Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai

Nội Chiến Dân Tộc

“Loạn 12 sứ quân” là tên gọi về một giai đoạn lịch sử vô cùng đặc biệt của nước, một thời gian ngắn nước Việt rơi vào trạng thái vô chính phủ, ly khai, cát cứ khắp nơi. Chỉ tồn tại trong 4 năm (965 – 968), nhưng gốc rễ của thời kỳ loạn lạc này đã hình thành từ rất lâu trước đó, khi nhà nước Việt non trẻ mới ly khai khỏi Trung Hoa không đủ sức gạt bỏ các tập đoàn quân phiệt cát cứ để tập trung quyền lực vào tay chính quyền. Những mầm mống ly khai hình thành “Loạn 12 sứ quân” sẽ được phân tích trong bài viết này, qua đó có thể thấy được sự phức tạp trong xã hội Việt đương thời và đóng góp quan trọng của “Vạn thắng vương” Đinh Bộ Lĩnh cho lịch sử Việt Nam sau này.

1.QUYỀN LỰC TRUNG ƯƠNG SUY YẾU·

DƯƠNG TAM KHA

Dương Tam Kha là con trai của Dương Đình Nghệ và là em rể của Ngô Quyền. Có thể thấy xuất thân của Dương Tam Kha thuộc dòng dõi lãnh đạo cao nhất của nước Việt thuở ban đầu. Sau khi Ngô Vương mất năm 944, Dương Tam Kha đã tiếm quyền khiến con trai cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập phải bỏ trốn sang căn cứ của Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm) ở Hải Dương. Dương Tam Kha lên ngôi, xưng là Dương Bình Vương.

Năm 950, em của Xương Ngập là Xương Văn theo lệnh của Dương Bình Vương đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn. Tuy nhiên, Xương Văn cùng hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đã quay lại Cổ Loa lật đổ Dương Tam Kha. Tuy vậy, Tam Kha không bị giết. Trong thời “Loạn 12 sứ quân” Tam Kha trung lập không ủng hộ bất cứ phe nào.

Tuy Dương Tam Kha không tham gia “Loạn 12 sứ quân”, nhưng ông lại đóng vai trò quan trọng cho sự hình thành các thế lực này. Bởi Tam Kha đã làm suy yếu thế lực họ Ngô đang kiểm soát nước Việt, khiến các phe cánh ly khai có cơ hội tích lũy lực lượng và nổi dậy.·

NGÔ XƯƠNG NGẬP

Ngô Xương Ngập là con trưởng của Ngô Quyền, được lựa chọn trở thành người kế vị. Tuy nhiên Dương Tam Kha tiếm quyền khiến Xương Ngập phải chạy trốn về căn cứ của Phạm Lệnh Công. Tại đây, Xương Ngập đã kết hôn với con gái của Phạm Bạch Hổ (Phạm Phòng Át), sinh ra con trai là Ngô Xương Xí. Sau khi lật đổ Tam Kha vào năm 950, Xương Văn đã đón anh mình về cùng làm vua. Xương Ngập tự xưng là Thiên Sách Vương, cùng em trai tấn công Đinh Bộ Lĩnh trong năm 951 nhưng thất bại.

Bản thân Xương Ngập thường xuyên lấn quyền em trai, khiến nội bộ họ Ngô lục đục. Năm 954, Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập qua đời, quyền lực đất nước rơi vào tay của Xương Văn.Có thể thấy nếu như Dương Tam Kha mở đầu cho sự suy yếu của thế lực họ Ngô, thì Xương Ngập không những không thể khôi phục mà còn khiến tình trạng đó trầm trọng hơn nữa khi lấn quyền em trai Ngô Xương Văn. Sự thất bại của hai anh em Xương Ngập – Xương Văn trước Đinh Bộ Lĩnh báo trước một tương lai không mấy thuận lợi cho dòng họ Ngô.·

NGÔ XƯƠNG VĂN

Ngô Xương Văn là con trai thứ hai của Ngô Quyền. Sau khi Dương Tam Kha tiếm ngôi, Xương Văn được Tam Kha nhận làm con nuôi. Năm 950, Dương Bình Vương cử Xương Văn cùng các tướng Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn, nhưng Xương Văn đã quay lại Cổ Loa lật đổ Tam Kha. Sau đó Xương Văn đón anh trai Xương Ngập về cùng làm vua. Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương, cùng anh trai là Thiên Sách Vương Xương Ngập tạo nên cục diện hai vua (sử gọi là “Hậu Ngô Vương”).

Năm 951, hai anh em “Hậu Ngô Vương” đã thất bại trong việc đánh bại Đinh Bộ Lĩnh tại Ninh Bình. Xương Văn bị Xương Ngập lấn quyền, phải tới khi Xương Ngập qua đời năm 954 mới chính thức nắm mọi quyền lực trong triều.

Ngô Xương Văn có nhiều nỗ lực trong việc ổn định đất nước, đánh dẹp các thế lực cát cứ phản loạn. Xương Văn hạ được Chu Thái ở sông Thao. Năm 965, Xương Văn xuất quân đánh hai thôn Đường, Nguyễn, nhưng bị mai phục và qua đời.

Ngô Xương Văn đã có nhiều nỗ lực để duy trì sự tập quyền của họ Ngô nhưng bất thành. Sau khi Xương Văn mất, không còn ai đủ năng lực để cai quản đất nước nữa. Sự ra đi của Xương Văn đã dẫn tới thời kỳ “Loạn 12 sứ quân” và ngọn cờ nước Việt được trao về tay người có năng lực nhất chính là Đinh Bộ Lĩnh, thế lực ly khai đã từng đánh bại cả hai anh em nhà họ Ngô.

Loạn 12 sứ quân: mầm mống cát cứ thời nhà Ngô và chiến công của Đinh Tiên Hoàng
Loạn 12 sứ quân: mầm mống cát cứ thời nhà Ngô và chiến công của Đinh Tiên Hoàng

2.CÁC THẾ LỰC CÁT CỨ·

NGÔ XƯƠNG XÍ

Ngô Xương Xí là con trai của Ngô Xương Ngập và là cháu ngoại của Phạm Bạch Hổ, được sinh ra khi Xương Ngập chạy trốn khỏi sự truy kích của Dương Tam Kha. Xương Xí được Xương Văn nhận làm con nuôi và đáng lẽ ra sẽ trở thành người kế vị. Tuy nhiên Xương Xí lúc này còn quá trẻ, trong khi thế lực họ Ngô đã suy yếu.

Ngay khi Xương Văn qua đời, tại Cổ Loa diễn ra cuộc biến loạn, các tướng nhà Ngô là Lã Xử Bình, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc, Dương Huy tranh giành quyền lực. Xương Xí phải bỏ Cổ Loa chạy về Bình Kiều (Ái Châu, tức Thanh Hóa) xây dựng lực lượng và trở thành 1 trong 12 sứ quân.Tại sao Ngô Xương Xí chạy về Thanh Hóa?

Dương Đình Nghệ đã từng cai quản Ái Châu trước khi ra bắc đánh bại Lý Tiến của nhà Nam Hán, sau đó ông để con rể mình là Ngô Quyền tiếp nối vị trí ở Ái Châu. Sau khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn làm hại, Ngô Quyền đã dẫn quân từ Thanh Hóa ra bắc, tiêu diệt Kiều Công Tiễn và đánh bại quân Nam Hán. Có thể thấy Ái Châu chính là cơ sở quyền lực của dòng họ Ngô.

Mặc dù vậy, Ngô Xương Xí không thể tham gia vào các cuộc tranh giành lãnh thổ với các sứ quân phía bắc, bởi lẽ lãnh địa của Xương Xí bị ngăn cách bởi Đinh Bộ Lĩnh, lực lượng cát cứ mạnh nhất. Cuối cùng, Ngô Xương Xí buộc phải đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh. Xương Xí không bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt, một phần nhờ vị thế của ông nội Ngô Quyền, cũng vì nhiều người xung quanh Đinh Bộ Lĩnh như Phạm Bạch Hổ (ông ngoại của Xương Xí), hoàng hậu Dương Vân Nga hay phò mã Ngô Nhật Khánh đều có quan hệ thân thích với Ngô Xương Xí.

Ngô Xương Xí chính là thế lực cuối cùng của dòng họ Ngô. Sự thất bại của Xương Xí tại Cổ Loa, việc phải chạy về Thanh Hóa xa xôi và sau đó đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của Ngô gia, vốn được xây dựng bởi Ngô Quyền. May mắn cho Xương Xí khi ông đã không bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt.·

NGÔ NHẬT KHÁNH

Ngô Nhật Khánh là người họ hàng với Ngô Quyền, sau nổi lên trở thành sứ quân ở Đường Lâm, quê hương của dòng họ Ngô. Có nhiều giả thiết liên quan tới Ngô Nhật Khánh, một số cho rằng ông là con của Ngô Xương Văn, số khác lại cho rằng ông chỉ là cháu họ của Ngô Quyền. Dù giả thiết nào cũng không hề phủ nhận sự liên hệ họ hàng giữa ông với nhà họ Ngô.

Dù là một thế lực tại quê hương Đường Lâm, nhưng lòng trung thành của Ngô Nhật Khánh với chế độ họ Ngô vẫn là một dấu hỏi. Chính sử ít nhất ghi nhận hai lần triều đình họ Ngô đánh lên hai thôn Đường, Nguyễn.

Lần thứ nhất là năm 950, khi Xương Văn theo lệnh của Dương Tam Kha đánh vùng này, nhưng Xương Văn đã quay lại Cổ Loa để giành ngôi báu.

Lần thứ hai là năm 965, khi Xương Văn bị mai phục trên đường đánh hai thôn Đường, Nguyễn. Có thể thấy khu vực Đường, Nguyễn đã duy trì sự chống đối với dòng họ Ngô tối thiểu suốt 15 năm (950 – 965).

Dù có nhiều giả thiết khác nhau, nhưng tất cả đều nhất trí thôn Đường chính là Đường Lâm, lãnh địa của Ngô Nhật Khánh. Sự biến mất của thể lực thôn Đường, Nguyễn và sự vươn lên của Ngô Nhật Khánh dẫn tới giả thiết, rất có thể quân của hai thôn này chính là nguồn gốc của sứ quân Ngô Nhật Khánh, đồng nghĩa với việc Ngô Nhật Khánh đã thể hiện sự chống đối từ rất lâu rồi.

Cũng như Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh đã đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh, chấm dứt vị thế lãnh đạo của dòng họ Ngô trên lãnh thổ nước Việt. Sau đó Ngô Nhật Khánh trở thành phò mã của vua Đinh và là một thế lực trong triều. Tuy nhiên, sau những biến loạn cung đình, Ngô Nhật Khánh đã chạy sang Chămpa, kích động vua Chăm là Bê Mi Thuế đem binh xâm lược nước Việt, kết cục bị bão đánh chìm.

Đây là một điều đáng tiếc cho dòng họ Ngô, khi năm xưa Ngô Quyền diệt kẻ phản quốc Kiều Công Tiễn thì giờ đây một họ hàng khác lại tái lập hành vi “cõng rắn cắn gà nhà”.·

Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai
Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai

LÃ XỬ BÌNH

Lã Xử Bình là tướng dưới thời Ngô Quyền, từng có công lao tới mức được ban tặng họ Ngô (còn được gọi là Ngô Xử Bình hay Ngô Bình). Sau khi Xương Văn qua đời, với chức Tham mưu, Xử Bình đã tranh giành ngôi báu với các thể lực khác là Thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn, Thứ sử châu Vũ Ninh Dương Huy và Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc. Lã Xử Bình thắng lợi và chiếm được thành Cổ Loa vào năm 966, khiến Ngô Xương Xí phải chạy về Thanh Hóa và các tướng khác phải chạy về lãnh địa của mình.

Tuy nhiên Lã Xử Bình không thể trở thành một sứ quân, bởi không lâu sau đó Đinh Bộ Lĩnh đã đem quân đánh Cổ Loa và đánh bại Xử Bình.

Tuy không phải là một sứ quân, nhưng Lã Xử Bình lại đóng vai trò vô cùng quan trọng khi ông chính là người lật đổ dòng họ Ngô tại Cổ Loa mở đầu cho thời kì “Loạn 12 sứ quân”.·

ĐỖ CẢNH THẠC

Đỗ Cảnh Thạc là con trai một người gốc Giang Tô di cư sang Việt Nam. Ông sinh ra tại Đỗ Động Giang, nay là Thanh Oai, Hà Nội. Có thể thấy gia tộc họ Đỗ là một thế lực lớn, tới mức người dân lấy luôn dòng họ để đặt cho vùng đất của mình.

Đỗ Cảnh Thạc đã tham gia trong đoàn quân của Ngô Quyền từ sớm. Thời Dương Bình Vương, Đỗ Cảnh Thạc cùng Dương Cát Lợi nhiều lần dẫn quân truy bắt Ngô Xương Ngập bất thành. Sau đó hai ông phò tá Ngô Xương Văn đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn, rồi cùng Xương Văn quay trở lại Cổ Loa lật đổ Dương Bình Vương.

Sau khi Xương Văn qua đời, Đỗ Cảnh Thạc với chức vụ Nha tướng đã tranh giành quyền bình với Lã Xử Bình và thất bại, phải về căn cứ Đỗ Động Giang, tự xưng là Đỗ Cảnh Công. Sứ quân của Đỗ Cảnh Công được ghi nhận là một trong những đối thủ lớn nhất của Đinh Bộ Lĩnh, khiến ông mất rất nhiều công sức mới dẹp bỏ được. Đỗ Cảnh Thạc bị tiêu diệt, thế lực cát cứ của dòng họ Đỗ gốc Hoa đã bị loại trừ.

Một chi tiết đáng chú ý, sau khi Đinh Bộ Lĩnh đánh bại Đỗ Cảnh Thạc, 500 con em dòng họ Ngô tại Đỗ Động Giang nổi dậy và bị đánh bại, phải đầu hàng. Có nhiều giả thiết liên quan đến lực lượng họ Ngô này, có thể là đội quân do Ngô Nhật Khánh chỉ huy, cũng có thể là tàn dư họ Ngô phải nương nhờ vào Đỗ Cảnh Thạc.·

DƯƠNG HUY

Lai lịch của Dương Huy không rõ ràng. Một số ý kiến cho rằng ông là con của Dương Cát Lợi, vị tướng cấp cao từng vào sinh ra tử với nhà họ Ngô nhiều lần. Một số đồng nhất ông với Lý Huy, thế lực cát cứ đã từng đánh nhau với Ngô Xương Văn. Sau này Dương Huy trở thành Thứ sử châu Vũ Ninh (nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh và Chí Linh, Hải Dương). Dương Huy đã tham gia cạnh tranh ngôi báu sau khi Xương Văn mất, và thua trận trước Lã Xử Bình. Không có nhiều ghi chép về Dương Huy sau đó, trong khi lãnh địa của ông lại trùng với lãnh địa của sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp. Nhiều khả năng Dương Huy đã bị Nguyễn Thủ Tiệp đánh bại, không thể trở thành 1 trong 12 sứ quân.

Có thể thấy Dương Huy cũng là một thế lực ly khai đã được xây dựng từ rất lâu, khi ông từng đánh với Ngô Xương Văn. Ông đã tham gia trong việc lật đổ nhà họ Ngô và thiếu chút nữa trở thành một sứ quân.·

KIỀU CÔNG HÃN

Kiều Công Hãn là cháu nội của Kiều Công Tiễn và là anh trai của sứ quân Kiều Thuận, bản thân ông cũng là sứ quân tại Phong Châu (Phú Thọ). Gia tộc họ Kiều là thế lực lâu đời tại đây. Dưới thời Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn được phong làm Thứ sử Phong Châu. Khi Kiều Công Tiễn làm phản, trong khi Kiều Thuận theo phe ông nội thì Kiều Công Hãn và cha là Kiều Công Chuẩn lại phản đối và đứng về phía Ngô Quyền. Nhờ thế nên ông được giữ vị trí Thứ sử Phong Châu dưới thời nhà Ngô.

Sau khi Xương Văn qua đời, Kiều Công Hãn đã tham gia tranh chấp quyền lực tại Cổ Loa và thất bại trước Lã Xử Bình. Sau đó ông trở về căn cứ Phong Châu, tự xưng là Kiều Tam Chế, trở thành 1 trong 12 sứ quân. Là một thế lực lâu đời tại Phú Thọ, Kiều Công Hãn cuối cùng cũng bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại. Sự thất thủ của anh em Kiều Công Hãn – Kiều Thuận đã chấm dứt quyền lực của gia tộc họ Kiều tại khu vực Vĩnh Phúc – Phú Thọ ngày nay.

Xem thêm về Kiều Công Hãn : Danh tướng Kiều Công Hãn, người hiến kế bày trận trên sông Bạch Đằng

KIỀU THUẬN

Kiều Thuận là sứ quân tại Hồi Hồ (nay là Cẩm Khê, Phú Thọ). Ông đã theo phe ông nội Kiều Công Tiễn lật đổ Dương Đình Nghệ, trong khi cha Kiều Công Chuẩn và anh trai Kiều Công Hãn lại ủng hộ Ngô Quyền. Mặc dù sau đó Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền tiêu diệt, nhưng chẳng những không bị trừng trị, Kiều Thuận còn có thể xây dựng căn cứ tại Hồi Hồ suốt gần 30 năm.

Kiều Thuận duy trì sự tự trị trên lãnh địa của mình bất chấp mọi biến loạn của dòng họ Ngô. Chỉ tới khi Đinh Bộ Lĩnh đem quân tới mới tiêu diệt được Kiều Thuận, chấm dứt quyền lực của dòng họ Kiều tại đây.·

BA ANH EM NGUYỄN KHOAN, NGUYỄN THỦ TIỆP, NGUYỄN SIÊU

Ba anh em họ Nguyễn là cháu nội của Nguyễn Hãng, một người gốc Phúc Kiến di cư xuống Việt Nam. Nguyễn Khoan sinh năm 906, Nguyễn Thủ Tiệp sinh năm 908 và Nguyễn Siêu sinh năm 924. Gia tộc họ Nguyễn giàu có và là một thế lực lớn.

Sau khi cha Nguyễn Nê qua đời, ba anh em tách ra thành ba thế lực độc lập. Nguyễn Khoan tại Tam Đái (Yên Lạc, Vĩnh Phúc), Nguyễn Thủ Tiệp tại Tiên Du (Bắc Ninh), Nguyễn Siêu tại Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội).

Nguyễn Khoan trở thành hào trưởng ở Tam Đái từ rất sớm. Thế lực của Nguyễn Khoan lớn tới mức khu vực đó được gọi là Nguyễn Gia Loan, tức sông Loan của dòng họ Nguyễn. Nhiều giả thiết cho rằng thôn Nguyễn mà dòng họ Ngô phải mất công hai lần đánh dẹp không thành (950, 965) chính là Nguyễn Gia Loan của Nguyễn Khoan. Với vị thế lớn như vậy, sau khi họ Ngô bị lật đổ, Nguyễn Khoan tự xưng là Quảng Trí Quân, trở thành một trong 12 sứ quân.

Nguyễn Thủ Tiệp xây dựng căn cứ tại Tiên Du, Bắc Ninh, tự xưng là Nguyễn Lệnh Công. Sau khi Dương Huy thất bại trong việc tranh giành Cổ Loa, Nguyễn Thủ Tiệp đã chiếm được căn cứ Vũ Ninh của Dương Huy và tự xưng là Vũ Ninh Vương, trở thành 1 trong 12 sứ quân.

Nguyễn Siêu xây dựng căn cứ ở Tây Phù Liệt, tự xưng là Nguyễn Hữu Công, chính thức trở thành 1 trong 12 sứ quân.

Ba anh em họ Nguyễn nắm giữ ba lãnh địa quá xa nhau, thiếu sự liên kết và tương trợ. Sau này Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, cả ba thế lực đều bị đánh bại. Chiến thắng của Đinh Bộ Lĩnh đã chấm dứt sự tồn tại của gia tộc họ Nguyễn hùng mạnh, được xây dựng từ khi ông nội của họ di cư sang Việt Nam.

Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai
Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai

PHẠM BẠCH HỔ

Phạm Bạch Hổ là con của Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm). Gia tộc họ Phạm có thế lực ở Nam Sách, Hải Dương, trung thành với Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Phạm gia đã bao bọc cho Ngô Xương Ngập khỏi sự truy đuổi của Dương Tam Kha, và con của Phạm Bạch Hổ đã kết hôn với Ngô Xương Ngập, sinh ra Ngô Xương Xí, người thiếu chút nữa trở thành vua.

Sau khi họ Ngô bị lật đổ, Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên), tự xưng là Phạm Phòng Át, nổi dậy trở thành 1 trong 12 sứ quân. Khác với các tướng nhà Ngô cũ như Kiều Công Hãn hay Đỗ Cảnh Thạc, Phạm Bạch Hổ đã sáng suốt khi đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh, nhân vật xuất sắc nhất trong thời kì này, qua đó tránh được cảnh binh đao và giữ được dòng tộc của mình an toàn. Các cháu ông là Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng trở thành các quan hàng đầu trong triều đại Đinh – Lê.·

TRẦN LÃM

Trần Lãm là con trai của một người gốc Quảng Đông, di cư sang Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, trở thành thế lực giàu có tại khu vực ngày nay là Thái Bình, Nam Định.

Đinh Bộ Lĩnh và Trần Lãm có mối liên hệ đồng minh thân thiết. Nhiều giả thiết cho rằng Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm nhận làm con nuôi, hoặc được Trần Lãm gả con gái.

Về quyền lực, Đinh Bộ Lĩnh có thể coi là phó của Trần Lãm. Sau khi Trần Minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh mới chính thức trở thành thủ lĩnh. Trần Lãm thuộc nhóm sứ quân nổi dậy sớm nhất, có lẽ trước cả khi Xương Văn giành lại quyền lực, vì năm 951 khi hai anh em Xương Ngập, Xương Văn không thể hạ Đinh Bộ Lĩnh thì Trẫn Lãm đã nổi dậy và trở thành thế lực lớn. Cũng như Phạm gia, Trần gia được duy trì trong nhóm quan lại của triều Đinh.

Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai
Loạn 12 sứ quân: từ mầm mống cát cứ đến các thế lực quân phiệt ly khai

ĐINH BỘ LĨNH

Cuối cùng, không thể không nhắc tới thế lực mạnh nhất trong nhóm cát cứ, đó chính là Đinh Bộ Lĩnh, người đã thống nhất nước Việt trong cơn loạn lạc và trở thành hoàng đế đầu tiên của nước Việt thời hậu Bắc thuộc.

Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Công Trứ, quê gốc tại Hoa Lư, Ninh Bình. Đinh Công Trứ được Dương Đình Nghệ giao giữ chức Thứ sử Hoan Châu (Hà Tĩnh) và tiếp tục duy trì vị trí này dưới thời Ngô Quyền. Năm 940, Đinh Công Trứ qua đời, Đinh Bộ Lĩnh thay thế cha làm Thứ sử Hoan Châu.

Đinh Bộ Lĩnh sớm thể hiện chống đối quyền lực của nhà họ Ngô. Sau khi lật đổ Dương Tam Kha, hai anh em Xương Ngập – Xương Văn tấn công Đinh Bộ Lĩnh nhưng thất bại. Sau đó Đinh Bộ Lĩnh liên kết với Trần Lãm, hai thế lực Đinh – Trần áng ngữ vùng lãnh thổ rộng lớn từ Thái Bình tới Ninh Bình.

Cuộc biến loạn tại Cổ Loa năm 965 đã khiến Ngô Xương Xí phải bỏ chạy về Thanh Hóa, Cổ Loa rơi vào tay của Lã Xử Bình, tạo điều kiện cho các thế lực cát cứ nổi dậy. Đinh Bộ Lĩnh đã dẫn quân tiến lên Cổ Loa đánh bại Lã Xử Bình, điều mà cả Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc, Dương Huy đều không thể làm được. Với các sứ quân khác, một mặt ông tiến hành chiêu hàng (Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh, Phạm Bạch Hổ), mặt khác ông cử các tướng hoặc đích thân cầm quân tiêu diệt.

Sau khi Trần Lãm qua đời, Đinh Bộ Lĩnh chính thức trở thành thủ lĩnh. Tới năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt sứ quân cuối cùng, thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đóng đô tại Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, trở thành Hoàng đế đầu tiên của nước Việt sau thời Bắc thuộc.

3. KẾT LUẬN

Từ những nội dung trên, có thể thấy được nguồn gốc dẫn tới sự hình thành “Loạn 12 sứ quân”, đó là sự suy yếu của thế lực cầm quyền họ Ngô, khiến cho các mầm mống cát cứ có cơ hội nổi dậy. Các thế lực này có nguồn gốc đa dạng, từ quan lại, tướng lĩnh nhà Ngô, cho tới các gia tộc hoặc thổ hào tại địa phương, từ người Việt bản địa cho tới người Hoa di cư.

Dưới thời Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ hay Ngô Quyền, họ hoặc không dám nổi dậy, hoặc nổi dậy nhưng nhanh chóng bị dập tắt (Kiều Công Tiễn). Nhưng khi Ngô Quyền qua đời, những nhân vật cai quản đất nước như Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn không đủ khả năng cai quản, dẫn tới loạn lạc xảy ra ở khắp nơi (Đinh Bộ Lĩnh, Lý Huy, Chu Thái, loạn hai thôn Đường, Nguyễn). Và cuộc biến loạn tại Cổ Loa khiến Ngô Xương Xí phải bỏ chạy về Bình Kiều chính là giọt nước tràn ly, giúp các thế lực cát cứ tự tin nổi dậy.

Đinh Bộ Lĩnh được biết đến là ngôi sao sáng trong sự nghiệp thống nhất đất nước trước “Loạn 12 sứ quân”. Nhưng khi truy ra nguồn gốc, bản thân Đinh Bộ Lĩnh cũng là một thế lực cát cứ, thậm chí từ rất sớm đã tỏ rõ thái độ không trung thành với họ Ngô khi đánh bại hai anh em “Hậu Ngô Vương”.

Tuy nhiên, điều này không hề làm giảm chiến công vĩ đại của “Vạn Thắng Vương” Đinh Bộ Lĩnh. Bởi lẽ chỉ 3 năm sau khi nước Việt thống nhất, nhà Tống đã tiêu diệt Nam Hán và đưa biên giới tới sát nước Việt. Một “Tĩnh Hải Quân” (tên nước ta khi còn là tỉnh của nhà Đường) đang tàn đàn xẻ nghé sẽ trở thành miếng mồi ngon cho quân Tống hùng mạnh. Sự thống nhất kịp thời của Đinh Bộ Lĩnh đã đem tới cho nước Việt 10 năm chuẩn bị vô cùng quan trọng tạo tiền đề để năm 981, Lê Hoàn đánh bại quân Tống, chiến thắng đầu tiên của nước ta trước một Trung Hoa thống nhất.

Không dừng lại ở đó, chiến công của Đinh Bộ Lĩnh còn có một vai trò quan trọng, đó là dẹp đi vĩnh viễn mọi mầm mống ly khai tồn tại trong lòng xã hội Việt. Đinh Bộ Lĩnh chính là người đặt nền móng cho sự thống nhất tuyệt đối của Việt tộc, tiền đề cho một nước Việt độc lập và phát triển sau này. Phải tới hàng trăm năm sau, xu thế ly khai mới dần trở lại trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhưng đó cũng chỉ là giải pháp tình thế khi hai thế lực này không đủ sức tiêu diệt đối thủ. Thống nhất vẫn là phạm trù cơ bản trong tâm thức người Việt suốt hàng ngàn năm, cho tới tận ngày nay, và người đầu tiên đảm bảo sự thống nhất đó chính là Đinh Bộ Lĩnh, tức Đinh Tiên Hoàng, Hoàng đế đầu tiên của nước Việt sau thời Bắc thuộc.

Xem thêm về Đinh Tiên Hoàng :  Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân : Từ Sử liệu đến sự thật Lịch Sử

Tác giả Đàm Quang Trường.