Lê Long Đĩnh: Vị vua trẻ tài năng phi thường và lý do đánh mất cơ nghiệp

Quân Vương Nước Việt

Cai trị một quốc gia tiềm ẩn vô vàn những bất ổn, xung đột, nếu không có hình phạt nghiêm khắc và tài thao lược có lẽ Lê Long Đĩnh đã để quốc gia đi theo bánh xe đổ của họ Khúc, họ Dương và cả họ Ngô. Lê Long Đĩnh vị quân vương trẻ tuổi, tài năng công tích rõ ràng trong cả trị quốc an bang và chiến tích quân sự rốt cuộc đã thất bại. Sau cái chết của ông, Lý Công Uẩn một thủ lãnh quân sự – đại diện cho thế lực sông Hồng được giới tăng lữ, quý tộc bầu lên làm quốc vương.

Nhưng câu hỏi là tại sao Long Đĩnh thất bại trong việc tạo sự phồn vinh và vững bền cho vương triều Tiền Lê?

Lê Long Đĩnh giết anh (Long Việt) lên ngôi năm 20 tuổi. Trong 4 năm trị vì ngắn ngủi bất chấp bệnh tật và tiếng xấu giết anh, nhà vua trẻ đã thiết lập những nền tảng cho sự thịnh trị của vương triều kế tiếp và chứng tỏ năng lực chiến đấu phi thường của mình.

1. Những bất ổn triền miên

Kể từ sau họ Khúc xưng Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân (tức là Việt Nam thời nhà Đường cai trị), các Thủ lãnh, quân vương người Việt đều phải vật lộn để chống lại họa trong nhà chém giết lẫn nhau, họa cát cứ và phương Bắc tái chiếm. Thất bại đồng nghĩa với cái chết, vương triều diệt vong, quốc gia mất nền độc lập, hoặc bị chia cắt.

Thất bại của Khúc Thừa Mỹ (con Khúc Hạo) trước nhà Nam Hán được bù lại bằng việc nha tướng Dương Đình Nghệ chiếm lại thành Long Biên, khôi phục tự chủ. Chỉ 7 năm sau, Dương Đình Nghệ bị con nuôi Kiều Công Tiết sát hại, Nam Hán khởi quân xâm lược.

Ngô Quyền đánh bại được quân Nam Hán, xưng Vương trị vì được 6 năm, ngay sau cái chết của ông là loạn Dương Tam Kha, kế đó là loạn 12 sứ quân.

Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng Đế) dẹp được loạn 12 sứ quân, ở ngôi 10 năm cuối cùng bị sát hại, Hoàng tử cả là Đinh Liễn chịu chung số phận. Lê Hoàn nhân cơ hội này phế ấu chúa Đinh Toàn tự lập làm vua (tức là nhà Tiền Lê 980 – 1009).

Bản thân vua Lê Hoàn phải bắt giết hết những bề tôi trung thành với nhà Đinh, hết phá Tống bình Chiêm lại phải dẹp loạn Hoan, Ái (tức là miền Thanh, Nghệ), Đỗ Động Giang, Cử Long …Riêng tại Cử Long, quân phiến loạn còn bắn chết cả cựu đế Đinh Toàn.

Sau, cái chết của vua Lê Hoàn năm (1006) biến loạn cung đình bùng phát, các con của Lê Hoàn khởi binh tranh đoạt ngôi vua, chiến loạn kéo dài trong 8 tháng, kết thúc bằng việc Thái tử Long Việt chiến thắng và lên ngôi.

Nhưng Long Việt ở ngôi mới được ba ngày đã bị người em Lê Long Đĩnh ám sát. Long Đĩnh lên ngôi vua, đó là hoàng đế Lê Ngọa Triều nổi tiếng hung ác trong lịch sử Việt Nam.

2. Dẹp loạn giữ vững nền thống nhất

Lê Long Đĩnh cướp ngôi năm 1006, khi đó ông mới 20 tuổi, sử cũ hoàn toàn không ghi chép lại việc Long Đĩnh được một vị bề tôi tài giỏi nào phò trợ. Chàng trai hai mươi tuổi này phải chiến đấu không ngừng nghỉ để dẹp yên nạn cát cứ, giữ vững nền thống nhất quốc gia, củng cố bang giao với Tống triều.

Ngay khi cướp được ngai vàng, vị vua trẻ đã phải chống lại những người anh em của mình là Ngự Bắc Vương, Trung Quốc Vương. Hai vương gia này chiếm trại Phù Lan, người Đằng Châu là Lê Hấp Ni theo đó tạo phản. Lê Long Đĩnh phải thân chinh cầm quân đánh dẹp cuối cùng bắt giết Lê Hấp Ni và đồng đảng, Ngự Bắc Vương cùng đường bị bắt, Trung Quốc Vương bị chém, Ngự Man Vương chiếm giữ Phong Châu phải quy hàng.

Loạn Thân vương được bình định xong, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép lại: “Thế là từ đấy các thân vương, giặc cướp đều hàng phục cả”.

Nhưng trong khi vua Lê Long Đĩnh cầm quân dẹp loạn Thân Vương thì giặc Cự Long vào cướp cửa bể Thần Phù vua vừa về đến Đằng Châu đổi tên thành Thái Bình lại phải dẫn binh đi đánh dẹp. 2 năm sau nhà vua dẹp loạn ở Đô Lương, Vị Long.

Mùa thu năm 1009, nghĩa là chỉ vài tháng trước khi mất vua Lê Long Đĩnh lại cầm binh dẹp loạn Hoan Đường, Thạch Hà (Hà Tĩnh ngày nay).

Trong 4 năm, nhà vua trẻ ít nhất 4 lần cầm quân ra trận, lần nào cũng chiến thắng. Cường độ cầm binh ra trận của Lê Long Đĩnh là không một vị hoàng đế nào của nước Việt sánh được, kể cả người cha vĩ đại của ông là Hoàng đế Lê Hoàn, hay nhà sáng lập Triều Lý là Lý Công Uẩn. Nhờ tài năng quân sự và sự nghiêm khắc của Lê Long Đĩnh mà nước Việt không bị chia năm xẻ bẩy sau cái chết của hoàng đế Lê Hoàn.

3. Trổ tài tế thế kinh bang và nỗi oan ngàn năm.

Bên cạnh tài năng quân sự, Lê Long Đĩnh còn chứng tỏ năng lực lớn trong trị quốc và bang giao. Chỉ vài tháng sau khi đăng cơ, nhà vua cho sửa đổi lại triều đình theo cung cách nhà Tống, triều đình Đại Cồ Việt giờ mới có quy củ nề nếp.

Đây có thể nói là cuộc cải cách chính trị thứ hai của người Việt (trước đó là cải cách của Khúc Hạo 907 – 917). Cuộc cải cách của Lê Long Đĩnh chắc rằng sẽ tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ hoặc là nền tảng đối với sự thiết lập bộ máy cai trị của hai vương triều Lý, Trần.

Khi chinh phạt Ái Châu, vì việc người dân lội sông Vũ Lung thường bị hại (chết đuối), Lê Long Đĩnh cho đóng thuyền tại bốn bến sông để đưa người qua lại. Nhà vua cho đào mương, đắp đường dựng cột bia, sửa chữa đường sông ở vùng cửa Sót (Hà Tĩnh) để đi lại cho tiện. Những việc làm rất “dân túy” và minh mẫn trái ngược lại những ghi chép về tính hiếu sát bệnh hoạn của vua Lê Long Đĩnh.

Từ năm 1006 đến 1009, ít nhất hai lần quan chức nhà Tống mưu đồ tái chiếm lại nước Việt, nhưng vua Tống không đồng ý, ngược lại còn công nhận Lê Long Đĩnh là Giao Chỉ quận Vương. Nhà vua đòi (xin) nhà Tống cho áo mũ trụ giát vàng, lấy Cửu Kinh và kinh Đại tạng đem về nước. Vua yêu cầu Tống triều cho người Việt vào Ung Châu đặt trạm buôn bán, kết quả, vua Tống phải mở cửa trấn Như Hồng, và Liêm Châu cho thương nhân Việt.

4 năm với đầy những chiến công, quốc gia vững vàng, đó là nền tảng quan trọng để nước Việt bước vào thịnh thế Lý triều. Bốn năm, ít nnhất bốn lần cầm quân đánh dẹp, chỉnh đốn triều đình, mở mang đường xá, phát triển thương mại, thời gian đâu để vua Lê Long Đĩnh “say đắm tửu sắc”?

Đáng tiếc sử trong tay người chiến thắng. Một quân vương trẻ tuổi tài năng, lại bị vết đen ngàn năm bởi án vụ giết anh, bệnh tật và thói hiếu sát. Thương thay!

Lê Long Đĩnh: Vị vua trẻ tài năng phi thường và lý do đánh mất cơ nghiệp
Lê Long Đĩnh: Vị vua trẻ tài năng phi thường và lý do đánh mất cơ nghiệp

4. Thay triều đổi ngôi

Khi nhà Đường còn cai trị ở Giao Châu (Tĩnh hải quân), các thủ lãnh địa phương (hào trưởng) – thủ lãnh những bộ lạc buộc phải khuất phục trước sức mạnh vượt trội của thành Long Biên. Nhưng mọi việc đã hoàn toàn thay đổi khi Khúc Thừa Dụ một Hào trưởng tại Hồng Châu (nay là miền Hải Dương) đã thành công trong việc tiến vào tiếp quản quyền lực tại Long Biên khi thành này vô chủ. 

Giờ là lúc vai trò của giới quý tộc Việt – các hào trưởng nổi lên, họ không chỉ có quyền lực tại địa phương (lãnh địa của mình) mà còn can dự sâu sắc vào thượng tầng chính trị. Bên cạnh họ là giới tăng lữ Phật giáo – những người nắm “phần hồn” của dân chúng Giao Châu. Việc bầu một “thủ lãnh mới” phụ thuộc vào quý tộc, tướng lãnh và tăng lữ Phật giáo. Điều này có thể bắt gặp ở trường hợp (nhiệm kỳ) của Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, sau là cả nhà Tiền Lê . Hậu quả là sự tồn tại của các vương triều, các vị thủ lĩnh Việt thế kỷ X chỉ mang tính thời hạn và dường như các quân vương chỉ là “thủ lãnh trọn đời”. 

Sau cái chết của Dương Đình Nghệ, quyền lực rơi vào tay Ngô Quyền chứ không phải là người họ Dương, từ Thanh Hóa tiến ra bắc, Ngô Quyền nhanh chóng giết Kiều Công Tiễn rồi đả bại quân Nam Hán (938).

Nhưng họ Ngô cũng không giữ quyền lực được lâu. Toàn Thư chép, trước khi mất, Ngô Quyền phó thác con cả là Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha, kết quả là Kha “cướp ngôi” của Ngập. 7 năm sau em Ngập là Ngô Xương Văn được giới tướng lãnh ủng hộ đã giành lại quyền lực.

Đinh Bộ Lĩnh chết, nhiều tướng lãnh ủng hộ cho Lê Hoàn. Tới nhà Lê, giới quý tộc, tướng lãnh, tăng ni cũng không ủng hộ cho Lê Long Đĩnh mà quay ra ủng hộ một thủ lĩnh quân sự đại diện cho Phật giáo là Lý Công Uẩn.

Từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh đến Lê Hoàn đã có ba người thất bại trong việc chỉ định con mình kế ngôi. Đó dường như là truyền thống (bầu cử) của những liên minh bộ lạc hơn là tính bền vững của một vương triều.

Và kể cả Lê Hoàn, hay Lê Long Đĩnh thì những truyền thống, cách hành xử kiểu tù trưởng vẫn còn. Nhà vua sẵn sàng xuống sông để bắt cá sấu cho sứ nhà Tống xem; còn Lê Long Đĩnh thích tự tay chọc tiết gia súc trước khi nhà bếp có thể chế biến con gia súc ấy thành đồ cúng tế.

5. Sự tự tin thái quá

Khoảng năm 1004, Lê Long Đĩnh đã bộc lộ sự tự tin vào năng lực của mình, cũng như tin tưởng vào sự sủng ái của vua cha. Chàng trai 18 tuổi yêu cầu phụ hoàng lập mình thái tử và Lê Hoàn đã chấp nhận yêu cầu này. Tuy nhiên giới quý tộc lại không cho rằng như vậy là thỏa đáng, họ lập luận phế trưởng lập thứ là trái lễ và thế là Lê Hoàn phải lập Long Việt làm thái tử.

Chẳng cần phải tốn quá nhiều thời gian, năm 1006, sau khi Lê Hoàn mất, Long Đĩnh đã có được vương quyền (Long Việt sau chiến loạn thân vương chỉ ở ngôi được 3 ngày rồi bị ám sát chết – cái chết mà Long Đĩnh được quy trách nhiệm). Vị quân vương mới thiết lập quyền lực của mình chẳng cần sự ủng hộ của quý tộc, cũng như tăng lữ Phật giáo.

Ngay sau chuyến chinh phạt các thân vương phản loạn, Long Đĩnh đã cho chỉnh đốn lại triều cương. Ông ta cải cách quan chế và tăng quan, thiết lập quy củ triều đình theo mô thức nhà Tống. Ông đem về nước Cửu Kinh ( 9 cuốn sách kinh điển vĩ đại của Trung Hoa: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ;) và Đại Tạng Kinh.

Phải chăng đây là nỗ lực của Long Đĩnh nhằm tìm kiếm tư tưởng trị quốc mới và cân bằng quyền lực Phật giáo tại vương quốc của ông? (Có thể), giới quý tộc, tăng lữ thấy rằng quyền lợi, quyền lực của họ bị đe dọa bởi một chàng trai mới ngoài 20 tuổi, đang tràn đầy tham vọng hiện đại hóa cơ chế quyền lực.

Lê Long Đĩnh: Vị vua trẻ tài năng phi thường và lý do đánh mất cơ nghiệp
Lê Long Đĩnh: Vị vua trẻ tài năng phi thường và lý do đánh mất cơ nghiệp

6. Không thể coi thường những quyền lực cũ

Lê Long Đĩnh để tâm tới việc chứng tỏ năng lực của mình hơn là kính trọng các tăng lữ Phật giáo. Thậm chí “chiến binh hung hãn” này còn róc mía trên đầu một nhà sư phản loạn.

Long Đĩnh cũng giành thắng lợi trong đối ngoại với nhà Tống, vị hoàng đế phương Bắc phải thừa nhận ông là Giao chỉ quận vương. Nhưng, tăng ni (và có thể là cả giới quý tộc Đại Cồ Việt khi đó) cho rằng Lê Long Đĩnh không được họ bầu ra

Trong khi vị quân vương mới mải mê với những chiến tích dẹp loạn ở hầu khắp các miền của vương quốc hay làm những việc đêm lại lợi ích cho dân chúng, thì tại kinh thành Hoa Lư quý tộc, tăng lữ tụ tập xung quanh một thủ lãnh quân sự khác. Đó là Lý Công Uẩn.

Họ nhìn thấy ở Lý Công Uẩn – người sinh ra và lớn lên tại cửa chùa – khả năng đáp ứng được các mong mỏi của giới tăng ni; người tỏ ra nhân từ hơn với những thế lực địa phương. Họ bịa ra những câu sấm truyền về việc Lý thay Lê để dọn đường dư luận.

Cuối năm 1009, sau chiến thắng tại miền cực nam của quốc gia (cửa Sot, Hà Tĩnh), nhà vua trẻ đã cho mở rộng đường thủy để giúp cho sinh kế của người dân. Khi trở về kinh thành thì mọi việc đã trượt ra ngoài tầm khống chế của ông. Khắp nơi loang đi tin đồn rằng Lý sẽ thay Lê, giới quý tộc, tăng lữ Phật giáo chính thức đoạn tuyệt với ông.

Lê Long Đĩnh đã có những nỗ lực nhằm chứng tỏ quyền lực của mình, ông cho tầm nã những kẻ loang truyền tin đồn, thậm chí tìm giết người họ Lý – Chỉ có điều Lý Công Uẩn – kẻ đang nắm quyền chỉ huy Cấm Vệ quân thì ông lại không biết – hoặc không làm gì nổi. Vài tháng sau Long Đĩnh qua đời, khi đó ông mới 24 tuổi.

Những thế lực thủ cựu đã ngay lập tức bầu “Tổng thống mới”, ứng viên duy nhất là Lý Công Uẩn. Cây cột chống duy nhất là Lê Long Đĩnh gãy đổ, thị tộc họ Lê buộc phải chấp nhận truyền thống bầu cử này, và đó lý do vì sao Lý Công Uẩn không vấp phải những cuộc biến loạn từ quý tộc họ Lê.

Lý Công Uẩn già dặn (lúc này đã 40 tuổi) và “biết” làm chính trị hơn chàng trai Lê Long Đĩnh, ông nhanh chóng chuyển chỗ ở ra Đại La xa hẳn Hoa Lư – trung tâm quyền lực của họ Lê, đồng thời dựa vào Phật giáo để trị quốc. Ông ta tiến hành thần thánh hóa quyền lực cũng như sự ra đời của mình.

Điều này chưa từng có ở các vương triều tiền nhiệm! Bởi tại những vương triều tiền nhiệm, nhà vua đơn giản là được tướng lãnh, quý tộc, tăng ni bầu ra.Thay vì việc cứ mỗi năm phải một đôi lần cầm quân dẹp loạn, Lý Công Uẩn sử dụng chính sách Kimi với các thế lực quân sự địa phương.

Thời gian để có được chế độ tập quyền không thể nhanh như Lê Long Đĩnh đã làm, từng bước Lý Công Uẩn rồi con cháu ông ta đã yên tâm với ngôi Thiên tử và Triều thần phải hết lòng phó tá người mà Thiên tử chọn lựa để kế vị (thái tử).

Tổng hợp từ bài viết của tác giả Quang Phan và Hàn Times Blog