Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh – Vua sáng một thời thịnh trị

Quân Vương Nước Việt

Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh (1500 – 1540) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1530 đến 1540, trị vì tổng cộng 10 năm. Trong thời gian trị vì, ông chỉ dùng niên hiệu Đại Chính, nên còn được gọi là Đại Chính Hoàng đế.

Thân thế và lên ngôi

Ông tên thật là Mạc Đăng Doanh, là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách), tỉnh Hải Dương. Minh thực lục ghi ông tên là Mạc Phương Doanh. Ông được xác định là con trưởng của Thái Tổ Cao Hoàng đế Mạc Đăng Dung, mẹ là con gái của Thông quận công Nguyễn Thì Ung.

Năm 1517, khi Mạc Đăng Dung nắm quyền lực trong triều, muốn câu kết bè phái, đã ra lệnh cho con trai Đăng Doanh nghênh thú con gái của Trần Chân làm vợ. Năm 1522 ông được phong làm Dục Mỹ hầu, chưởng quản Kim Quang điện.

Năm 1527, khi Mạc Thái Tổ lên ngôi, ông được lập làm Thái tử. Hơn một năm sau, Mạc Thái Tổ nhường ngôi cho Mạc Đăng Doanh. Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép: “Tháng 12 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529), Đăng Dung thấy nhân tâm trong nước chưa yên, bèn truyền ngôi cho con là Đăng Doanh, rồi tự xưng là Thái Thượng hoàng, ra ở điện Tường Quan… Đăng Dung về Cổ Trai ở, là để trấn vững nơi căn bản và làm ngoại viên cho Đăng Doanh, nhưng vẫn định đoạt các việc quốc gia trọng đại”.

Ngày mùng 1 tháng giêng năm Canh Dần (1530), Mạc Đăng Doanh chính thức lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Chính.

Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh - Vua sáng một thời thịnh trị
Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh – Vua sáng một thời thịnh trị

Đánh dẹp

Từ năm 1529, Thái An công nhà Hậu Lê là Lê Ý khởi binh ở Thanh Hóa. Mạc Thái Tổ mang quân đi đánh bị thua trận phải rút về.

Tháng 8 năm 1530, sau khi lên ngôi, Mạc Thái Tông hội binh ở huyện Hoằng Hóa đánh Lê Ý, sai Mạc Quốc Trinh lĩnh thủy quân đi trước. Ý đón đánh được cả hai đạo quân Mạc. Mạc Thái Tông phải án binh cố thủ. Tháng 11 năm đó, Thái Tông sai Quốc Trinh ở lại cầm quân còn mình rút về kinh thành. Lê Ý thắng liền mấy trận có ý chủ quan, bị Quốc Trinh bắt được giải về kinh giết chết.

Đầu năm 1531, Nguyễn Kim khởi binh chống Mạc ở Ai Lao, mang quan về đánh Thanh Hóa. Thái Tông sai Tây quốc công Nguyễn Kính vào đánh. Nguyễn Kim đánh thắng được Nguyễn Kính hai trận, chia quân giữ các huyện. Tháng 9, trời đổ mưa nhiều, quân Mạc thừa cơ dùng thủy quân tiến đánh, quân Nguyễn Kim rối loạn phải rút về Ai Lao.

Năm 1533, Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh lên ngôi tại đất Ai Lao, tức là vua Lê Trang Tông, tái lập nhà Lê Trung hưng. Hiệu úy Nguyễn Nhân Liễn khởi binh ở Thuận Hóa chống Mạc. Mạc Thái Tông sai tướng đi đánh không dẹp được.

Năm 1535, ngày 16 tháng 2 cử Hoàng quận công tức Mạc Đăng Lượng cùng em Mạc Đăng Tuấn tức Hoàng Tuấn Ngạn vào trấn thủ Hoan châu, phủ Anh Đô, huyện Nam Đường định đô tại xứ Tiên Đô (Đền Tiên Đô) vùng Đô Đặng, tổng Đặng Sơn (nay thuộc 3 xã Đặng Sơn, Nam Sơn, Bắc Sơn thuộc huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An)

Năm 1537, trấn thủ Thanh Hóa là Tây An hầu Lê Phi Thừa đánh phá tam ty nhà Mạc do Trung Hậu hầu cai quản rồi chạy sang Ai Lao đầu hàng nhà Lê. Năm 1539, quân nhà Lê từ Ai Lao chia đường đánh chiếm huyện Lôi Dương (Thanh Hóa). Đất nhà Mạc bắt đầu bị chia cắt.

Tài năng trị vì của Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh

Về mặt chính trị

Thời Mạc Thái Tông trị vì, xã hội Bắc triều khá ổn định, đời sống người dân được cải thiện đáng kể. Sử gia Lê Quý Đôn, mặc dù đứng trên lập trường ủng hộ chính quyền Lê – Trịnh nhưng cũng ghi nhận sự thực: “Đăng Doanh thấy trong nước còn nhiều trộm cướp, bèn ra lệnh cấm nhân dân các xứ, không được mang gươm giáo, dao nhọn và các đồ binh khí đi ngoài đường. Nếu kẻ nào trái lệnh, cho pháp ty bắt trị tội. Từ đấy, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi, tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn.”

Liên tiếp trong mấy năm được mùa, nhân dân được no đủ, trong nước được yên ổn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông: “Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi”.

Về mặt văn hóa giáo dục

Dù chỉ ở ngôi có 10 năm, nhưng Mạc Thái Tông cũng tổ chức được đều đặn 3 năm một kỳ thi Tiến sĩ, đó là các khoa: Nhâm Thìn (1532), Ất Mùi (1535) và Mậu Tuất (1538). Số lượng Tiến sĩ tuyển chọn ở cả 3 khoa thi nói trên là 95 người, trong đó có khá nhiều người tài giỏi, như: Trạng nguyên Nguyễn Thiến (1495-1557) đỗ đầu khoa Nhâm Thìn, Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) đỗ đầu khoa Ất Mùi và Giáp Hải đỗ đầu khoa Mậu Tuất.

Mùa xuân năm Bính Thân (1536), Mạc Đăng Doanh sai Khiêm quận công Mạc Đình Khoa tu sửa lại trường Quốc Tử giám.

Tháng giêng năm Đinh Dậu (1537) nhằm khuyến khích việc học tập Nho học và tỏ lòng trân trọng đối với các vị sáng lập Nho giáo, Mạc Đăng Doanh thân đến Văn Miếu – Quốc Tử giám làm lễ Thích điện, tế Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối [Nhan Tử (Nhan Uyên) – Tăng Tử (Tăng Sâm) – Tử Tư (Khổng Cấp) – Mạnh Tử (Mạnh Kha)].

Đối ngoại

Dưới thời Mạc Đăng Doanh, vua Minh sai tướng Cừu Loan và Thượng thư Bộ Binh Mao Bá Ôn dẫn quân áp sát biên giới nước ta, đe dọa sẽ tiến đánh họ Mạc.

Để đối phó với âm mưu xâm lược của triều Minh, Mạc Thái Tông một mặt sai tu sửa các trại sách vùng biên giới, luyện tập thủy quân, trưng cầu hết thảy các cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước. Mặt khác, ông dùng kế hoãn binh, sai Nguyễn Văn Thái đem tờ biểu đến Quảng Tây xin hàng. Biện hộ rằng Lê Duy Ninh là con của Nguyễn Kim được dựng lên, không phải dòng dõi nhà Hậu Lê.

Thực ra, bấy giờ triều Minh tuy có hạ chiếu sai tướng sang định đánh họ Mạc, nhưng vẫn còn chần chừ để xem xét, chưa dám phát binh mà hư trương thanh thế để đe dọa thôi. Trước các biện pháp nhún nhường của triều đình nhà Mạc, vua Minh đã dừng cuộc xâm lược Đại Việt, tránh cho nhân dân khỏi rơi vào tình trạng can qua.

Qua đời

Ngày 25 tháng giêng năm Canh Tý (1540), Mạc Thái Tông qua đời, ở ngôi 10 năm. Đặt thụy hiệu là Khâm Triết Văn Hoàng đế. Thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập con trai trưởng Thái Tông là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.

Mạc Thái Tông sinh được 7 người con trai: con trưởng là Phúc Hải; thứ hai: Phúc Tư, phong Ninh vương; thứ ba: Kính Điển, phong Khiêm vương; thứ tư: Lý Tường; thứ năm: Lý Hòa; thứ sáu: Hiệp Cung; thứ bảy: Đôn Nhượng, phong Ứng vương. Hai người con thứ ba và thứ bảy của Đăng Doanh là: Mạc Kính Điển, Mạc Đôn Nhượng đều là những danh tướng tài năng xuất sắc của triều Mạc.

Nhận định về Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh

Mạc Thái Tông không phải là vị hoàng đế nhiều võ công nhưng giỏi về văn trị. Ông không có được những chiến công đánh dẹp hiển hách như vua cha Mạc Thái Tổ nhưng đã mang lại cuộc sống no ấm, yên ổn cho nhân dân Đại Việt, nhất là vùng Bắc Bộ sau nhiều năm loạn lạc, binh lửa cuối thời Lê sơ. Do sự trỗi dậy của các lực lượng ủng hộ nhà Hậu Lê, nền thái bình mà ông gây dựng không được kéo dài. Tuy nhiên, các lực lượng chống Mạc lúc đó chưa đủ mạnh, về cơ bản Mạc Thái Tông vẫn nắm quyền cai trị toàn quốc.

Những cảnh thịnh trị thời ông cai trị – khiến các sử sách của nhà Lê đối địch sau này cũng phải ghi nhận – là rất hiếm có trong lịch sử Việt Nam, ngay cả thời được coi là “hoàng kim” của chế độ phong kiến như Lê Thánh Tông cũng không thấy chép những cảnh tương tự.

Đánh giá sự nghiệp chính trị cũng như đạo đức của Mạc Thái Tông, sử gia ở đầu thế kỷ XIX Phan Huy Chú viết trong Lịch triều hiến chương loại chí: “Mạc Đăng Doanh tính khoan hậu giản dị. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khóa. Bấy giờ được mùa, nhà no, người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình…”

Tác giả Võ Phúc. Bài từ Việt Sử Giai Thoại

Tham khảo: Đại Việt thông sử
Đại Việt sử ký toàn thư
Văn hiến Việt Nam.

Võ Phúc
Follow tôi: