VIỆT SỬ GIAI THOẠI

Người kể chuyện Sử

Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979?

Chia sẻ với bạn bè :

Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979? Cách đây khoảng chục năm, khi tham gia vào các diễn đàn quân sự, trong 1 topic nào đó chợt nhắc thoáng qua về cuộc chiến tranh biên giới 1979, tôi từng thấy những câu hỏi đại loại như:

  • Tại sao Liên Xô không tham chiến?
  • Liên Xô đã giúp gì cho chúng ta?
  • Vai trò của Liên Xô là gì trong cuộc chiến tranh này là gì?

Thời ấy, để viết về những điều như thế là cấm kỵ, không ai dám nói nhiều. Nhưng thời gian trôi qua, cùng với sự biến động của thời cuộc, khi chúng ta được mở rộng hơn về thông tin, thông thoáng hơn về cách nhìn, được đọc nhiều hơn về cuộc chiến này, nếu không nhắc đến những người bạn Nga có lẽ sẽ là một thiếu sót lớn.

Những ngày ấy, khi biết bao chiến sĩ, đồng bào ta ngã xuống vì cuộc chiến, thì phía bên kia, cũng đã có những người bạn Xô viết ngã xuống vì chúng ta. Đó là Thiếu tướng không quân Malykh (ông hy sinh khi chiếc AN-12 chở ông bị rơi trong lúc đáp xuống Đà Nẵng), là đại úy – biên đội trưởng Vladimir Samoilov (anh hy sinh khi chiếc Mig-21bis của mình gặp tai nạn trong 1 cuộc diễn tập), là hơn 50 chiến sĩ của sư đoàn lính dù Cận vệ 106 bị thương nặng, hy sinh khi đổ bộ trên sa mạc Gobi (dưới sức gió lên đến 40m/s và nền đất cứng như đá)…

Tháng 2 này, khi chúng ta hồi tưởng về Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, tưởng nhớ các liệt sĩ ngã xuống khi giữ gìn cương vực lãnh thổ, hãy dành một phút để nhớ về họ, những chiến sĩ Xô viết đã hy sinh khi làm nhiệm vụ để ủng hộ chúng ta từ xa.

//

Sau khi chiến tranh nổ ra, chỉ 2 ngày sau (tức ngày 19/2), đoàn công tác đặc biệt gồm các tướng lĩnh Liên Xô do Đại tướng Gennady Obaturov dẫn đầu đã đáp xuống Hà Nội. Ngay khi đến nơi, sau khi nghe báo cáo nhanh, Đại tướng Obaturov đã gặp và nắm thông tin chiến trường trực tiếp từ Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Văn Tiến Dũng. Ngay lập tức, ông yêu cầu 1 chuyến xe đặc biệt ra mặt trận để thị sát dù các tướng lĩnh Việt Nam cật lực phản đối. Bởi với người như Obaturov, ông không thể ra các quyết định khi chưa trực tiếp nắm bắt tình hình trận địa. Nhưng những lo ngại của chúng ta hoàn toàn có cơ sở. Tại Lạng Sơn, đoàn xe của các cố vấn đã bị phục kích. Và chỉ có may mắn, tất cả các tướng lĩnh Liên Xô mới an toàn trở về.

Sau chuyến thị sát, tướng Obaturov đã đề xuất với Tổng bí thư Lê Duẩn một số vấn đề:

  • Rút một quân đoàn chủ lực của ta từ Campuchia về chi viện cho biên giới phía Bắc.
  • Tăng cường cho mặt trận biên giới một đơn vị pháo phản lực BM-21 mới thành lập (thuộc lực lượng trừ bị) trên cơ sở những vũ khí mới mà Liên Xô viện trợ.
  • Nhanh chóng tái tổ chức, trang bị lại cho các đơn vị vừa rút lui từ chiến trường.
  • Rút sư đoàn bộ binh 346 ra khỏi vòng vây, vì sư đoàn này đang chiến đấu trong hậu phương địch.

Ngày 21/2, tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã nhổ neo tiến về phía vùng biển Việt Nam.

Ngày 23/2, cầu không vận Xô-Việt cũng đã được thành lập.

Ngày 26/2, Tổng bí thư Lê Duẩn phê chuẩn đề xuất “rút 1 quân đoàn chủ lực của ta từ Campuchia về”. Ngay lập tức, cầu không vận nóng với nòng cốt là phi đội AN-12 với các phi công Xô Viết đã tiến hành không vận Quân đoàn 2 của ta về và đưa lên Lạng Sơn.

Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt - Trung 1979?
Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979?

//

Đầu tháng 3, khi thấy rõ ý đồ của quân đội Trung Quốc qua việc nỗ lực chiếm Lạng Sơn, từ đó mở tuyến đường ngắn nhất đến Hà Nội, Tổng Bí thư UBTU Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev đã tuyên bố:

“Liên bang Xô Viết xét thấy cần thiết tuyên bố một cách chắc chắn rằng: hành động của Trung Quốc khiến những người đang thực sự quan tâm đến việc đảm bảo an ninh của các dân tộc, duy trì hòa bình không thể thờ ơ…

… Quân đội Trung Quốc cần phải ngay lập tức rút ra khỏi lãnh thổ Việt Nam… Liên bang Xô Viết tin tưởng Hiệp ước hữu nghị và hợp tác đã và đang liên kết hai đất nước chúng tôi”.

Người Trung Quốc được khẳng định rằng nếu quân đội của họ không rút ngay khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận. Đi cùng với tuyên bố đanh thép của Tổng bí thu (TBT) Brezhnev, Moskva đã hành động thực sự.

  • Các đơn vị tên lửa chiến thuật, các sư đoàn đang đóng quân dọc biên giới Xô – Trung đều được chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu số 1.
  • 44 sư đoàn đang bố trí dọc biên giới Xô – Trung với sự yểm trợ của không quân chiến thuật bắt đầu tập trung triển khai lực lượng dọc các tuyến biên giới.
  • Các trung đoàn Không quân (KQ) chiến đấu từ Ukraine và Belarus được chuyển về các sân bay ở Mông Cổ. Cùng với các trung đoàn KQ chiến đấu còn có KQ vận tải và các phân đội bảo trì kỹ thuật-phục vụ sân bay. Tại những thời điểm riêng trong không trung cùng một lúc có mười trung đoàn KQ chiến thuật.
  • Hạm đội Thái Bình dương cũng không đứng ngoài những sự kiện đang diễn ra trên biên giới Việt – Trung. Các chiến hạm khác cũng được lệnh cơ động về tập kết trong khu vực cùng với tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak, tổ chức thành một tập đoàn lực lượng hải quân công kích. Trong khoảng cuối tháng 2/1979, đã có 13 chiến hạm Xô Viết cùng lúc hoạt động trên khắp biển Đông. Theo sau đó là lực lượng tăng cường với kỳ hạm là chiếc tuần dương hạm “Đô đốc Senyavin.”

Từ ngày 12 đến 26/3, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên biển Thái Bình Dương tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật. Tổng cộng, cuộc tập trận có sự tham gia của 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân với quân số hơn 200 nghìn người, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm.

Những cuộc diễn tập quân sự lớn nhất ở phía mặt trận Mông Cổ, nơi có sự tham gia của 6 sư đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới, 2 lữ đoàn hỗn hợp, 3 sư đoàn không quân, cũng như các đơn vị hợp thành và cơ sở tăng cường. Các bên tập trận phân ra “quân Bắc” và “quân Nam”. Để yểm trợ lục quân đẩy lùi kẻ thù trong quá trình tiến quân, cũng như yểm trợ khi tấn công trong trường hợp tao ngộ chiến, phía Liên Xô đã huy động 3 sư đoàn KQ biên chế đầy đủ, hai trung đoàn trực thăng và 2 trung đoàn KQ trinh sát. Về cơ giới, tổng cộng có khoảng 12 trung đoàn xe tăng được tung vào trận (mỗi trung đoàn biên chế gần 100 xe). Đó là cả một hạm đội thiết giáp (theo nhận định từ phương Tây). Nếu tính theo biên chế và quân số chiến đấu – tương đương hai tập đoàn quân xe tăng thời Chiến tranh Vệ quốc.

Sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula được vận chuyển vào khu vực Chita trên quãng đường dài 5.500 km bằng máy bay vận tải quân sự trong một đợt hành quân kéo dài 2 ngày. Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc, gần 50 chiến hạm của Liên Xô, trong đó có 6 tàu ngầm, tiến hành các hoạt động sẵn sàng chiến đấu và đồng loạt triển khai diễn tập các hoạt động tác chiến nhằm tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương. Riêng vùng biển Primorie tiến hành diễn tập đổ bộ đường biển

Đây được xem là cuộc tập trận có quy mô lớn nhất lịch sử quân sự nhân loại. Riêng số xăng dầu dự trữ chiến lược sử dụng cho cuộc tập trận này, phải mất đến 2 năm Liên Xô mới phục hồi được.

Ngày 16/3, Trung Quốc tuyên bố đã “dạy cho Việt Nam một bài học” và hoàn thành việc rút quân.

//

Vậy: TẠI SAO LIÊN XÔ KHÔNG THAM CHIẾN?

Đây chính là câu hỏi mà dạo ấy, tôi hay gặp nhất. Không ít ý kiến chỉ trích dường như Liên Xô đã không giúp đỡ được đồng minh của mình, CCCP trên thực tế chỉ là “chú gấu bằng giấy”… Những suy diễn này chủ yếu dựa trên thực tế, tại sao Liên Xô không khai chiến với Trung Quốc. Nhưng rõ ràng những suy luận đó thuần túy mang nhiều tình cảm tính hơn là sự phân tích tình hình.

Với quan điểm cá nhân, tôi cho rằng Liên Xô đã tham chiến nhưng ở 1 mức độ chừng mực. Trên phương diện quốc tế, Liên Xô lên án gay gắt Trung Quốc và tuyên bố hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam về mọi mặt. Về hành động, họ đã làm quá nhiều như trên. Tuy nhiên, để dẫn đến việc tiến hành 1 cuộc chiến công khai với Trung Quốc là điều cả 2 bên phải cân nhắc.

  • Lý do đầu tiên và dễ thấy nhất như đúng tên gọi của cuộc chiến: “Chiến tranh biên giới”. Hoặc nếu nói đúng hơn theo ngôn ngữ quốc tế, đó chỉ là 1 cuộc “Xung đột biên giới” như biết bao cuộc tranh chấp, xung đột khác đã diễn ra giữa biên giới của nhiều nước. Việc 1 bên thứ 3 công khai ủng hộ 1 phía và tấn công bên còn lại sẽ đưa đến những hệ quả khôn lường về mặt chính trị trên bình diện quốc tế.
  • Thứ 2: về mặt ý thức hệ, cuộc chiến biên giới Việt – Trung có thể xem như 1 cuộc nội chiến giữa các nước Cộng Sản. Tạp chí TIME số tháng 3/1979 đã gọi tên cuộc chiến này 1 cách mỉa mai là “Cuộc chiến giữa những người anh em nổi giận”. Hơn nữa, một khi Liên Xô tuyên bố khai chiến với Trung Quốc sẽ là cuộc chiến lớn giữa 2 người khổng lồ dẫn đầu toàn khối và bất luận kết quả cuộc chiến đó như thế nào, cũng ảnh hưởng dẫn đến sự phân hoá sâu sắc toàn bộ khối Cộng Sản trên toàn thế giới.
  • Lý do thứ 3 và cũng đầy ẩn ý nhất như chính nhật báo Pravda của Liên Xô đã bình luận: “Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã không đáp lại những khiêu khích quân sự của Trung Quốc với mục đích duy nhất là làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ”. Nên nhớ, đây đang là giai đoạn cao trào của chiến tranh lạnh & các cuộc chạy đua vũ trang.

Nếu cuộc chiến chỉ gói gọn trong phạm vi “tranh chấp biên giới”, miễn là quân đội Việt Nam còn đứng vững, thì Liên Xô sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh trên mặt trận tuyên truyền. Đó là điều chắc chắn. Chỉ khi nào Bắc Kinh quyết định muốn tiến xa hơn nữa, bắt đầu đặt Hà Nội và những thành phố lớn của Việt Nam như Hải Phòng vào tầm ngắm, hoặc quyết định vẫn giữ sự hiện diện của quân đội nước này trong lãnh thổ Việt Nam, thì khi ấy, Liên Xô chắc chắn sẽ không muốn biểu thị sự yếu đuối và do dự, sẽ can dự vào cuộc xung đột.

VAI TRÒ & ĐÓNG GÓP CỦA LIÊN XÔ.

Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt - Trung 1979?
Liên Xô đóng vai trò gì trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979?

Bên cạnh những đóng góp to lớn của người Nga trong việc cung cấp vũ khí, trang thiết bị, không vận, tình báo, thông tin… cho Việt Nam:

“Trong không đầy một tháng, Liên Xô đã tiến hành cơ động 20.000 quân của Việt Nam, hơn 1.000 đơn vị trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh từ Campuchia trở về miền Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột đến tháng 3/1979, theo đường vận tải biển, Liên Xô đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích…”

Những hành động khác mang tính quyết định hơn đã được Movska đưa ra khi tình hình leo thang:

  • Việc Liên Xô tăng cường hành động quân sự trên suốt chiều dài 4.500 km biên giới với Trung Quốc đã đặt Bắc Kinh vào tình thế báo động đỏ. Dọc theo tuyến này hiện đang triển khai 44 sư đoàn Liên Xô. Quân đội Liên Xô có thể xuất hiện trên các đồng bằng phủ tuyết Tân Cương, nhưng nhiều khả năng là Mãn Châu – trung tâm của ngành công nghiệp nặng Trung Quốc – bị đặt vào tầm ngắm. Các chuyên gia quân sự thế giới gọi các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở Lobnor như là một mục tiêu của “ngày phán xét” (mục tiêu này được ưu tiên hơn trong con mắt của giới quân sự Liên Xô).
  • Ngay chính Bộ tư lệnh tối cao của Quân giải phóng TQ (PLA) cũng không tin vào khả năng các quân khu vùng sát biên giới Xô-Trung của Trung Quốc có thể giữ được quá 24 giờ khi xảy ra cuộc xâm lược của Liên Xô với ba chiều với máy bay, xe tăng và bộ binh. Cựu chiến binh Trung Quốc Michzhou nhớ lại:

“Để giúp Việt Nam, quân đội Xô Viết đã bắt đầu tập trung dọc theo biên giới Mãn Châu, đe dọa xâm lược, nếu Trung Quốc không ngay lập tức rút khỏi Việt Nam. Khi đó đang là năm thứ hai trong cuộc đời quân ngũ của tôi tại trung đoàn 5 – Quân khu Thẩm Dương. Chúng tôi đóng quân ở rặng núi Khingan Lớn và đã quyết định rút hầu hết các đơn vị của mình về sau dãy núi để tránh dễ dàng bị tổn thất. Chúng tôi được thông báo rằng đối diện với chúng tôi là 25 sư đoàn bộ binh cơ giới của Liên Xô, quân số khoảng 250 ngàn người có không quân yểm trợ, và chúng tôi được yêu cầu cầm cự được trước cuộc xâm lược của họ ít nhất 24 giờ trước khi quân tiếp viện của Tập đoàn quân dã chiến 23 từ mỏ khí đốt Đại Khánh tới. Chúng tôi có tổng cộng 12 nghìn người và thậm chí còn cả một mạng lưới các đường hầm dưới đất và các công sự, được xây dựng trong 20 năm qua. Nếu không thể giữ được, chúng tôi phải chuyển sang chiến tranh du kích”.

  • Sự kiện xung đột biên giới Việt-Trung cũng đã thu hút lực lượng hải quân Mỹ. Đó là cụm lực lượng công kích chủ lực – tàu sân bay (AUG) do chiếc mẫu hạm Constellation (CV-64) là kỳ hạm, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ngoài khơi bờ biển Đông Nam Á từ tháng 12/1978. Ngày 25/2 Cụm AUG đã neo đậu ngoài khơi bờ biển của Việt Nam trên Biển Đông, với mục đích như tuyên bố của người Mỹ – theo dõi và kiểm soát tình hình.

Để ngăn chặn các chiến hạm Mỹ tiếp cận khu vực tác chiến quy mô lớn hơn cùng những hành động có thể đi kèm, các tàu ngầm của hạm đội Thái Bình Dương Xô viết đã lập một phòng tuyến ngăn chặn. Một số các tàu ngầm cơ động ở độ sâu tác chiến, một số tàu đã nổi hẳn lên mặt nước, trong tầm quan sát của hải quân Mỹ. Không đạt được mục đích đề ra, cụm AUG đành cơ động hành quân về hướng Vịnh Aden.

//

Cuộc chiến này cũng phơi bày cho chúng ta nhiều điều về mối quan hệ ngoại giao phức tạp Liên Xô – Trung Quốc – Việt Nam. Đây là một mối quan hệ tay 3 tưởng chừng đơn giản bởi cùng chung hệ tư tưởng, nhưng kỳ thực lại rất phức tạp. Kết quả cuộc chiến 1979 cho thấy Trung Quốc không thể tung toàn bộ lực lượng vào nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” vì chịu sức ép lớn từ phía Liên Xô. Nhưng Liên Xô cũng không sẵn sàng tung quân đội vào tham chiến bảo vệ đồng minh mà chỉ tập trung viện trợ kinh tế, quân sự. Điều này chính là một đòn đau đánh lòng tin và uy tín mà Liên Xô đang gầy dựng. Đó là một sự thất bại về uy tín.

Tuy nhiên, cũng qua cuộc chiến này, chúng ta cần ghi nhớ 1 điều: không thể chờ đợi, nhờ vả ai khi bản thân phải đối mặt với khó khăn. Bởi lẽ tất cả những mối quan hệ tốt đẹp bề mặt đều bị đặt dưới lợi ích quốc gia và những chiêu bài chính trị. Điều chúng ta cần làm chính là phát huy nội lực dân tộc. Càng tự lực, tự cường bao nhiêu, ta càng có uy thế cũng như tiếng nói để tự mình quyết định vận mệnh của chính dân tộc mình.

.

Bức ảnh dưới đây là 1 bức ảnh tôi cực kỳ khổ sở để kiếm được. Đó là chân dung Đại tướng Gennady Ivanovich Obaturov với chất lượng tốt.

Đôi nét về Đại tướng Obaturov: Ghenady Obaturov sinh ngày 9/1/1915 tại làng Maloe Zarecheno, nay thuộc tỉnh Kirov. Ông đã từng tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, được tặng thưởng 7 huân chương Chiến công. Ông mất năm 1996 tại thủ đô Moskva.

Gennady Ivanovich Obaturov

Ông là một vị tướng được đào tạo bài bản, rất giỏi và đã kinh qua trận mạc. Obaturov thường được gọi là “từ điển bách khoa sống” trong Hồng quân bởi ông nắm rõ đến tận chân tơ kẽ tóc các chiến thuật của nghệ thuật quân sự, các binh quân chủng, các loại vũ khí và cách sử dụng chúng trong chiến tranh hiện đại (ông từng tự mình lái tăng & sử dụng thuần thục nhiều loại vũ khí khác nhau). Bên cạnh đó, khả năng phân tích và đánh giá tình hình, cục diện của ông cũng ở mức thượng thừa. Ông thích làm việc theo 1 phương thức riêng của mình và rất khắc khe trong công việc.

Khi nhận được lệnh sang Việt Nam, Obaturov đã yêu cầu Tổng tham mưu trưởng, Nguyên soái Liên Xô N. Ogarkov cho ông được biết các loại vũ khí của Liên Xô hiện đang được trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, có lẽ ít ai ngờ, Đại tướng Obaturov không những là một vị tướng tài ba, mà ông còn là một thi sĩ. Trong những ngày ở Việt Nam, ông đã sáng tác nhiều bài thơ, trong đó có bài gửi cho một người bạn chiến đấu cũ, kết thúc bởi những dòng:

Và bạn hỡi, rồi chúng ta
Những chiến binh sẽ giã từ cuộc sống
Nhưng tôi tin, trên tấm bia Tổ quốc
Sẽ đôi khi ghi nhớ chúng ta
Và tôi sống, vững vàng bởi thế.

Tác giả © son.le
Saigon / 2016. Từ The X-file of

© Cảm ơn www.vnmilitaryhistory.net đã cho tôi nhiều thông tin thú vị.

.


Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VIỆT SỬ MEDIA.