Loạn kiêu binh – nạn chuyên quyền có một không hai trong sử Việt

Nội Chiến Dân Tộc

Người đời có câu nói “kiêu binh tất loạn” với ý nghĩa nói về những người ở cấp dưới vốn phải phục tùng cấp trên nhưng lại ỷ mình có công lao to lớn mà sinh thói kiêu căng, ngạo mạn, làm càn. Người lãnh đạo ở trên lại không có khả năng quản trị và tài năng dụng mưu dụng nhân để trấn áp thuộc cấp thì cuối cùng sẽ dẫn đến loạn, bất phục tùng, vượt quyền trong một mối quan hệ quản lý ràng buộc nào đó. Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ XVII, nước ta đã từng xảy ra nạn “kiêu binh” như thế làm một vương triều phải suy vong. Loạn kiêu binh có mầm mống được hình thành từ cuộc chiến Nam – Bắc triều và từ trong “trò hề lịch sử” vua Lê – chúa Trịnh. Đó là một giai đoạn mà vua không ra vua, chúa không ra chúa. Mãi đến năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân Bắc phạt, nạn kiêu binh mới chấm dứt và đồng thời sự nghiệp chúa Trịnh cũng sụp đổ.

Hậu Lê là một triều đại được mở đầu bằng chiến công đánh đuổi ngoại xâm rất hào hùng vinh hiển, tuy nhiên, ở cuối giai đoạn của vương triều này cũng chứng kiến sự suy tàn với thời gian loạn lạc có một không hai trong lịch sử nước ta. Sự suy tàn ấy biểu hiện ở lý tưởng vì dân, vì nước từ vua chúa đến các quan lớn nhỏ hầu hết đã nhạt nhòa, tư tưởng vị kỷ lên ngôi, trên dưới không đồng lòng nhất trí, phe vua phe chúa, rồi nội bộ phe chúa chia rẽ, đối đầu với nhau dẫn tới kỷ cương bị buông lỏng. Đây cũng là triều đại chứng kiến những “trò hề” từ việc lớn như phế vua lập chúa đến việc nhỏ như thưởng phạt, xử kiện của triều đình trong một thời gian đều do quyền thần hoặc binh lính kiểm soát.

Mầm mống của sự nổi loạn – từ ưu binh đến nạn kiêu binh

Trong giai đoạn từ năm 1527 đến năm 1802 chứng kiến những cuộc nội chiến phân chia đất nước khốc liệt giữa các lực lượng vua Lê – nhà Mạc – chúa Trịnh – chúa Nguyễn, rồi sau đó là sự nổi lên của vương triều Tây Sơn diệt Nguyễn dẹp Trịnh rồi lại phá tan ngoại xâm. Suốt tời gian gần 300 năm dài đằng đẵng đấy, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, nhân dân lầm than và chiến trận như một lẽ tất yếu quyết định vinh nhục, sống chết cho một đời người trong thời kỳ này. Mặc dù năm 1672, cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh quyết định lấy sông Gianh làm giới tuyến cho đến năm 1771, nhưng đây cũng chính là thời gian xảy ra nạn “kiêu binh” tại Đàng Ngoài, còn ở Đàng Trong thì bắt đầu đi vào khủng hoảng.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lấy ngôi nhà Hậu Lê, lập ra nhà Mạc đã làm cho long dân có nhiều bất mãn, phần lớn các cựu thần nhà Hậu Lê đã không phục tùng họ Mạc. Ngọn cờ “Phù Lê” được dựng lên khắp nơi để tôn thờ chính thất, xem nhà Mạc chỉ là “Ngụy quyền”.

Năm 1533, danh tướng Nguyễn Kim giương cao ngọn cờ phù Lê diệt Mạc, chiêu mộ hào kiệt, lập Lê Duy Ninh lên ngôi vua, tiến quân từ Ai Lao về chiếm vùng Thanh Hóa, đương cự với nhà Mạc đang ở Thăng Long. Lúc này, để có quân lính chiến đấu, nhà Lê đã cho tuyển binh ở ba phủ Hà Trung, Thiệu Hóa và Tĩnh Gia – nay là vùng Thanh Hóa, Nghệ An để làm quân túc vệ, gọi đội quân này là lính Tam Phủ hay tên khác là Ưu Binh. Đây là lực lượng chiến đấu đầu tiên để giúp vua Lê với sự phò tá của Nguyễn Kim (sau là Trịnh Kiểm) đánh nhà Mạc, nên được chúa Trịnh sủng ái, ban thưởng nhiều vàng bạc, quyền lợi. Ngoài đội “ưu binh” này, còn một lực lượng quân sĩ được tuyển mộ ở miền Bắc, gồm 4 trấn từng nằm dưới sự cai trị lâu dài của Bắc triều và được gọi là “nhất binh”.

Vùng Thanh – Nghệ vốn là cái gốc dấy nghiệp của nhà Hậu Lê, nay tinh binh tuyển chọn tại đây lại trải qua hơn 38 trận chiến lớn nhỏ giữa Nam – Bắc triều, góp công trọng yếu giúp triều đình khôi phục ngai vua nên không thể không có sự ghi nhận công lao và ban thưởng xứng đáng. Tuy nhiên, trong một thời kỳ đầy biến loạn và chiến trận liên miên như thế, việc ban cho lực lượng này quá nhiều quyền lợi đã dẫn đến mầm mống của nổi loạn. Sau khi giúp nhà Lê đánh đuổi họ Mạc, những tên binh lính thấp bé ngày nào đã cậy mình có công, được ban thưởng nhiều nên đã sinh ra thói kiêu căng, ngạo mạn đến mưc tự mình tụ tập thành phe nhóm mà làm loạn chốn kinh thành Thăng Long, làm loạn không những ngay trong phủ chúa, điện vua mà còn công khai ức hiếp, bạo ngược với dân chúng.

Mầm mống của loạn kiêu binh trong lịch sử nước ta
Mầm mống của loạn kiêu binh trong lịch sử nước ta

Sự lộng hành có một không hai của đám kiêu binh

Sự quá quắt của nạn kiêu binh có lẽ được ghi nhận từ năm 1674. Hai đại thần là bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh và tham tụng Phạm Công Trứ nhận thấy đám “ưu binh” xưa nay đã thành kiêu binh và ngày càng lộng quyền, kiêu ngạo, phóng túng nên đã bàn nhau tìm cách dẹp nạn này. Nhưng chẳng may tin tức để lọt ra ngoài, kiêu binh biết được nên đón đường giết chết  Nguyễn Quốc Trinh, rồi kéo đến nhà Phạm Công Trứ tìm giết. Phạm Công Trứ phải bỏ trốn vào phủ Chúa. Tưởng có sự che chở của phủ chúa là yên chuyện, nhưng chẳng ngờ đám kiêu binh lớn gan đến nỗi dám kéo đến hò hét đòi người. Chúa Trịnh Tạc phải xuống nước vỗ về, ban cho vàng bạc để chúng không làm loạn nữa. Cuối cùng, chúng kéo đi và san bằng nhà viên quan tham tụng Phạm Công Trứ thành bình địa.

Rồi đến năm 1741, tham tụng Nguyễn Qúy Cảnh lại muốn dẹp bớt yêu sách của kiêu binh, khiến chúng tức tối mà đón đường toan muốn giết ông đi. May sao trốn được, ông xin Trịnh Doanh cho trí sĩ nhưng chúa không cho, ông phải làm tiếp.

Cũng ở thời Trịnh Doanh, bấy giờ có thái tử Lê Duy Vĩ – dòng dõi vua Lê hay chơi với thế tử Trịnh Sâm – con Trịnh Doanh. Thái tử là người tài đức vẹn toàn nên Chúa Trịnh Doanh có phần kính nể, lại có lòng muốn khôi phục quyền lực của triều Lê. Một hôm chúa Trịnh Doanh mở tiệc, thái tử Duy Vĩ ngồi cùng mâm với Trịnh Sâm, mẹ Trịnh Sâm là Nguyễn thái phi thấy vậy can ngăn :

– Thế tử với thái tử có phận tôi thần, không thể ngồi cùng một mâm. Nên sang ngồi chiếu khác.

Sự việc đúng là giọt nước tràn ly đối với Trịnh Sâm. Sâm tức giận nhưng không làm được gì, bèn bỏ ra ngoài bẻ đôi đũa nói:

– Ta với thằng Duy Vĩ ấy không đội trời chung! Có ta thì không có nó.

Có vị quan nghe được bèn nhặt được cặp đũa gãy ấy. Sau này, chúa Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên thay, vị quan ấy đưa đôi đũa ra và bảo:

– Chúa còn nhớ đôi đũa này không?

Trịnh Sâm nhớ lại câu chuyện đôi đũa, bèn lập mưu vu cho thái tử gian dâm với thứ phi của mình, bắt thái tử cùng 3 con trai là Duy Khiêm, Duy Trù, Duy Chi về cung.

Đương thời, chúa Trịnh Sâm vốn tính cương nghị, sáng suốt, quả đoán, đọc rộng kinh sử, có văn tài võ lược, trí tuệ hơn người. Sau khi được truyền ngôi, chúa chỉnh đốn triều cương, dẹp yên thiên hạ, kho đụn đầy ắp thì dần dần chúa sinh bụng kiêu căng, xa xỉ, phi tần đầy trước mặt, mặc ý vui chơi. Nhưng trong số người đẹp chốn hậu đình, chẳng một ai làm chúa say đắm chung tình. Cho tới một hôm có người hầu gái là Đặng Thị Huệ đã làm cho Trịnh Sâm phải say đắm. Về sau, Đặng Thị Huệ sinh được con trai khôi ngô, sáng dạ khác hẳn người thì chúa càng yêu quý đứa con nhỏ bội phần.

Khi đó, con trai lớn của chúa là Trịnh Tông đã mười lăm tuổi và lẽ ra đã được ở cung riêng dành cho người nối ngôi là Đông cung từ năm mười hai tuổi, nhưng chúa không cho. Ba năm sau, Tông mười tám tuổi, đáng được mở phủ riêng, chúa cũng lờ đi. Một phần vì yêu mến Trịnh Cán, một phần vì không hài lòng với TRịnh Tổng vì ông này chỉ ham mê võ nghệ chứ không chịu học hành nên Trịnh Sâm đã gây ra một sai lầm làm ảnh hưởng đến thời cuộc phủ Chúa về sau. Thế là ngôi kế vị vẫn chưa được định đoạt, lòng người bất nhất, ai về phe thế tử Trịnh Tông thì xu phụ thế tử, ai thuộc đảng Đặng thị thì vào hùa với vương tử Cán.

Vốn đã phiền muộn, lo lắng không được nối ngôi từ khi có em trai là vương tử Cán, Trịnh Tông đã một lần chuẩn bị làm đảo chính nhưng âm mưu bị phát giác. Trịnh Tông bị truất ngôi con cả để nhường lại ngôi vị Thế Tử cho Trịnh Cán. Đây là hành động phế trưởng lập thứ không thể chấp nhận được đối với tư tưởng Nho gia ngày xưa. Khi chúa Trịnh Sâm mất thì Trịnh Cán được nối ngôi. Sự kiện này là giọt nước cuối cùng làm trào lòng phẫn nộ của số đông, nhất là quân lính.

Ngay khi Trịnh Cán nối ngôi, Trịnh Tông lại mưu tính đến việc đảo chính một lần nữa. Lần này, ông đã dựa vào quyền lực của đám thân binh Tam Phủ.

Cuộc binh biến này đã được Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả cụ thể và sinh động như chính tác giả viết hồi này là Ngô Thi Chí tận mắt chứng kiến: “Quân lính nghe trống đánh thì ai nấy nhảy nhót tranh nhau vào phủ. Bấy giờ cửa các đang đóng, quân lính ở bên ngoài không vào được, tiếng nhao nhao rung chuyển trời đất. Quận Huy (Hoàng Đình Bảo) sai quận Châu, quan cai quản binh phiên, ngăn cấm quân lính vào phủ nhưng nghe quân lính đe giết, quận Châu sợ hãi phải mở cửa, quân lính chen vai nhau mà vào…

Voi quận Huy cưỡi vươn đầu húc những người ấy, quân lính tránh ngà voi, chạy quanh voi, ai nấy dùng binh khí đâm chém voi, có người lấy mảnh chum, mảnh ngói trong phủ đường ném bừa. Voi co vòi quỳ xuống sân mà gầm, không dám húc. Quận Huy giương cung thì dây cung đứt, lấy súng nạp đạn thì mồi lửa tắt, quân lính cầm câu liêm móc quản tượng xuống chém chết. Voi lùi lại, quân lính vây quanh chân voi. Quận Huy lấy mũi dao ngắn phóng xuống đâm họ làm mấy người bị thương. Quân lính kéo đến ngày một đông. Lại có một đoàn quân từ cửa Tuyên Vũ kéo vào, chặn phía sau voi, voi đứng yên không động cựa được, thế là quân lính móc quận Huy lôi xuống, đánh túi bụi đên chết. Họ bèn mổ bụng, lấy gan ra ăn rồi kéo xác quận Huy vứt ra ngoài cửa Tuyên Vũ…’’

Nếu giết xong Huy Hoàng Đình Bảo, đã hả giận rồi, quân lính dừng lại ở đây thì cũng không khiến kinh thành Thăng Long náo loạn chưa từng có dưới bất kỳ triều vua nào ở nước ta. Đằng này quân lính lại thừa thế làm bừa. Phàm bề tôi văn võ, ai thuộc đảng của Thị Huệ và quận Huy, ai tố giác mật án năm Canh Tý (năm Trịnh Tông mưu đảo chính lần thứ nhất) cùng những cận thần hầu hạ mà ngày thường cay nghiệt, quân lính vốn căm ghét thì lúc ấy nhà họ đều bị phá dắt dây rồi người thì bị lùng tìm mà giết chết. Kinh thành náo động luôn trong mấy ngày, chúa xuống chỉ ngăn cấm không được, phải sai quan tra xét trong kinh kỳ, chọn lấy dân thường chém chết để cảnh cáo. Từ đó việc phá nhà mới tạm ngừng, còn lùng bắt người vẫn không thôi.

Quá hơn nữa là “sau khi phò lập tân chúa, ba quân ỷ có công mà kiêu ngạo, ngày ngày tụ họp, bàn lấn sang cả việc lớn của triều đình”. Kể từ đó đám “ưu binh” chuyển thành “kiêu binh”, không còn coi ai ra gì, chúng sách hạch dân chúng, đòi lợi ích từ các bến, bãi, khách điếm, cổng quan,…

Chúng dọa nạn các quan, ai tỏ ý chống là tới đập phá nhà người ấy, chúng còn can dự vào việc xét tuyển quan lại trong triều. Triều đình phải lập đội Phong vân để rà soát đám kiêu binh, hễ ai đập phá nhà dân là bắt về xét xử.

Sự quá quắt lộng hành của đám kiêu binh còn tiếp diễn ở một cấp độ cao hơn nữa. Chúng tụ tập nhau để tự bàn việc rồi gửi yêu sách lên phủ chúa cung vua. Những yêu sách của đám kiêu binh này thường thì đều là những việc vô lý nhưng chúng nhất quyết bắt triều đình phải thi hành. Khi khác chúng lại cầu xin ân huệ, bổng lộc, không biết thế nào là đủ. Bất kế là quan văn hay võ tướng, chỉ cần có ai lên tiếng phản đối là chúng dọa phá nhà, đánh giết. Chúng can thiệp cả về những quyết định nội chính cho đến việc xét sử trong dân. Trăm quan đều phải nín hơi nuốt tiếng, không dám xúc phạm. Nhất cử nhất động trong cung họ đều dòm ngó, bàn tán, hoặc hỏi việc này sao lại được như thế này, sao lại được như thế kia…

Sau khi giết quận huy Hoàng Đình Bảo, kiêu binh lại phá ngục để rước 3 con của thái tử Duy Vĩ trước kia bị bắt nhốt về cung, trong đó có Duy Khiêm (sau này là Lê Chiêu Thống). Nghe tin Duy Khiêm được thả, Trịnh Thái phi (mẹ Trịnh Sâm – người đã can ngăn vụ ngồi cùng mâm) lo sợ Duy Khiêm sẽ cướp ngôi thái tử của Duy Cận (Chú của Khiêm – Người được Trịnh Thái phi nâng đỡ) nên sai triệu Duy Khiêm vào chầu thực ra là để giết đi, Khiêm chối không được vừa đi vừa khóc tới chầu. Vừa hay trên đường đi thì Duy Khiêm lại gặp bọn lính đang đi tuần, chúng thấy Duy Khiêm như vậy thì cũng phải tra xét cho rõ sự tình. Sau đó, chúng hùa nhau kéo tới phủ Chúa đòi bắt Duy Cận, Duy Cận sợ quá thay áo lẻn ra ngoài. Chúa Trịnh biết được chuyện bèn ra dỗ, sau xin vua Hiển Tông lập Duy Khiêm làm thái tử. Xưa nay quyền thần phế vua thì sử sách ghi chép cũng nhiều, nhưng nay việc một đám binh lính lại có quyền can thiệp đến việc lập Thái tử kế thừa ngôi vua thì đúng là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta.

Kiêu binh Tam phủ lại nhân việc cứu Thái tử Duy Khiêm ra khỏi ngục mà tâu lên vua Hiển Tông đòi ban thưởng, vua phải mở tiệc thiết đãi. Chúa Trịnh biết vậy gọi ngay quan tham tụng Nguyễn Khản và quản trung cơ Dương Khuông và phủ định nhân cơ hội này lập mưu trừng trị bọn kiêu binh. Sau khi nghe ý kiến của hai cận thần, Chúa bèn sai viên đầu hiệu đội Nhưng Nhất là Triêm vũ hầu Nguyễn Triêm đem đội quân Phong vân đến vây bắt 

Nguyễn Triêm vốn là người có can đảm và sức khỏe, xách gươm ra thẳng cửa phủ. Vừa đi vừa tuốt gươm ra, Nguyễn Triêm sờ vào lưỡi gươm, tự hào nói:

– Sắc. Gươm ta sắc. Gươm ta chém được đầu Kiêu Binh.

Đoạn dẫn quân đến bao vây. Bọn Kiêu Binh còn đang ăn uống chè chén, nghe tin có lính bắt, ai nấy hỏa tốc chạy trốn. Nguyễn Triêm bắt được 7 tên đem về phủ. Tông nghe lời Khản và Khuông đem ra xử tử. Lúc ấy trong triều, ngoài quê đều lấy làm khoái!

Dương Khuông thân là tướng vốn ghét bọn lính không phục mình chiếu luật “lẻn vào cung vua” mà chém cả thảy. Tưởng đâu răn đe được đám kiêu binh, nào ngờ 6 hôm sau kiêu binh lại kéo tới phủ Chúa làm loạn, đòi bắt giết Nguyễn Khản và Dương Khuông, Nguyễn Khản phải trốn ra Sơn Tây, Dương Khuông ở trong phủ. 

Bọn Kiêu Binh cả thảy lấy làm oán tức. Họ lại họp nhau bàn bạc. Rồi chúng hẹn hôm sau khi tan triều sẽ khởi sự, đến gây sức ép với nhà chúa để bắt cho bằng được Dương Khuông và Nguyễn Triêm.

Sự lộng hành từ loạn kiêu binh dẫn đến sự suy tàn của quyền lực phủ chúa.
Sự lộng hành từ loạn kiêu binh dẫn đến sự suy tàn của quyền lực phủ chúa.

Sáng hôm sau, Dương Khuông và Chiêm Vũ hầu đi lén vào phủ chúa. Nguyễn Khảm đóng cửa nằm nhà, không dám vào triều. Tan triều, bọn Kiêu Binh chia nhau đi vây các dinh. Vào nhà Dương Khuông và Nguyễn Triêm không thấy hai người, bọn họ tức thì hò nhau phá nhà. Chỉ trong chốc lát cả hai tư dinh đó hóa thành đất bằng. Nguyễn Khảm bắt được hung tin, hoảng hốt thay đổi y phục, theo ngõ tắt chạy trốn thoát được. Còn nhà cửa đều bị Kiêu Binh phá tan tành.

Không bắt được ba người, lòng càng căm tức. Chúng dò được tin quốc cựu Dương Trung và Nguyễn Triêm trốn trong phủ chúa, bèn cùng chia ra chắn kín cửa phủ. Đoạn cho một bọn kéo vào phủ đường đòi Trịnh Tông đưa hai người ra cho chúng. Tông bảo là không có, bọ chúng lại càng gây sức ép lớn hơn. Trịnh Tông sợ quá không dám hó hé. Bấy giờ trời sẩm tối, bọn Kiêu Binh bảo nhau giải tán.

Sauk hi đám kiêu binh ra về, Trịnh Tông bàn với Thái phi tìm cách dung tiền của để đút lót cho chúng. Thái phi đồng ý. Biết có tên thư lại tên Nhưng Thọ vốn đứa xảo quyệt, bọn Kiêu Binh bàn việc gì cũng phải hỏi nó, nên Tông đưa cho một ngàn lượng bạc, nhờ nó làm sứ giả phân chia cho chúng. Tông còn hứa “công việc xong sẽ còn trọng thưởng.”

Hôm sau, Kiêu Binh lại kéo sát vào phủ. Nhưng Thọ ra hòa giải. Quân lính vốn sẵn tham lợi nên dịu giọng nói:

– Đã thế thì tha cho em ruột Thái phi. Nhưng còn Nguyễn Triêm  là người giữa trời, chúng tôi phải xin mỗi người một miếng thịt để nhắm rượu, rồi sẽ giải tán ngay.

Trịnh Tông nói:

– Tha thì tha cả. Sao lại còn phân biệt người nọ người kia.

Bọn họ giận nói:

– Nhà của chúa nếu còn quanh co che chở Nguyễn Triêm , hễ chúng tôi điên tiết thì cả Quốc cựu cũng không thể thoát.

Trịnh Tông sợ quá cho người đến an ủi Nguyễn Triêm và khuyên phải ra. Nguyễn Triêm trốn trên Lân Các bất đắc dĩ phải trèo xuống thang ra mắt Tông. TrịnhTông bật khóc, đoạn hứa với Nguyễn Triêm là sau khi ông chết, sẽ cấp một ngàn mẫu ruộng làm của nối đời, và phong làm phúc thần, bắt dân 10 làng thờ cúng. Trịnh Tông lại tự viết 6 chữ “Trung nghĩa tráng liệt đại vương” đưa cho Triêm. Nguyễn Triêm  quỳ xuống nhận lấy, vo tròn mà nuốt rồi lạy tạ Tông bước ra.

Trèo lên được đầu Chúa, kiêu binh càng thỏa sức làm loạn. Chúng ra sức ức hiếp dân chúng, làm cho kinh thành Thăng Long luôn bất ổn và dân – quân coi nhau như kẻ thù.

Lúc này, Nguyễn Khản cùng em là Nguyễn Điền đang làm quan ở Sơn Tây, bí mật dâng chiếu tới phủ chúa bàn việc trừ kiêu binh, chúa chấp thuận. Bọn kiêu binh biết mưu, mắng chửi chúa Trịnh, chia nhau canh giữ nhốt chúa trong phủ. Quân từ tứ trấn kéo đến, thổ hào, dân chúng đều một lòng quyết giết kiêu binh cho bằng được. Kiêu binh bàn nhau cách chống, chúng vừa kéo quân nghênh chiến thì bị quân thổ hào đánh tan tác cả, bèn cố sống cố chết chạy về Kinh thành lộ hòng tử thủ. Dân chúng biết sắp có sự biến, dắt díu, bồng bế nhau bỏ trốn. Sau nhờ quan tham tụng Bùi Huy Bích dỗ mãi, kiêu binh mới chịu yên. Ấy thế mà chúng lại chểnh mảng việc võ bị, chỉ suốt ngày ăn chơi, chúa sợ kiêu binh làm loạn nên cũng chả dám làm gì.

Bọn kiêu binh cứ thế mà tồn tại, gây họa từ Cấm thành đến dân gian. Trong thời kì mạt vận suy tàn của chế độ vua Lê – chúa Trịnh, bọn kiêu binh chính là sâu mọt cuối cùng làm gốc rễ phải lung lay, chỉ còn chờ cơn gió lớn thổi qua là cây cổ thụ ngày nào phải sụp đổ.

Cái kết của loạn kiêu binh và của cả vương triều.

Cái kết của loạn kiêu binh và của cả vương triều.
Cái kết của loạn kiêu binh và của cả vương triều.

Tháng 5 năm Cảnh Hưng 47 (1786), quân Tây Sơn tiến nhanh ra Bắc. Triều đình nhà Lê – Trịnh bàn việc sai tướng đem quân vào chống ngăn. Nhưng ưu binh ngày nào lúc này đã trở thành kiêu binh, quen thói kiêu căng, rất sợ chinh chiến nên lấy cớ đòi tiền lương để chần chừ không chịu tiến quân, khiến trong kinh thành càng xôn xao dữ, ai nấy đều tính kế tháo chạy.

Ngày mồng 6 tháng 6 năm Bính Ngọ (1 tháng 7 năm 1786) quân của Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vị Hoàng (Nam Định). Nguyễn Huệ đến hợp quân với Chỉnh rồi cùng tiến ra Thăng Long. Quân Tây Sơn đi đến đâu, quân Trịnh tan tác đến đó, nạn kiêu binh kể như chấm dứt cùng sự sụp đổ của họ Trịnh. Việc Nguyễn Hữu Chỉnh chấp nhận hợp tác Tây Sơn diệt kiêu binh có liên quan đến vụ giết Quận Huy Hoàng Đình Bảo. Ngay khi tin Quận Huy bị giết lan truyền tới Nghệ An, đã làm Nguyễn Hữu Chỉnh hết sức lo sợ, vì ông là tay chân thân tín của Quận Huy. Cho nên ông vội đến gặp Trấn thủ Vũ Tá Dao, cũng là em rể Quận Huy, bàn việc chiếm lấy Nghệ An và viết mật thư xui Hoàng Đình Thể giết chủ tướng là Phạm Ngô Cầu để chiếm luôn Thuận Hóa. Thấy Vũ Tá Dao còn ngần ngừ, chưa thể dứt khoát, Nguyễn Hữu Chỉnh cùng với Hoàng Viết Tuyển, dắt díu vợ con chạy vào Quy Nhơn đầu hàng Nguyễn Nhạc. Để rồi năm 1786, Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn ra Bắc Hà diệt nhà Trịnh. Kể từ đây, loạn kiêu binh mới chính thức chấm dứt.

Lời kết

Kiêu binh tất loạn như một bài học nhãn tiền của thời loạn dành cho người sau nhìn theo mà tự rút ra bài học. Lê Thái Tổ từng oai hùng sáng lập triều Hậu Lê như thế nào thì hơn 100 năm sau con cháu của Ngài lại bắt đầu mạt hệ như thế. Đáng lẽ ra, nhà Lê không còn đủ khả năng lãnh đạo quốc gia thì để nhà Mạc lên thay là tất yếu. Nhưng một phần vì công lao đánh đuổi giặc phương Bắc của Nhà Lê quá lớn, mà mặt khác lại có nhiều dòng họ thay nhau nổi lên tranh lấy quyền lực nên cuối cùng danh nghĩa vua Lê vẫn phải được giữ lấy. Rồi chúa Trịnh không làm vua, mà lấy danh nghĩa vua để điều khiển thiên hạ lại càng làm cho thời thế đã loạn nay còn loạn thêm.

Vậy nên, loạn kiêu binh xảy ra cũng có nguyên do của nó, ở trên vua-chúa-quan lại tham nhũng, quan liêu, mua quan bán chức, ức hiếp dân chúng, thì ở dưới quân lính, tay sai tất ăn theo mà làm càn, chẳng coi phép nước, pháp luật ra gì, rồi cũng cậy quyền, cậy thế mà đánh đập, áp bức nhân dân. Việc này mà xảy ra, thì dân coi lính, coi quan, coi vua, coi chúa chẳng khác nào kẻ thù, để toan đập, toan đánh, toan giết đi… rồi cuối cùng phép nước lại cũng chẳng ra gì.

Như vậy cái loạn thời Hậu Lê có nguyên nhân chủ quan mà dân gian đã tổng kết chính xác trong câu dột từ nóc dột xuống. Cho nên câu Nguyễn Hữu Chỉnh nói với Nguyễn Huệ: “Người tài ở Bắc Hà chỉ có một Chỉnh này mà thôi” có vẻ như hớ hênh, tự phụ nhưng ngẫm ra thì quả không sai. Chỉ một mình nhân vật xứ Nghệ này có chí lớn chứ không ai dám nghĩ đến là mượn binh lực Tây Sơn để diệt Trịnh, hoàn thành công cuộc nhất thống cho vua Lê Hiển Tông, sau đó lại hai lòng với Tây Sơn để làm cuộc tái nhất thống cho cháu ngài là Lê Chiêu Thống. Như thế là Chỉnh một dạ trung thành với nhà Lê dù phải sử dụng nhiều mánh lới khôn ngoan, xảo quyệt và có khi tàn nhẫn nữa. Vả lại ở thời loạn, nếu chỉ mực thước theo vương đạo của thời bình, không sử dụng thủ đoạn của bá đạo thì khó mà hoàn thành công cuộc nhất thống. Chỉ có điều khi nhất thống đã thành công, Chỉnh lại không chế ngự được sai lầm muôn thuở của những người tài khi công đã thành, danh đã toại là ham hố quyền lực và buông thả dục vọng. Những mánh lới, thủ đoạn khôn ngoan, xảo quyệt làm nên thành công cho công cuộc nhất thống lúc này đã quay lại hại ông.

Bàn về loạn kiêu binh, sách Việt sử tân biên (quyển 3) có đoạn như sau:

“Riêng nạn kiêu binh lộng hành; ngai vàng,sự nghiệp của vua Lê chúa Trịnh cũng đủ đổ, huống hồ vua chúa và quan lại cũng hư hèn. Buổi đầu, kiêu binh có chút công lao phò tá, nhưng sau này vì vua chúa không biết điều khiển họ, để họ lợi dụng lạm dụng quyền thế để làm bậy bạ khiến họ Lê, họ Trịnh đều phải đổ vỡ. Tới khi binh Tây Sơn ra Thăng Long, thì đội quân này như một cơn lốc làm ngã ngay cái cây đã bị sâu mọt đục nát…Gia chính cũng như quốc chính, một khi có lũ con cưng đó, tất nhiên phải đưa thiên hạ đến chỗ đại loạn. Lịch sử không chỉ trách kiêu binh, mà còn phải qui trách nhiệm cho những người cầm đầu dân tộc đã vụng suy dại nghĩ”.

Xem bài khác : Dũng tướng Lê Phụ Trần (Lê Tần) văn võ song toàn, uy chấn trời Nam

Tác giả Đoàn Nhật Quang.

Đoàn Nhật Quang