VIỆT SỬ GIAI THOẠI

Người kể chuyện Sử

Chuyện Lý Phật Tử dùng ‘nam nhân kế’ cướp ngôi Triệu Quang Phục

Chia sẻ với bạn bè :

Đã là người Việt Nam ắt hẳn không ai là không biết về câu chuyện mang hơi thở thần thoại: Nỏ thần An Dương Vương và mối tình oan trái Mị Châu – Trong Thủy. Nhưng bạn có biết một câu chuyện thần thoại cũng có nội dung và kết cục tương tự cũng diễn ra với họ Triệu (không cùng dòng họ chỉ giống chữ cái) cách sự kiện trên gần 600 năm? Hãy cùng nghe kể câu chuyện về Lý Phật Tử dùng ‘nam nhân kế’ cướp ngôi Triệu Quang Phục như thế nào nhé!

Từ câu chuyện gả con gái của An Dương Vương

Sơ lược là An Dương Vương Thục Phán được rùa thần (có dị bản là một thần nghệ nhân tên Thông) trao cho chiếc nỏ thần dùng để đánh giặc.

Giặc ở đây là Triệu Đà mới sai con trai là Trọng Thủy sang cầu hòa và lấy con gái vua Thục Phán là Mị Châu rồi ở rể để làm tin.

Ai ngờ vì bản tính ngây thơ Mi Châu chỉ chỗ cho Trọng Thủy lấy được nỏ thần và đem đánh tráo mất.

Gây nên họa diệt quốc, làm vua phải chở con trên ngựa chạy trốn đến khi cùng đường thì vua giết Mị Châu (theo lời rùa thần mách), rồi tự tử.

Trọng Thủy vì tiếc thương vơ cũng tự tử theo nàng.

Câu chuyện về An Dương Vương gả con gái rồi mất nước nổi tiếng là thế. Nhưng bạn có biết một câu chuyện thần thoại cũng có nội dung và kết cục tương tự cũng diễn ra với họ Triệu (không cùng dòng họ chỉ giống chữ cái) cách sự kiện trên gần 600 năm?

Câu chuyện như sau:

Năm 549, Triệu Quang Phục ở trong đầm thấy quân Lương không lui, mới đốt hương cầu đảo, khẩn thiết kính cáo với trời đất thần kỳ, thế rồi có điềm lành được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc.

Từ đó quân đến đâu không ai địch nổi (tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời xuống, rút móng rồng trao cho ông, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc).

Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục
Minh hoạ trận chiến đàm Dạ Trạch.

Năm 557, con gái của Triệu Quang Phục lấy con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang. Năm 570, Nhã Lang nói với vợ rằng: “Trước hai vua cha chúng ta cừu thù với nhau, nay là thông gia, chẳng cũng hay lắm ư?

Nhưng cha nàng có thuật gì mà có thể làm lui được quân của cha tôi?”. Cảo Nương không biết ý của chồng, bí mật lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem.

Nhã Lang mưu ngầm tráo đổi cái móng ấy, rồi bảo riêng với Cảo Nương rằng: “Tôi nghĩ ơn sâu của cha mẹ nặng bằng trời đất, vợ chồng ta hòa nhã yêu quý nhau không nỡ xa cách, nhưng tôi phải tạm dứt tình, về thăm cha mẹ”. Nhã Lang về, cùng với cha bàn mưu đánh úp, chiếm được nước.

Bây giờ ta cùng tìm hiểu về mặt sự kiện lịch sử các sự kiện trên nhé.

Triệu Vũ Đế (chữ Hán: 趙武帝, 257 TCN – 137 TCN), húy Triệu Đà (chữ Hán: 趙佗). Triệu Đà vốn là người Trung Hoa (sau này gọi là người Hán) thời nhà Tần, quê ở huyện Chân Định (真定), quận Hằng Sơn (恒山) (ngày nay là huyện Chính Định (正定), tỉnh Hà Bắc), miền Bắc Trung Quốc.

Ông là võ tướng theo lệnh Tần Thuỷ Hoàng dẫn quân xuống chinh phạt miền nam (khi đó là lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt). Ông chiếm được nhiều vùng lãnh thổ (nay là Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam) nhưng nhà Tần ở Trung Hoa đã diệt vong.

Nhận thấy triều đình trung ương đã sụp đổ, Triệu Đà bèn tách ra cát cứ, xưng Đế và lập nên nước Nam Việt và cai trị nước Nam Việt suốt giai đoạn 207-137 TCN. Triều đại của ông kéo dài tận đến năm 111 trước công nguyên mới hết.

Sau đó là thời kỳ nước ta thuộc Đông Hán, khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thuộc Đông Ngô, khởi nghĩa Bà Triệu, thuộc Lưỡng Tấn, thuộc Nam – Bắc triều cho đến khi cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Bôn) thành công và nước ta độc lập vào năm 541 – 548.

Sau khi Lý Bí (Lý Nam Đế) chống quân Lương không nổi mới trốn vào động Khuất Lão và qua đời ở đó. Ủy thác lại đất nước cho viên tướng của mình là Triệu Quang Phục (sau này là Triệu Việt Vương). Ông kế tục Lý Nam Đế giữ quân trong đầm Dạ Trạch chuyên đánh úp và cướp lương thực của quân Lương để cầm cự lâu dài (dân gian goi ông là Dạ Trạch Vương).

Khi nhà Lương xảy ra biến loạn Trần Bá Tiên quay về nước. Triệu Quang Phục nhân cơ tấn công số lương quân địch còn lại khiến chúng phải tháo chạy về nước. Bảo tồn nền độc lập cho nước Vạn Xuân.

Năm 557, Lý Phật Tử (cháu họ của Lý Nam Đế) đem quân xuống miền Đông đánh nhau với Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình.

Hai bên năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại. Quân của Lý Phật Tử có phần thất thế, bèn xin giảng hòa.

Ông nghĩ rằng Lý Phật Tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần cho ở phía tây của nước, Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên.

Lý Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của ông là Cảo Nương. Ông bằng lòng, kết thành thông gia. Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể.

Theo đánh giá của các sử gia, cuộc xung đột giữa họ Triệu và họ Lý cho thấy tuy đã đánh thắng được quân Lương nhưng Triệu Việt Vương không kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ Vạn Xuân để huy động lực lượng áp đảo được họ Lý.

Năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh úp Triệu Việt Vương. Bị đánh bất ngờ, Triệu Việt Vương ra quân trong thế bị động, không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi theo sát gót. Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, bèn nhảy xuống biển tự vẫn. Từ đó họ Triệu mất nước.

Kết:

Các mối thông gia trong chính trị là không thể thiếu nhưng qua các câu chuyện trên ta thấy rằng ông cha ta đã biến tấu các chiêu trò chính trị trở thành các thần thoại cho con cháu không bao giờ quên bài học lịch sử ngàn năm ấy. Hôm trước lừa thông gia, Hôm sau bị thông gia lừa. Thế mới nói, nghiệp quật họ Triệu không trật phát nào. ( đùa thôi, Triệu Vũ Vương và Triệu Quang Phục không có quan hệ huyết thống đâu nhen)

Theo fanpage LinhS.vn



Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.