VIỆT SỬ GIAI THOẠI

Người kể chuyện Sử

Mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, uyên nguyên 4.000 năm lịch sử

Chia sẻ với bạn bè :

Khi bài viết này lên (và bài rất dài), cũng là lúc Tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc đang nằm ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tôi viết bài này, không phải để kể cho các bạn ngày đó giờ đó ta đuổi quân Thanh, hay ngày đó giờ đó Hưng Đạo Vương đuổi giặc Nguyên Mông. Những chuyện ấy sách đã nói đủ.

Bài viết này là để các bạn có một lượng kiến thức hệ thống từ lịch sử đi đến hiện đại, về gã hàng xóm béo mập của chúng ta. Qua đó để nhận thức rõ tình hình hôm nay, rằng Tàu Hải Dương địa chất 8 hôm nay hay HD981 cách đây 5 năm, cũng sẽ phải quy về cùng một bản chất, về lẽ sống còn của dân tộc Việt với nền văn minh Trung Hoa vĩ đại này. Vâng, tuy rằng đáng ghét nhưng vĩ đại.

Nền Văn Minh Trung Hoa

Văn minh Trung Hoa? Bạn nghĩ gì về nó? Văn minh Trung Hoa, cùng với Ai Cập, Babylon, Hy Lạp…hay những kỳ bí ở Nam Mỹ xa xôi, chính là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất, là cái nôi của văn minh nhân loại. Nhưng, văn minh Trung Hoa hơn các nền văn minh kia ở một điểm cực kỳ đặc biệt: văn minh Trung Hoa là nền văn minh cổ xưa duy nhất không bị ngắt quãng trên thế giới. Lưu ý “Không hề ngắt quãng”.

Từ thuở ban sơ, khi chữ viết được sáng tạo và xuất hiện thì cùng với lửa, chữ viết đã trở thành một trong hai phát minh quan trọng nhất lịch sử loài người. Chữ viết chính là sứ giả chở văn hóa, văn minh, và di truyền lại cho hậu thế. Hơn 5000 năm trở về trước, đã có 4 loại chữ của loài người được xuất hiện, đó là chữ Sumer cổ tượng hình của những người Babylon, gắn liền với nền văn minh Lưỡng Hà, cái nôi của Iran, Iraq hôm nay.

Thứ hai là chữ Ai Cập cổ của người Ai Cập, với những ký hiệu cổ tượng hình mà ta bắt gặp trong các tấm phù điêu.

Thứ ba là chữ Ấn Độ cổ của người Ấn Độ, gắn liền với văn hóa Harappa, một thành thị giàu có được mệnh danh là “Mahattan của thời đại đồng thau”.

Và cuối cùng, chính là chữ Hán của người Trung Quốc.

3000 năm sau khi chữ Sumer cổ tượng hình được xuất hiện, chúng bị thay thế và biến mất, chỉ còn trên những tấm đất sét được khai quật. Năm 525 TCN , Ba Tư chinh phục AI Cập và sau đó tiêu diệt văn hóa, lịch sử, tôn giáo lẫn chữ viết của quốc gia này. Chữ Ấn Độ cổ hay chữ viết con dấu biến mất cùng lúc với đô thị Harappa, đến này vẫn chưa hề được dịch ra, trở thành bí ẩn lớn nhất của nhân loại. Chỉ có duy nhất chữ Hán của người Trung Quốc vẫn tồn tại suốt hơn 5000 năm qua, và được các thế hệ sau trau dồi, làm đẹp hơn, và gọn gàng hơn.

Từ những hình vẽ đầu tiên trên vách đá, đi dần đến chữ Hán đơn sơ trên Giáp cốt văn, kim văn, rồi Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất 6 nước thì yêu cầu Lý Tư cho ra tiểu triện, rồi đến Lệ thư thời Hán, sau là Khải thư. Lần cuối cùng chữ Hán được giản lược lại là năm 1986. Lịch sử phát triển của chữ Hán diễn ra không ngừng ở mọi tầng lớp của người dân, tất cả đều đi theo nguyên tắc: giản lược hóa.

Vì những ý nghĩa thâm tàng qua các ký hiệu mà nghệ thuật thư pháp cũng hình thành. Sự tồn tại của chữ Hán cổ chính là thứ vũ khí quyết định cho nền văn minh chưa bao giờ ngắt quãng của đất nước Trung Hoa. Kẻ sau đọc được văn thư của người đi trước, biết rõ người đi trước. Nghìn năm sau vẫn hiểu được kẻ tiền nhân kia nói gì.

Lịch sử trở thành mạch máu chảy trong 5000 năm dân tộc Trung Hoa. Vào năm 1962, khi quân đội Trung Quốc và Ấn Độ đang mắc kẹt trong thế trận tranh chấp giữa hai nước bên đỉnh Himalaya. Mao Trạch Đông đã viện dẫn câu chuyện 1.300 năm trước vào giai đoạn nhà Đường, Trung Quốc đã từng cử binh đến Ấn Độ để chống lại một kẻ nổi loạn.

Sau khi TQ can thiệp, hòa bình lập lại, bang giao hai nước tốt đẹp trong nhiều thế kỷ. Năm 2013, trong một bài phát biểu ở tỉnh Hà Bắc, Chủ tịch Tập Cận Bình nói: “Đảng ta được sự ủng hộ to lớn, rộng rãi nhất của đông đảo quần chúng nhân dân Trung Quốc. Hiện không có một lực lượng chính trị nào ở Trung Quốc có thể thay thế được ĐCSTQ, nhưng nếu không giải quyết tốt vấn đề tác phong của đảng thì thời khắc thảm kịch Bá Vương biệt Cơ sẽ đến với chúng ta!”

Việt Nam chúng ta đến giờ lịch sử vẫn nằm trong khung kính, với người hàn lâm thì tầm chương trích cú, với học sinh thì học thuộc lòng, với giáo dục thì đó là môn học, với điện ảnh thì tránh né, với báo chí thì hời hợt, với người lớn thì nhớ nhớ quên quên. Nhưng nền văn minh của Trung Quốc với sự liên tục, đơn nhất và lâu dài đã được tồn tại chính nhờ lịch sử xuyên suốt, lấy bài học của các triều đại đi trước để thành một pho từ điển sống “đối nhân xử thế” trong các đổi thay của xã hội, trở thành một trong những lý do cho sự tồn tại và giàu mạnh của quốc gia này.

Chính vì sự đơn nhất đó mà lịch sử hình thành và phát triển của Trung Quốc rất rõ ràng. Các di chỉ khảo cổ về người nguyên thủy của họ cũng là nhiều nhất thế giới. Từ hơn 2 triệu năm về trước, những người cổ đại đầu tiên đã xuất hiện trên lãnh thổ Trung Quốc. Sau đó là các câu chuyện về Hoàng Đế, Viêm Đế (bạn lưu ý cái tên này lại) – những người kết nối các bộ lạc bên 2 con sông Hoàng Hà và Trường Giang để bước đầu hình thành nên nền văn minh Hoa Hạ.

Rồi đến những Nghiêu, Thuấn, Vũ, và sự hình thành của ba triều đại Hạ, Thương, Chu – những nhà nước đầu tiên của Trung Quốc vào khoảng năm 2070 TCN. Sau đó là thời Xuân Thu – Chiến Quốc, rồi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, rồi Hán Sở tranh hùng, Tam Quốc diễn nghĩa…sau đó là Tống, Nguyên, Minh, Thanh mà ta đã biết rõ.

Các phát minh cũng là những sự kế thừa và dạy dỗ lại cho nhau, thời Chiến Quốc tìm ra la bàn, thời Hán tìm ra giấy, thời Đường phát minh ra thuốc súng, mực in và được thời Tống phát triển lên một nấc thang mới. Có nghĩa rằng, với sự phong phú trong di chỉ, trong tài liệu, trong văn hóa, trong phát minh, cùng sự đồng nhất kế thừa, giản lược trong chữ viết. Người Trung Hoa đã luôn rõ ràng về nguồn gốc, xuất xứ, và rất độc lập.

Việt Nam chúng ta đến giờ lịch sử vẫn nằm trong khung kính

Vậy còn Việt Nam thì sao? Việt Nam rất hỗn độn trong giai đoạn thuở hồng hoang đó. Đến tận bây giờ chúng ta vẫn còn tranh luận về “2000 năm hay 4000 năm”, “Vua Hùng thọ bao nhiêu tuổi”, “Thục Phán là người dân tộc nào?” hay “Triệu Đà là tổ hay là giặc?” Đó là những câu hỏi mà tôi sẽ cố gắng lần mở một cách gợi hỏi hôm nay. Không phải khẳng định, mà để tư duy và để phát triển.

Đầu tiên, hãy đi tìm từ trong huyền sử. Có một điều mà chúng ta đã được dạy, và nhà nước đã công nhận đó là về truyền thuyết Âu Cơ – Lạc Long Quân, thủy tổ của dân tộc Việt. Chúng ta nghe về mẹ Âu Cơ sinh được 100 con, 50 xuống biển, 50 lên non (gốc gác của từ “đồng bào”).

Vậy thì Âu Cơ là ai? Lạc Long Quân là ai? Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, bà Âu Cơ là con của Đế Lai. Vậy Kinh Dương Vương là ai? Đế Lai là ai? Kinh Dương Vương là con của Đế Minh, còn Đế Lai là con của Đế Nghi. Đế Minh là ai? Đế Nghi là ai? Đế Minh là cha của Đế Nghi và là cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông bên Trung Quốc (các bạn lăn chuột lên trên, và đọc thấy tôi đã lưu ý các bạn về cái tên Viêm Đế). Đế Nghi là anh của Kinh Dương Vương, cùng là con của Đế Minh. Từ cái phả hệ đó mà suy ra được 2 điểm:

– Âu Cơ phải gọi Lạc Long Quân bằng chú xưng cháu.

– Thủy tổ của người Việt có mối quan hệ uyên nguyên trong gốc gác với “Tam Hoàng” của Trung Quốc, mà cụ thể đó là Viêm Đế, tức Thần Nông.

Trong huyền sử có chép câu sau “cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương.” Lưu ý mấy chữ “tuần du phương Nam”, rõ ràng bên ngoài là huyền sử, nhưng bên trong có thể là vấn đề di cư, di dân, và điểm di cư đó chính là Hồ Động Đình, phía nam của con sông Trường Giang, nơi được coi thủy tổ của người Việt.

Tuy nhiên gần đây, lại xuất hiện thông tin về một nghiên cứu gen của GS Nguyễn Thanh Liêm đó là “Đã giải mã được bộ gen người Việt, gốc gác từ châu Phi và độc lập với người Hán”. Trong khi huyền sử nói rõ chúng ta di cư từ phía sông Dương Tử, không phải từ Châu Phi.

Vậy nên hiểu sao cho đúng đây? Thực tế cả nhân loại, chứ không phải mỗi Việt Nam đều đi từ Châu Phi cách đây 2,5 triệu năm. Khoảng 2 triệu năm trước, một số người cổ đại đã rời bỏ quê hương Đông Phi để bắt đầu cuộc di cư của mình và chọn Bắc Phi, Châu Âu, và Châu Á để định cư. Con người ở Châu Âu và Tây Á tiến hóa thành Homo Neanderthalensis.

Một nhóm khác đi về phía Đông Á là Homo Erectus. Và trên đảo Java ở Indonesia thì có Homo soloensis. Tuy nhiên cuối cùng vì nhiều lý do trong vấn đề tiến hóa, đột biến di truyền, mà chỉ còn Sapiens tồn tại, rồi chủng loại này đi khắp thế giới, và nói như Noah Harari – thiên tài nghiên cứu lịch sử người Do Thái trong cuốn “Lược sử loài người” thì ”Homo sapiens chinh phục toàn cầu”.

Tất cả chúng ta đều thuộc về Homo sapiens – loài sapiens (tinh khôn) của chi Homo (người). 45.000 năm về trước, khi Sapiens sống ở quần đảo Indonesia, họ trở thành cộng đồng chuyên đi biển đầu tiên. Những con thuyền giữa biển đưa họ đi khắp Thái Bình Dương, và đi đến Việt Nam. Phần nào lý giải cho việc gen của người Việt Nam giống với gen của người Thái Lan, Indonesia.

Thế còn huyền sử và mối quan hệ với Trung Quốc? Sapiens ở Đông Á, mà cụ thể là tại Trung Quốc ở hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử đã vượt trội hơn hẳn những bầy Sapiens khác. Bên con sông Hoàng Hà, họ thiết lập một dân tộc riêng, văn minh hơn và có lẽ ngạo mạn hơn, gọi là dân tộc Hán. Họ đẩy những người không thích ứng kịp về phía Nam con sông Dương Tử.

Và gặp cả những người Sapiens khác đi từ Indonesia ngược trở lên. Những bộ lạc nhỏ lẻ, những văn minh nhỏ lẻ, những chủng tộc nhỏ lẻ, họ là dân tộc Việt. Sự vượt trội của văn minh Hoa Hạ đến từ cuộc cách mạng nông nghiệp, sự thuần hóa thiên nhiên, rồi từ đó sinh ra chữ viết, định hình nên gốc gác xuất xứ rõ ràng của người Trung Hoa.

Người Việt đã không được may mắn như vậy, nhưng sức sống của người Việt lại mạnh mẽ nhất. Cả nhân loại có cùng một gốc Đông Phi cả, nhưng địa lý và thiên nhiên đã dần dần thay đổi chủng tộc, màu da, tính cách, hình thể của con người.

Bây giờ rời khoa học để quay lại về những câu chuyện huyền sử.

Từ sông Trường Giang (tức Dương Tử) trở lên Bắc, gọi là nước Xích Thần do Đế Nghi quản. Từ hồ Động Đình trở về Nam, gọi là nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương quản. Lấy núi Ngũ Lĩnh làm ranh giới. Sử chép: “Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải….”Nước Xích Quỷ rộng lớn với hơn 2.900.000km2 đó có hơn 100 bộ lạc lớn nhỏ, họ chính là Bách Việt. Huyền sử chúng ta có câu chuyện “Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng trăm con.” Phải chăng cũng là Bách Việt? Trong những bộ lạc của Bách Việt ấy có Lạc Việt, với người được coi là con của Âu Cơ – Lạc Long Quân: Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu Văn Lang.

Đến đây, chúng ta rời khỏi huyền sử, cởi ra tấm áo khoác kỳ bí của những truyền thuyết và câu chuyện của Âu Cơ, Lạc Long Quân, Tam Hoàng, Ngũ Đế. Ta có thể tư duy và mường tượng ra một giả thiết với hình thể cơ bản như sau: bên cạnh các nền văn minh Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Quốc đã ra đời, và là cái nôi đầu tiên của vùng Đông Á. Bắt đầu từ hai con sông Trường Giang và Hoàng Hà, mà đặc biệt là Hoàng Hà.

Đó là trung tâm của người Trung Hoa, với văn minh Hoa Hạ. Nhưng phía Nam của sông Trường Giang xa xôi hơn đã có một nhóm người khác di cư đến sinh sống bên hồ Động Đình, gọi là tộc Việt. Những người Việt đây có truyền thuyết riêng, văn minh riêng, dẫu không được rực rỡ như Trung Nguyên, nhưng cũng có bản sắc của riêng họ, và theo cách nào đó, họ tạo nên câu chuyện liên quan đến con cháu Thần Nông để “hợp thức hóa” cho sự tồn tại song hành cùng người Hán, tạo nên cột mốc 4000 năm tính từ thuở ban sơ của các dân tộc Việt lần đầu xuất hiện.

Họ tạo nên câu chuyện về Âu Cơ – Lạc Long Quân để nói về các mối liên chi của các bộ lạc Việt chống lại sự xâm lăng của nền văn minh Hoa Hạ như hổ đói. Khi Trung Nguyên hùng mạnh lên, tính cách bành trướng bắt đầu phát triển, dân số tăng cao, họ cũng đi dần xuống Nam, và họ gặp người Việt ở nơi đó. Cuộc chiến xảy ra, những người Việt thất thế dần, nước Sở – quốc gia nắm hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam cũng bị sáp nhập vào Trung Nguyên sau khi để thua Tần Thủy Hoàng và nước Tần trong cuộc chiến 6 nước. Cả một vùng lãnh thổ rộng lớn Xích Quỷ của người Bách Việt thuở hồng hoang dần dần mất về tay người Hán hoặc bị đồng hóa về tay người Hán.

Chỉ có hai dân tộc duy nhất thoát khỏi vòng kiềm hãm đó, hai dân tộc Việt duy nhất không bị Hán hóa, hai dân tộc Việt vỗ ngực xưng tên với bản sắc của riêng mình. Mặc dù đã bị đuổi khỏi phía Nam sông Dương Tử, nhưng có một con sông khác đã ôm lấy họ, bảo vệ những người Việt xa xưa đó và từ đó họ xây dựng một nền văn minh cho riêng mình. Tên con sông ấy chính là sông Hồng. Quốc gia ấy sống kiêu hãnh và lập nên một nhà nước của riêng mình. Quốc gia đó tồn tại suốt hàng ngàn năm bên cạnh nền văn minh có tính chất đồng hóa khủng khiếp đó. Quốc gia đó vừa chiến đấu anh hùng, vừa xây dựng, vừa hấp thu văn minh, lại vừa giữ gìn văn hóa của riêng họ. Quốc gia đó chính là Việt Nam.

Hai dân tộc Việt thoát khỏi sự bành trướng của người Hán trong cuộc chiến ngày đó, một là Âu Việt – tổ tiên của người Tày – Nùng, hai là Lạc Việt là tổ tiên của người Kinh (Kinh kì đất cũ, để phân biệt với người Thượng khi chạy đến nơi ở mới). Một ngày, tại Âu Việt nổi bật lên một nhân vật kiệt xuất với tham vọng lớn cho sự hình thành một quốc gia. Người này đã tấn công Lạc Việt của vua Hùng. Sáp nhập hai tộc Việt lại với nhau, lấy từ “Lạc” trong “Lạc Việt”, lấy từ “Âu” trong “Âu Việt”, đặt tên nước là Âu Lạc.

Ông chính là Thục Phán An Dương Vương. Thục Phán xây dựng Cổ Loa Thành. Rùa vàng, gà trắng là những linh vật có ý nghĩa biểu tượng trong dân tộc Tày, đều xuất hiện trong các câu chuyện xây Cổ Loa. Những người con gái Tày khi đi nương để lại dấu cho chàng trai cũng đánh dấu chỉ đường, bằng cách rắc lông ngỗng bứt ra từ chiếc áo trên mình. “Mỵ Châu” là “Mẻ Châu” trong tiếng dân tộc nghĩa là “Bà chúa lớn”. Đó là những bằng chứng về gốc gác của An Dương Vương.

Tuy nhiên, vào giai đoạn đấy, bên phương Bắc có biến động lớn, đó là sự sụp đổ của nhà Tần vào năm 210 TCN. Nhân cơ hội đó, một vị huyện lệnh tại Long Xuyên, Quảng Đông có tên là Triệu Đà bắt đầu mưu nghiệp lớn khi được kế vị vị trí cai trị quận Nam Hải. Ông quyết định độc lập với Trung Nguyên, giết hết những quan lại nhà Tần, đưa gót ngựa tới bên bờ Sông Hồng, đánh bại An Dương Vương và sáp nhập Âu Lạc vào trong Nam Hải, rồi mở rộng sang phía quận Quế Lâm, tạo nên một vùng đất rộng lớn bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây và vùng Bắc Bộ Việt Nam ngày nay.

Triệu Đà chính thức lập nên nhà nước Nam Việt, lấy Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) làm kinh đô, xưng là Nam Việt Vũ Vương. Vậy là, một quốc gia của người Việt đã được xuất hiện trở lại, nhưng lần này căng thẳng hơn và cũng nhiều điều phải lo toan hơn.

Nam Việt không chỉ có người Việt, mà còn có người Trung Nguyên, bản thân Triệu Đà cũng là người Hán nhưng ông đi theo văn hóa Việt và trọng dụng người Việt, trong đó có thừa tướng Lữ Gia – người Thanh Hóa. Chuyện về Lữ Gia là người thừa tướng già đã chống lại nhà Hán trong những năm cuối đời để bảo vệ nền độc lập của Nam Việt không bị nội thuộc vào Trung Quốc. “Lữ Gia chống Hán lưu sử tích; Lịch sử ngàn xương mãi khắc ghi”.

Vậy trường hợp Triệu Đà nên đánh giá thế nào cho thật hợp lý? Cho đến bây giờ vẫn đi giữa 2 luồng. Với một bên xem Triệu Đà là tổ nước ta, trong đó có sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên, chép lại trong Toàn Thư như sau: “Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy…” Hay trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi có câu “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.” Hoặc trong lời trăn trối của Hưng Đạo Vương với vua Trần Anh Tông: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời.”

Tuy nhiên, trong dòng chảy phong kiến đó thì Ngô Thì Sĩ đã phản đối Triệu Đà trong “Việt Sử Tiêu Án” như sau: “Nước ta bị ngoại thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến đời Đường, truy nguyên thủ họa cho Triệu Đà thì còn ai nữa?… Đến việc xướng ra cơ nghiệp Đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi… Qua hàng ngàn năm mà không ai cải chính lại, vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.” Và đến những năm 1960 thì các sử gia quyết định gạch tên Triệu Đà và tính chính thống của Nam Việt ra khỏi sử nước ta.

Tôi đã từng có dịp trao đổi với cố giáo sư Phan Huy Lê quanh câu chuyện này. Được giáo sư trả lời như sau: “Nếu như Âu Lạc của An Dương Vương là một kinh đô thành quách thật sự, và Cổ Loa đã được dựng đô tại Đông Anh, thì hành động của Triệu Đà là hành động xâm lược vào một nước độc lập. Và quả thực khi khai quật về Cổ Loa đã cho thấy đây là một nhà nước đúng nghĩa của An Dương Vương.

Từ đó mà nói, nếu ở góc nhìn này đánh giá Triệu Đà là giặc cũng không sai.” Tuy nhiên giáo sư cũng nhấn mạnh rằng sự tồn tại của Triệu Đà song song với sự tồn tại của triều đình nhà Hán hùng mạnh. Đối mặt với điều đó, Triệu Đà đã thực hiện một chính sách ngoại giao mà sau này các đời Đinh, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn của Việt Nam đều học tập và làm theo trong mối bang giao với Trung Quốc: “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương).

Có nghĩa là độc lập và hùng cứ hai phương, nhưng ngoại giao thì khôn khéo ẩn mình. Đó chính là bài học ngoại giao đầu tiên của nước ta với Trung Hoa. Triệu Đà đã để lại cho người Việt một bài học lớn, bài học đầu đời về sự tồn tại cạnh nền văn minh Trung Hoa, và tư tưởng độc lập của người Việt với người Hán .Tóm lại, vấn đề Triệu Đà là thuộc về vấn đề chính trị trong từng thời kỳ. Và bạn, sẽ có một góc nhìn cá nhân cho riêng nhân vật này. Còn tôi, chắc nhiều người cũng đã biết rõ về quan điểm.

Có lẽ đến đây những câu hỏi tôi đặt ra ở đầu bài, thì các bạn đã được lần giở một cách đầy đủ, những hỗn mang của thời kỳ hồng hoang phần nào được giải đáp. Nhưng dẫu sao chăng nữa, trong sự tìm hiểu hạn hẹp của bản thân, cũng với lối tư duy theo kiểu logic của một kỹ sư xây dựng chứ không phải của một nhà nghiên cứu, nên tôi luôn có góc nhìn khác so với thông thường. Do đó, tôi sẽ không dám tự nhận mình đúng toàn bộ. Nhưng đây sẽ là một điều tốt để cho các bạn tập vén màn lịch sử và tập đi tìm hiểu. Hôm nay. đất nước ta còn có người Mường, người Tày, người Mông, người Hoa, người Khơ Me….

Một quá trình dài tạo nên hai chữ “Đồng bào”. Do đó phải hiểu lịch sử, hiểu sự di cư, hiểu nước Việt hình thành còn từ các dân tộc khác không chỉ có người Kinh. Còn nếu như người Kinh có sự tương đồng với người Hán, thì khủng khiếp lắm hay sao? Người Nhật Bản nhận mình là con cháu thái dương thần nữ, nhưng họ cũng nói rõ trước khi băng tan, lục địa còn dính liền nhau, có khi tổ tiên người Nhật lại là người Trung Quốc di cư. Và còn đó là những người Siberi, các tộc người ở những đảo khác tạo nên người Nhật hôm nay. Tâm lý của Việt Nam không muốn giống Tàu, thì lại càng giống Tàu lai căng. Càng trưng ra những thứ lố bịch, lại càng cho thấy ta khiếp nhược. Càng nói điều giả dối và dạy những tư liệu hỗn mang, càng cho thấy chúng ta lo sợ những cái không đáng.

4000 năm, người Việt là người Việt, và người Hán là người Hán. Chúng ta có sự kiêu hãnh của chúng ta.

(Hết phần 1)

Hẹn các bạn phần 2 của bài viết. Tôi sẽ không chỉ nói lịch sử, tôi còn nói về con người, về tính cách, về nền văn minh Trung Hoa để biết họ vĩ đại, và ta nên học hỏi ra sao. Từ đó mà có trách nhiệm đúng đắn, cách hành xử đúng đắn khi đứng cạnh Trung Hoa. Đứng cạnh nước giàu thứ 2 thế giới thì không thể nghèo được, nhưng đứng cạnh đất nước 1000 năm luôn nhòm ngó mảnh đất phương Nam này, thì cũng không thể không đề phòng được đâu.

PHẦN 2: Trong 1000 năm đó, đã có những sự kiện uyên nguyên gì giữa hai nước?

Trong phần 1 của bài viết, chúng ta đã kết thúc bằng cách lý giải về sự hình thành của nước Việt thuở hồng hoang, và kết thúc bằng câu chuyện liên quan đến Triệu Đà. Vậy thì 1000 năm Bắc Thuộc trong lịch sử mà ta đang chép nên hiểu thế nào cho đúng đây? Và trong 1000 năm đó, đã có những sự kiện uyên nguyên gì giữa hai nước? Lý do tại sao chúng ta vẫn có thể đứng dậy vươn vai thành một quốc gia riêng? Bài viết hôm nay sẽ trả lời cho câu hỏi đó.

Cho đến tận bây giờ, chúng ta đã được đóng đinh trong sử sách về giai đoạn 1000 năm Bắc Thuộc. Thời đại này bắt đầu từ lúc Triệu Đà mất nước hay từ lúc Triệu Đà lấy được Âu Lạc, thì tùy vào góc nhìn cho nhân vật Triệu Đà chính thống hay không chính thống (tôi cũng đã nói rất rõ ở phần 1). Còn vấn đề “Bắc thuộc 1000 năm” thì coi như đã thành một “tiền đề” trong các tài liệu Sử học Việt Nam. Tuy nhiên cũng có một vài ý kiến lẻ tẻ đưa ra, liệu có thật tồn tại cái gọi là 1000 năm Bắc Thuộc hay không? Tôi cũng xin nói rõ chỗ này ra để anh em rộng đường dư luận. Một trong những người ủng hộ cho thuyết “Không tồn tại cái gọi là 1000 năm Bắc Thuộc” chính là thiền sư Lê Mạnh Thát với loạt bài “những phát hiện lịch sử gây chấn động” được đăng cách đây 11 năm trên báo Thanh Niên. Trong loạt bài ấy, dựa trên nền tảng là cuốn “Lục Độ Tập Kinh”, thiền sư Lê Mạnh Thát đã đưa ra các minh chứng để đề nghị loại bỏ hai triều đại An Dương Vương và Triệu Đà ra khỏi lịch sử. Cụ thể: “Triều đại An Dương Vương là không có thật”. “Không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương (vì làm gì có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm”. Thậm chí ông xác định thời đại Hùng Vương tồn tại cho đến năm 43” và rằng: “Nhà Hán “đoạt khống” đất đai nước ta. Không có cái gọi là thời kỳ “Bắc thuộc lần thứ nhất”. Phải loại phần đó ra khỏi lịch sử”…Bạn hoàn toàn có thể tìm đọc lại loạt bài này chỉ bằng một động tác google. Nhưng trước đó, bạn cứ đọc xong bài của tôi rồi lội ngược vấn đề kia sau.

Ngược lại, nếu chiếu theo ý của nhiều người khác, thì việc cứ nói và viết liên tục về “1000 năm Bắc Thuộc” lại chẳng khác gì đi khoe cái thân phận nô lệ của dân tộc trong lịch sử cả, là viết theo bọn sử gia phương Bắc?

Vậy hiểu thế nào cho đúng? Tài liệu mà Thiền sư Lê Mạnh Thát sử dụng là một bộ kinh, còn các sử gia lại sử dụng là một bộ sách. Chúng ta không nên theo kiểu vì tôi đọc cuốn này, anh đọc cuốn kia mà phủ nhận nhau một cách sạch trơn. Khi mà lịch sử vốn đã mang trong mình nó rất nhiều nghĩa vụ liên quan đến chính trị, và luôn vận động theo góc nhìn của thời đại. Tuyệt đối tránh ở vào tình cảnh“anh và tôi đứng hai đầu nhìn vào một con số, tôi thấy số 6, còn anh thấy số 9”. Quan điểm của tôi thì luôn đi một con đường ở giữa, với sự khẳng định có sự tồn tại của An Dương Vương, của Triệu Đà như đã nói ở phần 1. Và khẳng định có sự tồn tại của cái gọi là “Bắc thuộc lần thứ nhất”. Nhưng “Bắc thuộc” thế nào, đó lại là một vấn đề mà trước nay chúng ta chưa hề đi sâu. Để giải đáp điều này, tôi xin đi lớp lang:

Có lẽ tất cả các bạn đều biết về một giai đoạn được gọi là Xuân Thu – Chiến Quốc ở bên Trung Hoa. Một thời đại không chỉ là cuộc chiến của các nước, mà thời đại đó còn được miêu tả là “Bách gia tranh minh”, tức văn hóa thức tỉnh và trăm nhà đua tiếng. Cụm từ “Bách gia chư tử” được hình thành nói về những tư tưởng triết học thời cổ đại của Trung Quốc sinh ra trong giai đoạn ấy, đó chính là Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia, Binh gia và Tạp gia, đã góp phần tạo nên hệ tư tưởng cho cả nền văn minh Trung Hoa. Những nhà tư tưởng đó có lẽ chúng ta đều đã biết, đấy là Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi, Trang Tử, Trâu Diễn, Huệ Thi và Tôn Vũ. Sự vĩ đại và ảnh hưởng của họ còn đến tận hôm nay, và được tôn thờ ở nhiều nơi. Chẳng hạn Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội có tượng thờ Khổng Tử tại Điện Đại Thành.

Điều tôi muốn nói với bạn ở đây vẫn là liên quan đến sợi chỉ đỏ của loạt bài này: uyên nguyên 4000 năm Trung Quốc – Việt Nam. Tôi nói cái giai đoạn “Bách gia tranh minh” ấy là để đặt câu hỏi: lúc ấy Việt Nam đang ở đâu? Thời đại “Bách gia chư tử” đó được diễn ra từ những năm 600 TCN đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN (Ví dụ Khổng Tử sinh năm 551 TCN và mất năm 479 TCN). Có nghĩa, khi Khổng Tử lập nên Nho Gia, thì nước Việt ta vẫn đang trong thời đại Vua Hùng và nước Văn Lang. Câu hỏi tiếp theo: Vậy thời đại Vua Hùng ấy chúng ta có hệ tư tưởng triết học lớn nào? Có “Bách gia tranh minh” nhà nhà đua tiếng hay không? Hay những gì chúng ta có trong tay chỉ là câu chuyện “Sự tích Bánh Chưng Bánh Giày”, hoặc “Sơn Tinh Thủy Tinh” với “Hùng Vương thứ 18 có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu..” Hãy nhìn vào sự thật trần trụi rằng, khi mà Trung Nguyên đang “tranh minh”, thì phía Nam vẫn đang “tranh tối tranh sáng”. Xin lỗi những người giàu tính dân tộc, thực tế là trước và sau thế kỷ V TCN đó thì chỉ có nền chính trị dân chủ của thành bang Hy Lạp cổ đại mới sản sinh ra được những bậc thầy tư tưởng ngang với thời Xuân Thu – Chiến Quốc mà thôi. Các nhà sử học trên thế giới đều nhận định rằng, những triết gia phương Đông như Khổng Tử, Hàn Phi Tử…cùng với những triết gia Phương Tây như Socrates, Platon, Aristotle…đã cùng nhau “Lập nên những tấm bia lớn sừng sững cho nền văn minh nhân loại.” (Ở đây, tôi không nhắc đến Ấn Độ, Ba Tư hay Ả Rập).

Vậy thì, đứng cạnh một nền văn minh vĩ đại và phát triển như thế, trong khi Việt Nam ta đang trong thuở hồng hoang, thì liệu ta có thể thoát nổi móng vuốt khổng lồ ấy? Câu trả lời là không thể ! Không phải tư liệu, không phải dã sử hay chính sử. Việc này liên quan đến tính logic trong sự phát triển của loài người. Bạn còn nhớ lời cảnh báo của thiên tài vật lý Stephen Hawking về việc nhân loại cứ thích đi tìm người ngoài hành tinh chứ?

Stephen Hawking đã nói thế này:“Hãy ngừng việc tiếp cận người ngoài hành tinh lại trước khi quá muộn. Nếu họ yếu hơn chúng ta, họ sẽ tránh mặt. Nhưng nếu họ mạnh hơn chúng ta, thì họ xem chúng ta chẳng hơn gì lũ vi khuẩn.” Hawking tin rằng, nếu người ngoài hành tinh ghé thăm Trái Đất ta thì kết quả cũng giống như khi Columbus đặt chân lên châu Mỹ, người Trái Đất sẽ thành nô lệ của người ngoài hành tinh. Vâng ! Đến đây có lẽ bạn đã hiểu ra tính logic của vấn đề. Để sang bên những trang sách, những luận điểm kiểu sử gia, chỉ có tính khả dĩ đúng là ở lại. Việt Nam thời kỳ hồng hoang đó cũng như người dân da đỏ sống tại Châu Mỹ, còn người Trung Nguyên để mắt đến phương Nam thì giống thực dân phương Tây với vũ khí và nền văn minh vượt trội bước vào. Và vì có sự chênh lệch về văn minh đó (đã được chứng minh trong lịch sử), nên việc Bắc Thuộc lần thứ nhất là điều chắc chắn phải xảy ra. Vấn đề chỉ là ở mức độ nào mà thôi. Khủng khiếp như miêu tả? Hay là thực tế vẫn dễ chịu hơn nhiều. Đây chính là điều quan trọng nhất của bài viết, cần hiểu thế nào cho đúng về 1000 năm Bắc Thuộc ấy:

Có 4 điểm tôi lưu ý ở đây:

  1. Vị trí địa lý của Việt Nam cách quá xa Trung Nguyên. Vào thời điểm cách đây 2500-3000 năm thì chính quyền trung ương Trung Quốc chưa vươn tay đến Việt Nam theo kiểu xâm lược, vì Trung Nguyên giai đoạn ấy phải đối diện với bao nhiêu lo toan.
  2. Suy nghĩ của người Trung Quốc là suy nghĩ “thiên hạ”. Thiên hạ ở đây là gì? Là người. Ở đâu có người, thì ở đó là đất của Hoàng đế Trung Quốc hết. Và vì thế họ có thói quen nhận vơ các vùng đất chưa từng đặt chân tới. Họ vẽ bản đồ với họ là trung tâm. Đừng nói Việt Nam, các sứ thần La Mã đến tận nơi còn phải nghe câu “đất đai trong thiên hạ đều là của hoàng đế”.
  3. Trong một số tài liệu như Hậu Hán Thư thì miêu tả vùng đất của chúng ta man di, mọi rợ, giọng điệu rất coi thường không coi đó là một quốc gia. Nếu không coi là quốc gia, thì làm gì có cái gọi là “Bắc thuộc”.
  4. Vào năm 1407, khi nhà Hồ thất bại và nước ta rơi vào tay nhà Minh, thì nhà Minh đã đốt hết sách vở của chúng ta. Tài liệu mà Ngô Sĩ Liên sử dụng để viết “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” tham khảo rất nhiều từ tài liệu bên Trung Quốc. Và “Toàn thư” đến hôm nay dẫu cho bị đánh giá là khá nhiều sai sót. Đương nhiên đây vẫn là bộ “Quốc sử” giá trị nhất, đáng để tham khảo đầu tiên của người đọc sử.

Và cuối cùng, đó là câu chuyện liên quan đến những “chính khách” thời kỳ này. Hôm nay, tôi xin kể cho các bạn nghe về họ qua các tài liệu sử học mà tôi tìm được. Mong sao hậu thế đời sau đọc lại, rút tỉa ra những bài học, và không bị đóng đinh rằng giai đoạn đó ai cũng là Tô Định, Mã Viện…, mà còn có những Lữ Gia, Sĩ Nhiếp, Tích Quang và Nhâm Diên.

Lữ Gia:

Tên của ông không lạ với… người đi đường. Bởi lẽ đó là cái tên được đặt cho những cung đường trung tâm ở Thành phố Hồ Chí Minh hay thành phố Đà Lạt. Thậm chí ở Thành phố Hồ Chí Minh còn có Cư xá Lữ Gia, trường THCS Lữ Gia. Nhưng Lữ Gia là vị thừa tướng ba đời của vương quốc Nam Việt, một vương quốc do Triệu Đà lập ra, và vẫn còn tranh cãi trong giới Sử Học về tính chính thống của vương quốc này. Vậy vì sao lại có sự đồng nhất đến như thế về con người của Lữ Gia? Thứ nhất là bởi ở nhân phẩm của ông, người đã cố gắng mọi cách cho đến tận khi chết để ngăn chặn việc quốc gia bị sát nhập vào đế quốc Hán. Theo như “Sử Ký” chép lại thì: “Ông được lòng người hơn Quốc Vương.” Thứ hai bởi vì ông cũng là người con đất Việt, ông sinh ra ở một huyện thuộc quận Cửu Chân, thuộc vùng Thanh-Nghệ ngày nay.

Năm 113 TCN, sau khi Triệu Minh Vương băng hà, nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quý qua Nam Việt dụ vua mới là Triệu Ai Vương và Cù Thái Hậu qua chầu. Vốn Thái Hậu là người Hàm Đan. Xưa kia từng tư thông với sứ giả An Quốc Thiếu Quý. Giờ hai bên gặp lại nhau, lại tiếp tục tư thông. Sự dâm loạn khiến dân trong nước đều biết cả. Cù Thái Hậu thấy thế làm sợ, mới cùng sứ giả An Quốc Thiếu Quý dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng Nam Việt cho nhà Hán. Hành động bán nước ấy khiến thừa tướng Lữ Gia tức giận, có ý chống lại. Cù Thái Hậu và Triệu Ai Vương mới tổ chức tiệc rượu, định hại chết Lữ Gia nhưng bất thành. Lữ Gia về nhà, cáo ốm, âm thầm tổ chức lực lượng.

Lúc này, ở bên Trung Quốc thì Hán Vũ Đế đã nhận được tin từ Nam Việt. Hán Vũ Đế cho quân kéo qua Nam Việt. Lữ Gia liền hành động trước. Đầu tiên ông phó cáo cho thiên hạ về tội lỗi của Thái Hậu, sau đó đem quân giết cả Triệu Ai Vương, Cù Thái Hậu, lẫn sứ giả An Quốc Thiếu Quý. Tiếp đó, ông đưa Triệu Kiến Đức là con trai của Triệu Minh Vương, với mẹ là người Việt lên ngôi vua, xưng là Triệu Dương Vương. Dẹp xong nội loạn, Lữ Gia tiến ra Phiên Ngung diệt ngoại xâm. Tướng Hán là Hàn Thiên Thu theo lệnh của Hán Vũ Đế vào Nam Việt. Lữ Gia dàn quân và chém được Hàn Thiên Thu.

Hán Vũ Đế nghe tin Thiên Thu bị giết, tức giận mới sai một kiện tướng là Lộ Bác Đức qua đánh. Lộ Bác Đức dùng hỏa công, khiến Lữ Gia thua trận phải chạy ra ngoài biển. Lộ Bác Đức dụ những hàng tướng, rồi cho họ đi bắt và giết Lữ Gia. Vị thừa tướng già nua của nước Nam Việt chết đi, nhưng tinh thần bất khuất của ông trở thành tấm gương cho lớp hậu thế đời sau trong các cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi trước giặc phương Bắc.
“Lữ Gia chống Hán lưu sử tích; Lịch sử ngàn xương mãi khắc ghi”.

Tích Quang và Nhâm Diên:

Hai vị thái thú này đều là người Trung Quốc. Tích Quang là người Hán Trung, làm thái thú quận Giao Chỉ (khu vực Bắc Bộ ngày này). Thời gian cai trị bắt đầu từ giai đoạn Hán Bình Đế bên Trung Quốc, tức là từ năm thứ 1. Về sau Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Tích Quang không phục, đóng biên ải chống cự. Cũng theo đó mà những sĩ phu trung thành nhà Hán chống Vương Mãng cũng theo xuống Giao Chỉ, góp phần truyền bá văn minh Trung Hoa lên vùng đất này. Còn Diên Quang là người huyện Uyển, Nam Dương, làm thái thú quận Cửu Chân (khu vực Thanh-Nghệ-Tĩnh ngày này) vào thời Hán Quang Vũ Đế, đầu niên hiệu Kiến Vũ bên Trung Quốc. Theo một số tài liệu còn để lại thì giai đoạn ông làm thái thú quận Cửu Chân chỉ kéo dài 4 năm từ khoảng năm 29 đến năm 33.

Tích Quang dạy dỗ dân di, phổ biến ngôn ngữ, và một phần kỹ thuật canh tác Trung Hoa ở vùng Giao Chỉ. Trong khi Nhâm Diên theo như Hậu Hán Thư chép lại thì “dạy dân khai khẩn”, ngoài ra còn sắp xếp lại các phong tục theo đúng lễ nghĩa, được nhân dân Cửu Chân quý trọng. Các đạo Khổng, Mạnh du nhập vào Việt Nam cũng bắt đầu từ những vị thái thú này, và có thể còn là những kiến trúc Việt-Hán. Hậu Hán Thư nhận định về họ bằng những dòng: “Phong tục Hoa Hạ nằm ở Lĩnh Nam, đều bắt đầu từ hai viên quận thú này vậy.”

Có thể nói rằng, nếu như Lữ Gia để lại bài học về một tấm gương chống giặc ngoại xâm còn lưu truyền, thì Tích Quang – thái thú quận Giao Chỉ, và Nhâm Diên – thái thú quận Cửu Chân được ghi nhận là những người “dạy dân lễ nghĩa.” Ở đây, việc nhắc đến những thái thú như Tích Quang hay Nhâm Diên trong trầm tích lịch sử của giai đoạn 1000 năm Bắc Thuộc này cũng chính là một cách để hiểu lịch sử trong giai đoạn này. Hậu thế đời sau ít khi được nghe Tích Quang hay Nhâm Diên, nhưng đọc về họ, nghiên cứu về họ cũng là một cách nắm được mối quan hệ uyên nguyên giữa Việt Nam và Trung Quốc. Qua đó có các đối sách phù hợp với Trung Quốc trong thời đại toàn cầu hóa ngày hôm nay.

Sĩ Nhiếp:

Nếu như Lữ Gia là người Việt, Tích Quang, Nhâm Diên là người Hán, thì Sĩ Nhiếp là người Việt gốc Hán. Gia tộc ông trung thành với nhà Hán nên sau khi Vương Mãng tiếm quyền, đã chạy xuống phương Nam. Đến đời của Sĩ Nhiếp là đời thứ 6 sinh sống tại Việt Nam. Sĩ Nhiếp được cha cho đi du học ở kinh sư, rồi đậu hiếu liêm. Sau đó được bổ làm Thượng thư lang, vì việc công bị bãi chức. Sau khi hết tang cha, lại được xét cử Mậu tài, phong làm Vu lệnh, cuối cùng là làm thái thú quận Giao Chỉ trong giai đoạn phức tạp mà cũng nổi tiếng đặc sắc nhất của Trung Hoa: thời đại Tam Quốc. Chuyện về ông được chép trong Tam Quốc Chí của Trần Thọ. Trong Ngô Thư quyển về ‘Lưu Do, Thái Sử Từ, Sĩ Nhiếp” có lời đánh giá về ông: “Nhiếp khí lượng khoan hậu, khiêm tốn với kẻ sĩ, sĩ nhân Trung Quốc đến lánh nạn có đến hàng trăm.” Thư của Viên Huy gửi đến Tuân Úc thì có đoạn: “Sĩ phủ quân ở quận Giao Chỉ đã uyên bác về học vấn, lại thấu hiểu việc chính trị, ở giữa thời đại loạn, giữ vẹn một quận, hơn hai mươi năm bờ cõi vô sự, dân không mất nghiệp, bọn khách trọ ở đó, đều được nhờ mông ân che chở, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây, sao đã hơn được?”

Dẫu thiên hạ tang loạn, nhưng Sĩ Nhiếp vẫn biết cách trị vì yên ổn. Ở nơi xa vạn dặm, uy quyền tôn quý không ai hơn được. Ngoài ra, ông cũng tỏ rõ là một chính khách biết thời thế, nhờ ngoại giao khéo léo nên rất được Tôn Quyền – người đứng đầu nước Ngô thời Tam Quốc phân tranh, liên tục ân sủng. Hậu thế chỉ biết được tài của vị chính khách thời Bắc Thuộc này nếu nhìn vào sự bình yên của Giao Chỉ so với sự đẫm máu cảnh hàng triệu người chết, mất nhà cửa của thời kỳ Tam Quốc phân tranh. Sử gia đời sau như Ngô Sĩ Liên cực kỳ tôn sùng ông. Sĩ Nhiếp quản quận hơn bốn chục năm, năm 226 thì mất, thọ 90 tuổi. Con của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy tiếc rằng lại không giữ được bình yên cho Giao Chỉ. Bởi thiếu sự khéo léo, gây ra một trường đầu rơi máu chảy. Sau này Giao Chỉ rối loạn, Bà Triệu khởi nghĩa đánh quân Ngô, cũng chỉ bởi cái tang loạn đó mà ra cả.

//

Từ những câu chuyện về các vị chính khách trên, cũng như từ 4 điểm lập luận mà tôi chỉ ra về vấn đề Trung Nguyên nhìn về phương Nam, thì tôi xin kết luận như sau: 1000 năm Bắc Thuộc là có nhưng không phải ở quy mô lớn, thực tế “1000 năm Bắc thuộc” nhưng thuộc mà không thuộc. 1000 năm Bắc Thuộc có nhưng không có gì phải xấu hổ để tránh né, phủ nhận. Bởi vì 1000 năm Bắc Thuộc đó không phải là “nô lệ giặc Tàu” như câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà chính là một chặng đường “chuyển tiếp” cần có để sinh ra một nước Việt Nam. Đấy là thời điểm mà bản thân dân tộc Việt cũng hấp thụ được những tinh hoa về kỹ nghệ, văn hóa, chữ viết, tôn giáo từ một trong những cái nôi văn minh nhân loại, qua đó từ từ hình thành một nhà nước ưu việt hơn những Văn Lang, Âu Lạc trước đó, sinh ra một lớp trí thức anh hùng mới không quên nòi giống Việt để đứng ra độc lập tự chủ với phương Bắc. Và bước ngoặt đến khi một vị anh hùng xuất hiện mà như Phan Bội Châu đã gọi “Tổ trung hưng của dân tộc”, đó là Tiền Ngô Vương Ngô Quyền, với chiến thắng trên sông Bạch Đằng, ngài chấm dứt hoàn toàn cụm từ “Bắc Thuộc lần thứ nhất”.

Tại sao tôi có thể khẳng định “Bắc Thuộc lần thứ nhất” là có, nhưng không nặng về tính nô lệ như “Bắc thuộc thời Minh” hay suy nghĩ “xâm lăng”. Và càng khác hẳn cái cách “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn” mà ta đang đóng đinh sẽ như vậy? Vấn đề là hoàn cảnh của thời đại. Thời kỳ Bắc Thuộc 1000 năm, vốn dĩ ở vào một giai đoạn hồng hoang sương khói, nước Việt Nam ta thời điểm ấy mang tính bộ lạc cao hơn tính nhà nước. Suy nghĩ của phương Bắc về phương Nam thuần túy là vấn đề di dân, khai khẩn là chủ yếu, các thái thú đến cai trị giống như một ông vua con để mở rộng lãnh thổ của hoàng đế. Trong khi đó, ở lần Bắc Thuộc mà giặc Minh xâm lược nước ta, thì Đại Việt ta đã là một đất nước hoàn chỉnh, anh hùng, đẹp đẽ, với nền văn minh cơ bản và triều đình đâu ra đó. Đại Việt ta đã có trong tay Binh Thư Yếu Lược, Đại Việt Sử Ký , đã có Hình Thư, Hình Luật, đã có tấm gương Hưng Đạo Vương 3 lần đuổi quân Nguyên Mông, đã có Lý Thường Kiệt vả lệch mõm quân Tống xâm lược, đã có Lê Đại Hành đánh đông dẹp bắc. Cho nên suy nghĩ của phương Bắc với lần xâm lăng này sẽ khác. Đẩy mạnh về đồng hóa, mạnh về tiêu diệt, mạnh về diệt chủng. 20 năm mà giặc Minh xâm lược, tội ác chất chồng. Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô Đại Cáo” với những ngôn từ đầy căm phẫn “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.” Nhưng ở phía ngược lại, “Chiếu dời đô”của Lý Thái Tổ lại có câu “Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi…” Cao Vương mà Lý Thái Tổ nhắc đến trong Chiếu Dời Đô chính là Cao Biền – tiết độ sứ nhà Đường cai quản ở Việt Nam. Thái độ của người Việt với người Hán ở 2 giai đoạn này rõ ràng là hoàn toàn khác nhau. Tức vấn đề “Bắc Thuộc” khác nhau rất nhiều về tính chất.

Tuy nhiên cũng xin nói rõ, tôi vốn là kỹ sư xây dựng nên không có được nhiều tài liệu nghiên cứu, lại thiên về tính logic của quy luật phát triển chứ không chuyên trích câu cú. Bởi vậy thật sự không dám nhận mình đúng toàn bộ. Chỉ mong bài viết này giúp cho các bạn thêm nhiều kiến thức, tìm tòi nghiên cứu, và qua đó đi tới chân lý, có được nhiều bài học cho thế giới toàn cầu hóa hôm nay.

Đi đến phần cuối của bài viết:

Một trong những lý do mà nhiều người đã cố gắng giải đáp và cũng đã nói nhiều lần, “1000 năm mà nước Việt vẫn tách ra được khỏi Trung Nguyên”. Có lẽ đọc phần trên các bạn đã hiểu được nhiều rồi. Vấn đề “hòa nhập mà không hòa tan”, “hấp thụ văn minh và truyền bá ngược lại văn hóa Việt” (thực tế chúng ta đã có ý thức dân tộc từ trước khi phương Bắc vào). Cũng như hoàn cảnh chuyển tiếp văn minh chứ không phải ở hoàn cảnh “Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Đó chính là điều quan trọng nhất. Ngoài ra còn một vũ khí đặc biệt đó chính là việc cha ông ta giữ được tiếng nói của người Việt. Trong thư của vua Tống dụ Lê Hoàn có một câu rất đáng chú ý sau: “dân khanh nói líu lo như chim”. Thực tế dù bị ép học chữ Hán, nhưng ta đã đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, và qua đó giữ được tiếng nói của dân tộc trong giai đoạn bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán. Cũng trong hơn 1000 năm ấy, người Việt chưa bao giờ quên đi tổ tiên của mình. Bên trong lũy tre làng vẫn kể cho nhau nghe về ngày đầu của người Việt, bên ngoài vẫn giữ được phong tục nhai trầu. Và những con người như Bà Trưng, Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Lý Nam Đế…đều không quên nhắc nhở con em một ngày phải biết đứng dậy lấy lại đất nước cho người Việt khi điều kiện đủ chín muồi. Mọi thứ cuối cũng đã đến, khi tầng lớp tinh hoa sinh ra, và dòng họ Khúc đặt nền móng với cuộc “binh biến nhung”, rồi Ngô Quyền chiến thắng trên sông Bạch Đằng, và Đinh Bộ Lĩnh thống nhất Sông Hồng về một mối, để nước Việt xuất hiện trở lại, kiêu hãnh hơn, ưu việt hơn, và bền vững hơn cho đến ngày hôm nay.

Từ đó mà nói:

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Tác Giả : Dũng Phan.

Bài Gốc : Link


Xin mời Đăng nhập để bình luận
  Nhận thông báo  
Thông báo
Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VIỆT SỬ MEDIA.