Mạn đàm về 4 viên tư lệnh của 4 vùng chiến thuật thuộc VNCH năm 1975

Danh Tướng Việt Nam

1. Tư lệnh Vùng 1 – Trung tướng Ngô Quang Trưởng (1929 – 2007):

Trung tướng Ngô Quang Trưởng
Trung tướng Ngô Quang Trưởng

Patton của Việt Nam, viên tướng thiện chiến nhất của quân lực hay vị tướng sạch sẽ nhất trong quân đội VNCH là những từ ngữ mà báo chí nói về ông. Ngô Quang Trưởng (1929 – 2007) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tại trường Sĩ quan Trừ bị do Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Nam Việt Nam. Trong thời gian tại ngũ, ông đã có hơn 12 năm phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù. Trong số tướng lĩnh của quân đội Sài Gòn trước năm 1975, trung tướng Ngô Quang Trưởng được xem như là một ông tướng cứng rắn, kỷ luật và khá “sạch sẽ”, tận tụy với chức phận của một quân nhân.

Nhìn chung, Ngô Quang Trưởng đã được coi như một viên tướng chiến trường vào loại khác biệt nhất trong quân đội Sài Gòn, vốn có rất phổ biến hiện tượng áp phe trong đội ngũ sĩ quan cao cấp. Gương mặt lạnh lùng, khô khan, rất ít biểu lộ cảm xúc con người, tác phong cứng nhắc theo đúng những điều ghi trong điều lệnh, Ngô Quang Trưởng không từ bất cứ việc gì mà ông ta cho là thích hợp với lệnh trên. Khi ra một mệnh lệnh gì đó cho thuộc cấp, Ngô Quang Trưởng cũng thường đích thân tới tận nơi kiểm tra thực tế xem mệnh lệnh của mình được thực hiện thế nào. Theo đại tướng Mỹ Abrams, Ngô Quang Trưởng là một viên tướng có khả năng về mọi mặt, nhất là về bình định nông thôn, một chương trình mà các cố vấn Mỹ đều cho rằng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cần phải thực hiện nhanh… Cũng chính Đại tướng Abrams đã cho rằng lính của tướng Trưởng tác chiến trong rừng giỏi hơn quân Mỹ…

Năm 1972, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn I, là chỉ huy cao nhất trong trận đánh tái chiếm Thành cổ Quảng Trị. Năm 1975, Quân đoàn I do ông chỉ huy thất bại nhanh chóng do bị rút Sư đoàn Dù về Sài Gòn theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cộng thêm việc tinh thần binh sĩ ở vùng hỏa tuyến hoang mang khi Sư đoàn Thủy quân lục chiến rút khỏi Quảng Trị trong Chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Dù tuyên bố cứng rắn “Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được Cố đô Huế”, nhưng ngày 29 tháng 3 năm 1975, ông và một số tướng lãnh đã bỏ Sở chỉ huy, bơi ra tàu hải quân neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng để vào Sài Gòn, sau đó di tản sang Mỹ.

Ngô Quang Trưởng kể: “Ngày 13/3/1975, được lệnh vào Sài Gòn họp. Tôi vào đến Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp tổng thống và thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra, không có ai khác. Thường lệ, khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị tư lệnh quân đoàn và tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần này, thì chỉ một mình tôi thôi. Tôi thắc mắc lo lắng. Nhưng khi tổng thống Thiệu cho biết dự định của ông ta là phải rút bỏ quân đoàn 1 ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi.

Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi, và Đà Nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường sư đoàn dù cùng với thủy quân lục chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi trình bày cặn kẽ những ý kiến cũng như dự định của tôi lên tổng thống và thủ tướng nhưng không được chấp thuận.

Lệnh bất di dịch là: Phải rút khỏi quân đoàn 1 càng sớm càng hay. Trở ra quân đoàn 1, tôi cho triệu tập tất cả các vị tư lệnh sư đoàn, tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng, và các sĩ quan tham mưu quân đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các sĩ quan trong buổi họp hôm đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rút cục tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn. Chứ làm sao tôi có thể ra lệnh thẳng khi chỉ nói với một mình tôi là tư lệnh quân đoàn mà thôi.

Vì vậy, cuộc họp hôm đó cũng chẳng mang lại kết quả nào mà tôi mong muốn. Lệnh của tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi quân đoàn 1 vào ngày 13 -3, và rút quân đoàn 2 vào ngày 14/3.

Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy quốc lộ 22 làm ranh giới… Cái lầm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết dự định của mình. Nghĩa là các vị tư lệnh các quân binh chủng, tổng bộ trưởng, tư lệnh sư đoàn, v.v. đã không biết gì về lệnh rút quân của quân đoàn 1 và 2 cả. Lệnh này chỉ có tổng thống, thủ tướng, đại tướng Cao Văn Viên, tôi (tư lệnh Quân Đoàn 1), và tư lệnh Quân Đoàn 2 (tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có cả thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang?”

Theo một số nhân chứng trong chính chế độ Sài Gòn, những tài liệu sau này được phát giác cho thấy, không chỉ tổng thống Thiệu mà ngay cả Ngô Quang Trưởng cũng phải chịu trách nhiệm nặng nề về sự sụp đổ nhanh chóng của bộ máy quân sự Việt Nam Cộng hòa trong mùa xuân năm 1975.Do tình hình ngày càng một xấu đi trên chiến trường, các tướng lĩnh thi nhau chạy trốn. Tướng Trưởng vẫn cố gắng ở lại để chiến đấu nhưng vô vọng. Sáng 30/04/1975, trên đường đào thoát, Nguyễn Cao Kỳ đã ghé vào trụ sở Bộ Tổng tham mưu QLVNCH và bắt gặp Ngô Quang Trưởng đang ngồi ở đó, thất thần nhìn bản đồ và hút thuốc. Lúc này tại đây đã rất vắng người vì đa phần nhân sự đều mạnh ai nấy chạy. Ông Trưởng rất thất vọng, mặc dù muốn tiếp tục chiến đấu nhưng lực bất tòng tâm.

Có chuyện kể rằng khi đó ông Kỳ lừa ông Trưởng là sẽ chở ông ta ra mặt trận ngoại vi Sài Gòn, tướng Trưởng nghe theo và mặc nguyên đồ trận, đeo súng, đội mũ sắt lên trực thăng. Nhưng khi lên trực thăng rồi thì ông Kỳ lái tuốt ra biển, nơi có Hạm đội 7 đang chờ. Ông Trưởng bất đắc dĩ di tản ra hạm đội Mỹ. Từ đó, ông Trưởng đến đảo Guam để đoàn tụ gia đình. Nhưng cũng vì lí do kia mà ông Trưởng cũng giận ông Kỳ cho đến khi qua đời (!) (cần kiểm chứng thông tin).

Những ngày dài sống lưu vong trên đất Mỹ, Ngô Quang Trưởng không giống những tướng tá của chế độ Sài Gòn trước đây là tham gia vào những cuộc hội họp hay bình luận về sự kiện giải phóng Sài Gòn hay phân tích những nguyên nhân bại trận của họ. Ông ta sống rất lặng lẽ trong nỗi trầm uất cay đắng của một viên tướng thua cuộc. Ai đó có cố gắng gặng hỏi một điều gì về một thời chiến cuộc, ông ta đều tảng lờ sang một câu chuyện khác. Có chăng, Ngô Quang Trưởng cũng chỉ ngậm ngùi bảo rằng “bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng. Vong quốc chi đại phu bất khả ngôn trí”, có nghĩa là ông ta cũng biết rõ thân phận của mình là một viên tướng bại trận thì không thể nói mình anh dũng. Một người phải bỏ xứ sở để ra đi tị nạn thì làm sao gọi là người có mưu lược được…

Ước nguyện cuối cùng của một viên tướng bại trận tha hương là được đưa tro cốt về cùng đất mẹ. Mùa hè năm 2008, bà Nguyễn Tường Nhung cùng những đứa con của mình đã làm theo di nguyện ấy, đưa tro cốt chồng, cha của mình về Việt Nam.

Xem thêm : Trung tướng Ngô Quang Trưởng – tướng tài chọn nhầm thời cuộc

2. Tư lệnh Vùng 2 – Thiếu tướng Phạm Văn Phú (1928 – 1975):

Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Thiếu tướng Phạm Văn Phú

Thiếu tướng Phạm Văn Phú từ lâu là một viên tướng được Thiệu ưa thích. Phạm Văn Phú (1928 – 1975) nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần vào thời điểm Quân đội Quốc gia còn là thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp.

Ra trường, ông gia nhập vào Binh chủng Nhảy dù, về sau ông chuyển sang Chỉ huy Binh chủng Lực lượng Đặc biệt và Bộ binh cấp Sư đoàn. Sau cùng ông là Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn và Vùng chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong năm tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Ông đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất ở Đông Dương. Bị bắt Ở Điện Biên Phủ với quân Pháp, ông ta bị giam trong trại tù binh của Việt Minh. Ở đây, theo nhận xét của cộng tác viên của ông ta, ông ta bị yếu đi và mất vẻ bình tĩnh (bị ho lao). Những năm sau, ông ta làm việc bên cạnh Thiệu, cùng với Thiệu tiến lên trong quân đội Sài Gòn do người Pháp huấn luyện và được người Mỹ bảo trợ. Trở thành tổng thống, Thiệu giao cho người bạn cũ những nhiệm vụ quan trọng trước khi bổ nhiệm ông ta làm làm tư lệnh Quân khu II, thay Nguyễn Văn Toàn vào mùa Thu 1974.

Phú tự nhiên thấy mình chưa xứng đáng để nhận chức vụ ấy. Ông ta không phải là cán bộ tham mưu. Được đi huấn luyện bay, được đi tập trận ngắn ngày thì thấy dễ chịu hơn là phải ngồi nghiên cứu tính toán kế hoạch chiến lược. Những người biết ông ta từ lâu nói rằng ông ta có một nhược điểm lớn là rất sợ phải chiến đấu tại chỗ và bị địch bắt…” Nhận định trên có thể lý giải phần nào lý do ông tự sát bằng thuốc độc vào ngày 29/4/1975.

Đầu tháng 3/1975, chiến dịch Tây Nguyên của Quân Giải phóng nổ ra. Tướng Phạm Văn Phú đã có những phán đoán sai lầm, góp phần khiến tính hình chiến sự ngày càng xấu đi, làm suy sụp tinh thần và đánh tan gần như hoàn toàn lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Cao nguyên Trung phần.

Ngày 16 tháng 3, theo chỉ thị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc họp khẩn cấp ngày 14 tháng 3 tại Thị xã Cam Ranh, ông được chỉ thị tổ chức và chỉ huy cuộc triệt thoái toàn bộ Quân đoàn II và Quân khu 2 về Tuy Hòa để tái phối trí (Bộ tư lệnh Quân đoàn đặt ở Nha Trang). Cuộc triệt thoái này đã hoàn toàn thất bại, làm rối loạn và thiệt hại lớn cho Quân đoàn II và Quân khu 2. Sau đó ông bị triệu tập về Sài Gòn nhưng vì lâm bệnh nặng nên không thể trình diện Tổng thống Thiệu được.

Đầu tháng 4, ông phải vào điều trị tại Tổng y viện Cộng hòa.Đến sáng ngày 29 tháng 4 tại tư dinh số 19 đường Gia Long, Sài Gòn. Sau khi nhờ Đại úy Đỗ Đắc Tân (sĩ quan tùy viên) đưa phu nhân và các con ông lên phi trường Tân Sơn Nhứt để di tản ra khỏi Việt Nam, ông đã tự sát bằng một liều Choloroquine cực mạnh. Trung úy Mạnh (sĩ quan an ninh) biết được sự việc liền báo ngay cho phu nhân chưa kịp lên đường, quay trở lại đưa ông vào bệnh viện Grall cấp cứu nhưng vô vọng vì đã uống quá nhiều thuốc. Ông bị hôn mê đến 11 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, tỉnh lại thều thào hỏi phu nhân về hiện tình chiến cuộc ra sao. Sau khi được biết Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông súng đầu hàng và quân giải phóng đã vào tới Sài Gòn, nghe xong ông nhắm mắt từ trần, hưởng dương 47 tuổi.

Có thể nói việc tham mưu để Thiệu quyết định rút bỏ cao nguyên trung phần dẫn đến sự sụp đổ theo hiệu ứng Domino có một phần trách nhiệm của tướng Phú.

3. Tư lệnh vùng 3 – Trung tướng Nguyễn Văn Toàn (1932 – 2005)

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn
Trung tướng Nguyễn Văn Toàn

Quế tướng công, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân đoàn 2 VNCH 1972. Cùng với Trung tướng Hoàng Xuân Lãm – Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH, Ông được coi là vị chỉ huy kém cỏi nhưng nổi tiếng hám gái và tham nhũng.Nguyên là một tướng lĩnh gốc Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng.

Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia. Ra trường, được chọn phục vụ Binh chủng Kỵ binh, nên sau này ông được xem là một vị tướng xuất thân từ Thiết giáp. Có một thời gian ông chuyển sang Bộ binh, chỉ huy một Sư đoàn đóng ở vùng có nhiều rừng cây Quế, ông đã lợi dụng chức vụ, độc quyền thu gom và đầu cơ loại đặc sản này để tư lợi cho bản thân và gia đình. Do đó nên ông được gắn cho cái tên đầy mỉa mai là “Quế tướng công”.

Khi còn là Tư lệnh sư đoàn 2 bộ binh, Ông từng bị tố cáo hiếp dâm một phụ nữ làm việc trong sư đoàn, nhưng thay vì bị xử lý, ông lại được Tổng thống Thiệu cất nhắc lên vị trí cao hơn là Tư lệnh Quân đoàn.

Tướng Toàn cũng đc cho là người gây ra cái chết của Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu – Tư lệnh phó Quân đoàn 3, vì tướng Hiếu nổi tiếng là người liêm khiết và chống tham nhũng mạnh mẽ.

Trong sự kiện 30/4/1975, tướng Toàn trực tiếp chỉ thị cho Chuẩn tướng Trần Quang Khôi – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Thiết kỵ tử thủ Biên Hòa, nhưng Ông lại nhanh chóng leo lên trực thăng đào tẩu khỏi Việt Nam. Tướng Khôi mặc dù đc tướng Toàn điều trực thăng tới đón nhưng ông từ chối di tản, ở lại chiến đấu cùng anh em binh sĩ cho đến khi nhận lệnh đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. (Chuẩn tướng Trần Quang Khôi nổi tiếng là vị chỉ huy dũng mãnh, tài năng. Ông từng chỉ huy quân đội hành quân mật tập kích Sư đoàn 5 QGPMN tại Đức Huệ 1974, gây tổn thất lớn cho QGPMN với hơn 1000 binh sĩ bị tử trận. Buộc sư đoàn 5 QGPMN phải vội vàng rút khỏi Đức Huế mà không kịp tiêu hủy vũ khí hạng nặng).

Ngoài ra, chuẩn tướng Lý Tóng Bá thường hay ca thán về các viên thượng cấp của mình, những kẻ từng “ngồi chơi xơi nước” và chú tâm vào chuyện ăn chơi nhảy múa, mặc cho những viên chỉ huy như ông ta phải “xông pha” nơi hòn tên mũi đạn. Lý Tòng Bá kể rằng, khi đang là Tư lệnh Sư đoàn 23 thuộc Quân đoàn 3, Bá được Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Văn Toàn (cùng là sĩ quan gốc binh chủng thiết giáp) mời đến nhà riêng để bàn việc sử dụng xe thiết giáp ở những vùng nghi là có Quân giải phóng. Biết tướng Toàn vốn nổi tiếng ăn chơi và có tính hay quên, nhưng Lý Tòng Bá vẫn quyết định đến gặp viên thượng cấp của mình. Quả nhiên, Bá đến vào lúc Toàn đang ăn chơi nhậu nhẹt tại tư dinh cùng các cô gái trẻ. Một tên lính đã ra ngăn Bá lại.

Sau khi nghe Bá trình bày lý do bàn chuyện công vụ, tên lính liền vào gọi chủ tướng của mình. Lúc ấy, Toàn bước ra với một dáng vẻ mệt mỏi, mặt thì đỏ gay vì rượu. Chìa tay ra chào, “ậm ừ” những gì thuộc cấp thưa bẩm rồi Toàn thản nhiên gieo mình xuống ghế, làm một giấc ngon lành ngay trước mặt khách. Hôm đó, Lý Tòng Bá đành lủi thủi ra về mà chẳng dám hé răng điều tiếng về cách cư xử của viên “tể tướng Cao nguyên”… Lý Tòng Bá còn “ấn tượng” với cấp trên của mình ở một dịp khác, khi một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 23 của Bá bị Quân giải phóng đánh thiệt hại nặng và phải bỏ chạy.

Biết tính viên Tư lệnh “chúa tể”, Bá đã vội xuống chỉ đạo đám đàn em đưa ngay một tiểu đoàn khác thay thế. Quả nhiên, vài chục phút sau, Nguyễn Văn Toàn đã đáp trực thăng xuống và xẵng giọng với Bá: “Phải bắn bỏ bọn chỉ huy đã để lính đào nhiệm và đưa ngay đám lính bỏ chạy lên máy bay, ném chúng xuống địa điểm cũ, nếu cần thì dùng pháo bắn chặn phía sau”. Nói rồi Toàn bật dậy, đích thân ra lệnh cho các khẩu “vua chiến trường” gầm lên, bắn chặn phía sau cái tiểu đoàn vừa mới được Bá ra lệnh thay thế…

Chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông dùng trực thăng di tản ra Đệ Thất Hạm đội đang đậu ở ngoài khơi Vũng Tàu. Sau đó, ông được sang định cư ở Tp Los Algeles, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Tư lệnh vùng 4 – Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (1927 – 1975)

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam

Nguyễn Khoa Nam (1927 – 1975) nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do quân đội cộng hòa Pháp mở ra ở Nam phần với danh nghĩa Chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Ra trường, ông gia nhập vào đơn vị Nhảy dù phục vụ cho quân đội cộng hòa Pháp trong chiến tranh Đông Dương và đã phục vụ trong Binh chủng này một thời gian dài, tuần tự giữ những chức vụ từ Trung đội trưởng đến Phó Tư lệnh Sư đoàn.

Đầu năm 1970, ông chuyển nhiệm vụ sang Bộ binh và giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn. Sau cùng ông đảm trách chức vụ Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn và Vùng chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra, ông là một trong 5 sĩ quan cấp tướng của Việt Nam Cộng hòa thủ tiết theo thành.

Thời trẻ, Nguyễn Khoa Nam yêu một cô gái bên sông Hàn và được tình yêu đáp lại, hình bóng người mỹ nữ ấy đã xuất hiện thường xuyên trong các bức tranh của ông ta. Thế nhưng, người con gái ấy đã phải gạt bỏ tình yêu, theo gia đình định cư bên Pháp và lấy chồng bên ấy. Trái tim người nghệ sĩ đa cảm Nguyễn Khoa Nam như bị bóp nát và nó làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của chàng trai xứ Huế.

Người nghệ sĩ thất tình đã quyết định vứt bỏ toàn bộ giá vẽ, chấm dứt cuộc đời nghệ thuật và ôm lòng oán hận đối với “phái đẹp”. Trong suốt cuộc đời còn lại của Nguyễn Khoa Nam, người ta không thấy ông ta yêu thêm người con gái nào khác. Thời ấy có cái “mốt” là khi thất tình người ta hay vào quân ngũ. Nguyễn Khoa Nam cũng vậy.

Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam và Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đều đã “tự sát” chết tại bộ tư lệnh vùng ở Cần Thơ. Viên chuẩn tướng Lê Văn Hưng đã tự sát chết trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp vào tối 30/4/1975. Chính Nguyễn Khoa Nam đã đến viếng Lê Văn Hưng và an ủi vợ con ông ta vào tối hôm ấy. Còn chuyện Nguyễn Khoa Nam “tự sát”, hầu như không có ai chứng kiến. Ngoài nguồn tin của BBC được dẫn từ một người lính nào đó ở Cần Thơ, chuyện “Nguyễn Khoa Nam tự sát” sau này được kể lại trong hồi ký của tay trung úy Lê Văn Danh, một trong những thuộc cấp của Nguyễn Khoa Nam có mặt bên “chủ tướng” vào đêm 30/4/1975.

Lê Văn Danh đã viết rất tốt về “chủ tướng” của mình, đặc biệt là tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát.

Hồi ký của viên trung úy Lê Văn Danh nào đó, không ai có thể kiểm chứng. Nhưng trong hồi ký của Lê Văn Danh có những đoạn “hư cấu” mà sau này, ta có thể kiểm chứng được. Đó là chuyện Lê Văn Danh viết, vào tối 30/4/1975, phía quân Giải phóng có cử một đoàn “cán bộ cùng nhân dân” vào thuyết phục Nguyễn Khoa Nam buông súng; Nguyễn Khoa Nam đã tiếp đoàn “thuyết khách” rất lịch sự, có cả pha trà mời khách, xong tiễn họ ra về mà không chấp nhận lời yêu cầu “đầu hàng”.

Thực tế thì, theo những cán bộ được giao theo dõi hoạt động của bộ tư lệnh Vùng 4 lúc ấy, phía cách mạng có giao cho một phụ nữ hoạt động hợp pháp tìm cách tiếp cận, thuyết phục Nguyễn Khoa Nam đầu hàng. Bà tên là Phan Thị Báu, lúc ấy đã có chồng và 2 con nhỏ, hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Sau khi nhận chỉ thị của Khu ủy “Phải thuyết phục cho bằng được Nguyễn Khoa Nam đầu hàng. Nếu không được thì tiêu diệt”, bà Báu đã viết lá thư thuyết phục Nguyễn Khoa Nam, nhờ nội tuyến chuyển đến thư ký riêng cho ông ta.

Khi hay tin do nội tuyến truyền ra là Nguyễn Khoa Nam đã đọc và xé bức thư trên, bà Báu liền chuẩn bị kế hoạch đột nhập vào Bộ Tư lệnh để thực thi nhiệm vụ. Hình dung đó là việc vô cùng nguy hiểm nên trước khi đi, bà đã viết “lá thư thuyệt mệnh” để lại cho chồng con, phòng khi bà bị Nguyễn Khoa Nam sát hại. Bức thư viết: “…Mình ơi! Sau trận này tôi có bề nào, mình đừng buồn, vui lòng ở lại gánh vác thêm nhiệm vụ cho tôi và tập hợp các con về, mình cố gắng nuôi dạy cho con khôn lớn nghe mình. Các con ơi, bây giờ đã ba giờ sáng, mẹ ra khỏi phòng bí mật, mẹ tiếp tục chiến đấu với kẻ thù…”.

Sáng sớm 1/5/1975, khi bà Báu đột nhập được vào bộ tư lệnh vùng, thì có người báo là Nguyễn Khoa Nam đã tự sát. Bà đã chứng kiến trong phòng làm việc của viên tư lệnh đó, một người mặc quân phục cấp tướng, trên túi có tên Nguyễn Khoa Nam, đang ngồi chết ở bàn làm việc, tay còn cầm súng, đầu bị đạn bắn… Sau đó xác chết được đưa đi chôn ở “nghĩa trang quân đội” TP Cần Thơ.

Bà Báu nhớ lại, bà thấy tên người chết trên túi ghi Nguyễn Khoa Nam thì tin đó là tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam, chứ có đúng ông ta không thì lúc đó không ai để ý.

Sẽ chẳng ai thèm thắc mắc về vụ “tự sát” của Nguyễn Khoa Nam, nếu không xảy ra chuyện sau đây. Nguyễn Khoa Nam có ngôi nhà riêng ở Cần Thơ. Trong nhà, ông có nuôi con chó Nhật rất khôn. Sau ngày giải phóng, ngôi nhà ấy do cháu của Nguyễn Khoa Nam ở. Đến kỳ “giỗ” Nguyễn Khoa Nam lần thứ 3 (năm 1978), những người đến dự đám giỗ chứng kiến cảnh lạ: Có một ông lão ăn mày râu tóc dài thượt, mặt mũi che kín, áo quần rách rưới, tay chống gậy đi ngang trước cửa nhà. Con chó Nhật thấy người ăn mày đã lao ra cửa. Mọi người còn đang lo lắng sợ con chó cắn người ăn mày thì thật lạ kỳ, con chó lại ngoắc đuôi mừng rỡ, chồm lên liếm tay người ăn mày. Ông lão ăn mày đã bỏ đi thật nhanh, không giống với bộ dạng chậm chạp lúc ông ta đi đến. Lúc đó không ai nghĩ tới khả năng lão ăn mày đó chính là Nguyễn Khoa Nam (vì ông ta đã “tự sát” chết rồi), nhưng mọi người vẫn thắc mắc bàn tán về chuyện “con chó mừng người lạ”. Câu chuyện lạ nói trên mọi người rồi cũng quên.

Cho đến khoảng 5 – 6 năm sau, khi những Việt kiều đầu tiên ở Australia được phép về Cần Thơ thăm quê nhà, có một người tên Phong kể câu chuyện lạ: Một lần đi siêu thị ở Sydney, ông Phong thấy một người đàn ông rất giống viên tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam ngày trước (lúc đó Nguyễn Khoa Nam có lần đến trường ông Phong đang học để nói chuyện, nên ông biết mặt). Dẫu có nghe Nguyễn Khoa Nam đã “tự sát”, nhưng ông Phong cũng hỏi đại: “Ông có phải là Nguyễn Khoa Nam?”. Người đó chỉ lắc đầu rồi bỏ đi, không một tiếng trả lời. Câu chuyện đó từng xôn xao trong dư luận TP Cần Thơ một thời gian. Sau đó mấy người cháu của Nguyễn Khoa Nam đã bốc cốt ông ta và hỏa táng, đem tro gửi vào chùa ở TP.HCM.

‎Tác giả : Kiệt Lặc Gia Trang – 2020 tổng hợp.