Khúc Thừa Dụ đặt nền mống tự chủ độc lập của nước Việt sau 1.000 năm

Quân Vương Nước Việt

Trong lịch sử nước ta, sự ra đời của chính quyền họ Khúc với người đặt nền mống đầu tiên là Khúc Thừa Dụ đã đánh dấu một mốc son quan trọng. Tuy nhiên, do hạn chế về sử liệu và những quan điểm khác nhau của giới sử học, cũng như những ghi chép trong thư tịch Việt Nam và Trung Hoa còn khá sơ lược, nên bức tranh lịch sử giai đoạn này còn rất nhiều điều cần được làm sáng tỏ.

Khúc Thừa Dụ (chữ Hán: 曲承裕; 830 – 907) quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang, Ninh Giang cũ ở Hải Dương), mấy đời là hào tộc mạnh, tính khoan hòa, hay thương người, cho nên có nhiều người kính phục.. Khúc Thừa Dụ được biết đến là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền ngoại giao Việt Nam và là người đặt cơ sở cho nền độc lập của dân tộc Việt sau hơn 1.000 năm bị các triều đại Trung Hoa đô hộ. Ông được nhân dân yêu mến suy tôn là Khúc Tiên Chủ.

Thời thế tạo anh hùng, Khúc Thừa Dụ chớp thời cơ dựng nền tự chủ

Cuối thế kỷ thứ 9, triều đình Trường An đổ nát. Nạn cát cứ của các tập đoàn quân phiệt phong kiến (phiên trấn) ngày càng ác liệt. Khởi nghĩa Hoàng Sào (874 – 884) đã làm lung lay tận gốc nền thống trị của nhà Đường. ở miền tây – nam (Vân Nam), Nam Chiếu cường thịnh, trở thành một nước lớn, luôn luôn đánh cướp đất An Nam. Cuối năm 862 đầu năm 863, Nam Chiếu đem 50 vạn quân xâm lấn An Nam, chiếm phủ thành Tống Bình; nhà Đường bỏ An Nam đô hộ phủ, chỉ lo phòng giữ Ung Châu. Ba năm trời, An Nam bị quân Nam Chiếu chiếm, chính quyền nhà Đường vì hèn yếu đã tự thủ tiêu quyền thống trị của mình trên đất Việt. Các hào trưởng địa phương người Việt tự mình đem quân chống lại quân Nam Chiếu. Và điều đó đã châm ngòi cho phong trào đấu trành giành quyền tự chủ dân tộc của dân Việt suốt ba thế kỷ 7, 8, 9 sau một đêm dài tăm tối.

Khúc Thừa Dụ đem quân đánh chiếm Tống Bình
Khúc Thừa Dụ đem quân đánh chiếm Tống Bình

Sau khi Độc Cô Tổn, viên Tiết độ sứ ngoại tộc cuối cùng rời khỏi đất An Nam, chớp thời cơ chính quyền trung ương nhà Đường rệu rã, chính quyền đô hộ như rắn mất đầu, nhân dân Việt lại một lần nữa kiên quyết đứng dậy tự quyết định lấy vận mệnh của đất nước. Hào trưởng Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ, được dân chúng ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội); tự xưng là Tiết độ sứ, xóa bỏ thực chất của chính quyền đô hộ nhưng khéo léo lợi dụng bộ máy và danh nghĩa của bọn đô hộ cũ để chuyển sang giành quyền độc lập dân tộc một cách vững chắc.

Khúc Thừa Dụ xây dựng bộ máy chính quyền tự chủ

Trong bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Khúc Thừa Dụ cho một phái bộ sang thần phục nhà Đường, thực hiện sách lược “nhu chế cương”. Năm Thiên Hựu thứ ba (906), nhà Đường phải chấp nhận sự việc đã rồi, đành công nhận Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ, còn phong thêm cho ông chức Đồng Bình Chương sự (tức là đại thần cực phẩm, cùng ngồi bàn việc quốc quân trọng sự). Sinh thời, giáo sư Trần Quốc Vượng đã bình phẩm rằng, đây là một hành động khôn ngoan của Khúc Thừa Dụ, “cướp chính quyền một cách hòa bình để xây dựng một chính quyền tự chủ trong hoàn cảnh lịch sử ngày xưa”.

Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 5) viết : “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (*). Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ…”. Mở đầu chính sách ngoại giao khôn khéo trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc: “độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa”, Khúc Thừa Dụ, sau khi đã nắm được quyền lực thực tế trên miền đất đai “An Nam” cũ trong tay, vẫn giữ danh nghĩa “xin mệnh nhà Đường” buộc triều đình nhà Đường phải công nhận sự đã rồi. Ngày 7-2-906 vua Đường phải phong thêm cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ tước “Đồng bình chương sự”. Khúc Thừa Dụ phong cho con là Khúc Hạo chức vụ “Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu” tức là chức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay thế cha nắm quyền hành Tiết độ sứ.

Tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường, về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ bãi bỏ quan lại chế độ cũ kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc.

Khúc Thừa Dụ đặt nền mống tự chủ độc lập của nước Việt sau 1.000 năm
Khúc Thừa Dụ đặt nền mống tự chủ độc lập của nước Việt sau 1.000 năm

Chủ trương hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ bấy giờ đã tạo điều kiện cho nhân dân Đại Việt và họ Khúc có khả năng giữ vững chủ quyền dân tộc trong 1/4 thế kỷ, tránh nạn binh đao do nhà Đường có thể mưu đồ tái chiếm Đại Việt. Tuy mang danh một chức quan nhà Đường, thực chất Khúc Thừa Dụ đã trở thành người làm chủ đất nước. Ông được lịch sử đánh giá là người mở nền độc lập cho nước Đại Việt. Còn nhân dân tôn vinh là Khúc Tiên chúa, gọi là ông Vua độc lập.

Con trai Khúc Hạo duy trì nền tự chủ

Năm Đinh Mão 907, Khúc Thừa Dụ qua đời. Người con trai là Khúc Hạo kế vị, tiếp tục đường lối ngoại giao với phương Bắc: lấy mềm mỏng, hòa hảo, lấy nhu, trí để thuận cương. Khúc Hạo không xưng vương, xưng đế để tránh gây sự chú ý của phương Bắc. Trong khi đó, ở Trung Hoa các tập đoàn quân phiệt xưng hùng xưng bá, sát phạt lẫn nhau…

Lại nói, từ khi Chu Toàn Trung giết vua Đường Chiêu Tông, lập nên nhà Hậu Lương thì Trung Quốc rơi vào thời kỳ chia cắt và nội chiến kéo dài. Ở miền bắc, xuất hiện 5 triều đại: Hậu Lương (907 – 923), Hậu Đường (923- 935), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán và Hậu Chu, gọi là ngũ đại. Ở phía nam ra đời các nước: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Sở, Hậu Thục, Mân, Kinh Nam, Nam Hán… Đó là thời kỳ “Ngũ đại, thập quốc” (năm đời, mười nước).

Khúc Hạo thay cha đúng vào thời kỳ nhà Hậu Lương vừa thay thế nhà Đường (907). Ông đã khôn khéo cho một phái bộ sang nhà Lương thần phục để giữ yên ổn phương Bắc, tập trung vào sửa sang chính sự nội trị, với mục tiêu cải thiện đời sống dân sinh. Ông đã sai con là Khúc Thừa Mỹ tới Quảng Châu làm “Hoan hảo sứ” (có tài liệu chép là “Khuyến hiếu sứ”) để kết hiếu, thực chất là thăm dò tình hình đối địch…

Từ một mô hình của chính quyền đô hộ, nhằm khắc phục tính phân tán của quyền lực thủ lĩnh địa phương, Khúc Hạo đã có những cố gắng đầu tiên hết sức lớn lao nhằm xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương cho đến xã. Ông chia cả nước thành những đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã có xã quan, một người chánh lệnh trưởng và một người tá lệnh trưởng. Một số xã ở gần nhau trước gọi là hương nay đổi là giáp, mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc thu thuế. Theo sách An Nam chí nguyên Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp có trước cả thảy gồm 314 giáp.

Vì nhu cầu chống ngoại xâm, các hào trưởng địa phương phải phục tùng chính quyền trung ương nhưng vẫn có xu hướng cát cứ và họ Khúc cũng như nhiều triều đại độc lập tiếp theo, vẫn phải dựa vào họ để củng cố chính quyền ở các cơ sở. Nhưng xu thế của lịch sử Việt Nam, mở đầu từ cuộc cải cách của Khúc Hạo, là độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia. 

Cùng với việc cải cách hành chính, kinh tế xã hội, Khúc Hạo quan tâm tới quốc phòng, chú ý gìn giữ biên thuỳ. Ông biết lấy tình cảm để thu phục các hào trưởng miền biên viễn và xây dựng lực lượng bảo vệ đô thành, phòng thủ đất nước.

Về nội trị, ông lấy khoan dung, giản dị, yên ổn và vui sống của chúng dân làm mục tiêu. Bốn trăm năm sau, nhà Trần phát triển thành chiến lược “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước”.

Sau này các sử gia coi Khúc Hạo “là nhà cải cách đầu tiên của thời quân chủ Việt Nam”.

Như đã nói phần trên, ở phía nam Trung Quốc lần lượt ra đời 10 nước, tranh giành, xâu xé lẫn nhau. Trong số đó Nam Hán mạnh hơn cả, đã xâm chiếm cả một vùng rộng lớn để giương oai thanh thế. Nam Hán cắt đứt quan hệ bang giao với Hậu Lương ở phía bắc.

Đầu năm 917, Lưu Cung lên ngôi hoàng đế Nam Hán. Khúc Hạo đã sai con trai Khúc Thừa Mỹ và Ngô Mân mang lễ vật sang mừng để kết tình bang giao. Cuối năm ấy, Khúc Hạo qua đời, người con trai là Khúc Thừa Mỹ nối ngôi, cai quản đất nước.

Biết Lưu Cung tham vọng lớn, có dã tâm tráo trở, Khúc Thừa Mỹ có ý đề phòng, phái tướng lĩnh tâm phúc lên vùng thượng du liên kết với các tù trưởng các dân tộc thiểu số, tổ chức đội quân địa phương giỏi chiến đấu trong rừng núi. Ông cho thành lập các đội quân thám báo, giả làm người lái buôn, thâm nhập vùng quân Nam Hán dò tin tức.

Tháng 10 năm Canh Dần 930, Nam Hán đem quân tiến đánh nước ta. Khúc Thừa Mỹ bị giặc bắt, giải về Quảng Châu.

Chủ trương ngoại giao của họ Khúc từ thế kỷ 10 đã để lại cho đời sau những bài học quý giá trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong kháng chiến chống giặc Minh, thế kỷ 15, Nguyễn Trãi, nhà chính trị quân sự đã dùng ngòi bút viết thư gọi giặc đầu hàng, cùng lưỡi kiếm vung lên đánh đuổi quân xâm lược, kết thúc chiến tranh.

Nhận định

Nhà sử học Nhật Bản Tatsuro Yamamoto, trong cuốn “Lịch sử mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam – Trung Quốc từ sự trỗi dậy của dòng họ Khúc đến cuộc chiến Pháp – Thanh” (History of international relations between Vietnam and China- Tokyo 1975) đã nhận định: Trải qua các triều đại Khúc, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn…, các danh nhân đối ngoại: Khúc Thừa Dụ, Lê Văn Thịnh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhiệm đã đem tài năng ngoại giao góp phần làm rạng danh đất nước.

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học từng nhiều lần khẳng định: Nếu nói đến người đầu tiên đặt nền móng ngoại giao ở Việt Nam, phải ghi công lao của họ Khúc.

TS Tống Văn Lợi (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐH Quốc gia Hà Nội) khẳng định: “Với Kiến văn tiểu lục, có thể nói Lê Quý Đôn là người đầu tiên đã ghi nhận vai trò của Khúc Thừa Dụ và đề cập đến danh xưng Khúc tiên chủ (chúa). Sau này, thông tin về Khúc Thừa Dụ được biên chép thống nhất trong Việt sử tiêu án, Đại Việt sử ký tiền biên và Khâm định Việt sử thông giám cương mục…”.

Theo PGS-TS Trần Thuận (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM): “Cuối thế kỷ 9, chính quyền T.Ư nhà Đường suy yếu nghiêm trọng, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội Giao Châu rơi vào tình trạng khủng hoảng đã dấy quân chiếm thành Tống Bình, tự xưng là Tiết Độ sứ, khởi đầu cho chính sách ngoại giao hết sức khôn khéo của người Việt đối với triều đình phong kiến phương Bắc, đó là “độc lập thực sự, thần thuộc trên danh nghĩa”. Ba đời Khúc chúa: Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đã nối nhau giành và giữ vững nền độc lập, tự chủ dân tộc trong suốt 51 năm cho đến khi Khúc Thừa Mỹ thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán năm 930”.Dưới góc độ quân sự, trung tướng Phạm Đăng Khóa, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng, cho rằng: “Văn hóa giữ nước đã có từ thời Tam Khúc chúa với nghệ thuật quân sự không chỉ chớp lấy thời cơ giành độc lập mà còn lo giữ đất nước ngay cả khi thái bình, với chính sách đối nội, đối ngoại vận dụng một cách đúng đắn, sáng suốt trong ấm ngoài êm”.

Xem thêm : Trận Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938

Tác giả Đoàn Nhật Quang.

Đoàn Nhật Quang