lịch sử, Trung Quốc luôn được biết đến ở vị thế nước lớn, có thể huy động trăm vạn hùng binh. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một cách nói mà thôi, nước càng lớn càng có nhiều vấn đề phải lo: Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch, cứ ghét thằng nào cũng vác trăm vạn quân ra đập nó thì chỉ có nước bán nhà đi cho sớm. Vì vậy, huy động quân cho mỗi nhiệm vụ là có giới hạn, và cần thời gian chuẩn bị, điều phối binh lực.

Trong lần tiếp viện thứ nhất của Vương Thông, quân Minh đã vét đi gần 10 vạn quân khu vực biên giới, cho nên kể cả khi nhận được tin báo cứu nguy từ Đông Quan gửi về thì cũng cần thêm thời gian để vua tôi nhà Minh cùng nhau bàn bạc, xác định quân số tăng viện, tướng lãnh binh, thời gian huy động quân từ các nơi khác đến, và điều quan trọng: vấn đề hậu cần.

Muốn động binh, lương thảo phải đi trước. Lương thảo lần này do các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây phải đứng ra cung ứng và thiết lập các tuyến dịch trạm vận lương ra tới ải Nam Quan và từ Nam Quan xuống đến nước ta, chuyện này không dễ vì lương thực ở các tỉnh này đã bị vét trước đó không lâu. Cánh quân tăng viện 12 vạn (tính theo Minh Sử) lần thứ hai không chỉ lấy từ các tỉnh miền Nam mà còn phải điểu thêm quân tinh nhuệ từ Nam Kinh, và cả vệ quân ở Vũ Xương, Thành Đô, điều đó khiến công tác chuẩn bị mất khá nhiều thời gian. Và may mắn là quân ta đã tận dụng được vừa đủ khoảng thời gian quý báu đó.

Song song với việc hạ thành Xương Giang, Lam Sơn lúc đó còn phải điều gấp binh lực lên tiến hành đánh chặn 2 cánh quân tiếp viện của nhà Minh tại biên giới, Liễu Thăng tiến qua từ Quảng Tây, Mộc Thạnh tiến xuống từ Vân Nam.

Hiểu rõ về khởi nghĩa Lam Sơn: từ thành Nghệ An đến chiến thắng Xương Giang
Hiểu rõ về khởi nghĩa Lam Sơn: từ thành Nghệ An đến chiến thắng Xương Giang

Nói một chút về Liễu Thăng. Kết cục tử trận lãng nhách ở Chi Lăng khiến nhiều người coi thường viên tướng này, tuy nhiên nói sơ một chút về lý lịch: Từ khi còn trẻ nhờ hưởng tập ấm Liễu Thăng giữ chức Yên sơn hộ vệ bách hộ, tới khi xảy ra loạn Tĩnh Nan, Liễu Thăng chọn mặt gửi vàng, gia nhập quân của Chu Đệ, xông pha nhiều trận chiến lớn nhỏ, sau khi Chu Đệ toàn thắng lên ngôi, Liễu Thăng tấn chức Tả quân đô đốc thiêm sự, ngoài chiến sự ở Tĩnh Nan, Liễu Thăng còn có nhiều chiến công như đánh cướp biển Oa Khấu, tham gia Bắc chinh đánh bại thủ lãnh Mông Cổ là A Lỗ Đài và điều đáng chú ý là y từng lãnh binh đánh xuống nước ta, đánh bại nhà Hồ và tóm cổ cha con Hồ Quý Ly đem về.

Có thể nói đây là một chiến tướng dù trẻ tuổi nhưng đã có bề dày thành tích khá đồ sộ trên cả chiến trường thủy bộ. Do đó, Liễu Thăng được vua Minh tin tưởng giao cho đội quân chủ lực trong lần xuất chinh này.

Đánh với Liễu Thăng, bộ chỉ huy Lam Sơn chủ trương là dẫn dụ và phục kích. Tướng giữ ải biên giới là Trần Lựu liên tục đụng trận thua chạy từ Ải Nam Quan về tới Ải Lưu rồi chạy đến Chi Lăng, Liễu Thăng thấy thế càng đắc chí thúc tiền quân đuổi theo tách rời khỏi đại quân và lọt vào ải phục kích của Lê Sát ở Chi Lăng và bị phục quân đổ ra chém chết, Lam Sơn thừa thắng xông lên chém gần vạn quân địch.

Các tướng dưới quyền Liễu Thăng là Thôi Tụ, Hoàng Phúc phải nhanh chóng tổ chức lại quân đột phá. Tuy mất tinh thần nhưng dù sao cánh quân ấy vẫn còn nguyên 6 vạn quân tinh nhuệ, Thôi Tụ lúc ấy muốn dẫn quân chạy nhanh đến Xương Giang để xốc lại sĩ khí, chờ hội quân với Mộc Thạnh và liên hệ với Vương Thông tiến hành phản công.

Lê Sát hiểu ý, mở đường cho chạy, lúc này các cánh quân đánh hạ Xương Giang xong cũng được Lê Thái Tổ điều lên tiếp ứng, phối hợp với Lê Sát – Lưu Nhân Chú đè địch ở các trạm mai phục ra đánh, từ Cần Trạm đánh tới Phố Cát, vừa đánh vừa hé một lối cho địch chạy về Xương Giang, địch tiếp tục tổn hao tới 2 vạn quân, phải vứt lừa, ngựa trâu bò lại mà chạy.

Tới Xương Giang, chưa kịp mừng thì biết tin như sét đánh ngang tai, “Xương Giang bị địch chiếm mất rồi anh ơi”, Thôi Tụ tuyệt vọng cho đắp lũy đất phòng thủ, bắn pháo hiệu cầu cứu Vương Thông ở Đông Quan. Người đi cứu người giờ lại phải cầu người mình cứu tới cứu, chẳng biết tâm trạng Vương Thông khi ấy ra sao.

Nhân đó, các cánh quân của khởi nghĩa Lam Sơn lúc này quay lại vây chặt quân địch, Lê Sát Lưu Nhân Chú, Lê Lý, Lê Văn An bám lưng đối phương đuổi theo bọc phía Bắc, Lê Khôi đem thêm quân thiết đột và voi tới, Lê Thái Tổ còn cẩn thận bố trí các đơn vị thủy quân ở sông Thương và Lục Lam phòng địch vượt sông chạy về thành Chí Linh, các tướng sau đó 4 mặt thủy bộ cùng tiến, quân Minh đại bại, cánh quân chủ lực của Liễu Thăng bị tiêu diệt hoàn toàn, Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị bắt sống.

Nhưng quân địch qua tận 2 cánh quân tiếp viện, trong lúc quân Lam Sơn và cánh quân Liễu Thăng đang choảng nhau tơi bời thì cánh quân của Mộc Thạnh đang ở đâu?

Trước hết lại nói một chút về Mộc Thạnh, Mộc Thạnh là con trai Kiềm Ninh vương Mộc Anh, khai quốc công thần nhà Minh, thuộc dạng gia đình có máu mặt, và cũng như Liễu Thăng đều đã từng qua Đại Việt, ra trận đánh thắng có thua có, thắng nhà Hồ, thua quân Hậu Trần ở trận Cô Bô nhưng may mắn chạy được.

Nếu Liễu Thăng quá thừa cái nhiệt huyết tuổi trẻ, một sự tự tin đến mức tự đại, sự quyết đoán đến mức nóng vội thì Mộc Thạnh lại ở một cực ngược lại, ông ta nhiều thêm một chút thận trọng, thiếu đi một chút quyết đoán.

Chính vì nắm được điểm này, nên Lê Thái Tổ đề ra sách lược đánh với 2 cánh quân một cách khác nhau.

Cánh quân của Liễu Thăng thì tận dụng sự nóng vội của địch để dẫn dụ địch vào bẫy, đập “què thượng tướng”, còn ở Mộc Thạnh thì lợi dụng sự thận trọng đến mức bảo thủ của ông ta mà ra lệnh cho Trịnh Khả, Lê Khuyển, Phạm Văn Xảo đặt binh ở Lê Hoa hư hư thực thực để cầm chân địch, và quả nhiên Mộc Thạnh không dám tiến quân mà đợi tin của Liễu Thăng, mất đi thời cơ tiến công. Và đó chính là thời gian quý giá giúp chủ lực của Lam Sơn có thể tập trung tiêu diệt hoàn toàn cánh quân của Liễu Thăng.

Mộc Thạnh chờ hoài tin vui không thấy tới mà bắt được chỉ là hung tin, quân Lam Sơn sau khi đánh tan cánh quân của Liễu Thăng đem cả sắc thư, phù ấn lẫn chỉ huy của địch bị bắt đưa cho Mộc Thạnh, tin thua trận từ cánh quân chủ lực truyền ra khiến Mộc Thạnh hoảng sợ, lòng quân suy sụp.

Chính lúc đó, các cánh quân Lam Sơn hợp binh lại nhất tề xông lên, Mộc Thạnh không thể nào chống nổi, cánh quân tiếp viện thứ hai cũng vì thế mà tan tác.

Nếu Liễu Thăng vì quá chủ quan và nóng vội thiếu ổn trọng mà thất bại thì Mộc Thạnh chính là vì quá cầu ổn mà thất bại.

Một chút so sánh: Quân Lam Sơn khi đó có 35 vạn quân, trong đó chỉ có 5 vạn là tinh binh
Quân Minh nếu tính cả 3 cánh quân: Liễu Thăng 7 vạn (Hoặc 10 như toàn thư), Mộc Thạnh 5 vạn, tầm 10 vạn của Vương Thông và các cánh quân Minh rải rác cố thủ tại các thành.

So ra, quân Lam Sơn không có quá nhiều ưu thế so với địch, thậm chí nếu xét về quân tinh nhuệ thì còn kém, thế nhưng cả 1 chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang, Lam Sơn quét hết 2 đạo viện binh 12 vạn chỉ trong vòng 2 tháng, phải nói rằng đó là một chiến tích cực kỳ huy hoàng.

Sở dĩ làm được như vậy đó chính là nhờ bộ chỉ huy Lam Sơn thực hiện vận động chiến rất khôn khéo để tạo ra ưu thế cục bộ, dùng quân lực tập trung đánh với quân lực phân tán, lợi dụng khuyết điểm của từng tướng lĩnh bên địch mà đề ra quyết sách, khiến cho cả 3 cánh quân Minh từ đầu đến cuối không thấy được mặt nhau, không thể hô ứng cứu viện lẫn nhau, chủ lực của Lam Sơn cứ phân rồi lại hợp đánh tan một cánh quân rồi lại hợp binh đánh tiếp cánh quân khác. Từ đó giành được thắng lợi.

Mọi chuyện trên đời, nếu muốn tìm cớ đổ lỗi thì dễ lắm, khó khăn ở đâu mà chẳng có. Lê Thái Tổ đâu thể đi đổ là do quân ta quá yếu, lương thảo không có, nước nhà tan hoang không có căn cơ không thể đánh lâu dài, thành quá kiên cố khó phá, địch quân quá cứng đầu máu chó không chịu hàng, vừa đánh 1 đạo viện quân 10 vạn đã muốn hộc máu còn lôi thêm 12 vạn quân nữa, nên thôi buông quách cho xong?

Đề ra chiến lược và chịu trách nhiệm chính là nhiệm vụ của người lãnh đạo, quân lệnh ban xuống tướng lĩnh phải liều chết mà thi hành đó là trọng trách của các chư tướng, vị trí càng cao thì gánh vác lại càng phải lớn. Người đứng đầu phải dám đảm đương thì quân, tướng khắp nơi mới sẽ theo về.

Nhìn ra được thời cơ trong bất lợi, biết tận dụng tất cả những gì mình có để xoay chuyển tình thế, biến bất lợi thành chiến thắng chính là phẩm chất của những con người phi thường, còn những kẻ suốt ngày đổ lỗi thì mãi mãi cũng chỉ là những kẻ tầm thường mà thôi.

Tác giả Minh Đức. Bài viết do VSGT tổng hợp từ fanpage Đại Việt Cổ Phong.

Minh Đức
Follow tôi: