Mưu sự tại Nhân nhưng thành sự tại Thiên và câu chuyện cục diện thiên hạ thay đổi vì ý Trời

Chia sẻ với bạn bè :

Trong quá khứ, rất nhiều lần chỉ một trận gió lớn cũng có thể thay đổi toàn bộ cục diện chính trị, đưa tiến trình lịch sử rẽ sang trang. Mưu sự tại Nhân nhưng thành sự tại Thiên và câu chuyện cục diện thiên hạ thay đổi vì ý Trời

Tháng 12 năm Kiến An thứ 13, trong trận chiến giữa liên quân Tôn Quyền – Lưu Bị với 5 vạn quân và đại quân của Tào Tháo với 83 vạn nhân mã, một trận gió đông nam ngay giữa tiết trời rét đậm đã thiêu rụi chiến thuyền của Tào Tháo. Trận quyết chiến vốn không cân sức này đã mang lại thắng lợi cho liên quân Tôn – Lưu, đặt định ra cục diện Tam quốc chia ba thiên hạ sau này. Nhưng sự việc như vậy có phải là trường hợp cá biệt duy nhất hay không?

Một trận gió lớn thay đổi cục diện chính trị đã nhiều lần phát sinh trong lịch sử. Sử sách ghi chép rất nhiều trường hợp như vậy. Chúng ta hãy kể thêm một ví dụ tương tự xảy ra vào năm thứ hai thời nhà Hán, trong trận Hán Sở khi Lưu Bang và Hạng Vũ tranh giành thiên hạ. Trận chiến này diễn ra ở Bành Thành, chính là thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô ngày nay. Bành Thành vốn là đô thành của Hạng Vũ, khi Hạng Vũ đi đánh dẹp các phiến quân khác, Lưu Bang đã thừa cơ dẫn theo liên quân các chư hầu tiến đánh Bành Thành.

Khi đó, quân đội của Lưu Bang tổng cộng là 56 vạn, còn Hạng Vũ chỉ có 3 vạn. Hạng Vũ nghe nói Bành Thành bị tập kích nên đã tập tức rút quân về tác chiến với liên quân của các chư hầu. Chúng ta biết Hạng Vũ đánh trận lợi hại vô cùng, cho đến trước khi tự sát ở Ô Giang ông chưa từng bại trận bao giờ. Chỉ cần Hạng Vũ xuất binh thì nhất định sẽ thắng. Tuy đánh đâu thắng đó, nhưng lực lượng quân đội của Hạng Vũ cũng ngày càng yếu đi, bởi ông ta quá mê tín vào bạo lực – sau này nếu có cơ hội chúng ta sẽ bàn luận thêm về điểm này.

Đó là lần đầu Hạng Vũ tác chiến với Lưu Bang. Mặc dù ông chỉ có 3 vạn quân trong khi Lưu Bang có đến 56 vạn, nhưng ngay trong trận đầu tiên Hạng Vũ đã tiêu diệt mười mấy vạn quân của đối phương, đến trận thứ hai lại triệt hạ thêm mười mấy vạn quân nữa. Về sau, Hạng Vũ liền ép sát đến Bành Thành quyết chiến. Quân đội của Lưu Bang mắt thấy sắp bị tiêu diệt sạch hết rồi, chi viện cũng chẳng thể cứu vãn, nên ai nấy đều run sợ vô cùng. Hạng Vũ anh dũng như vậy, muốn bắt Lưu Bang quả thật dễ như lấy đồ trong lòng bàn tay.

Chính ngay lúc nghìn cân treo sợi tóc này thì bỗng nhiên nổi lên một trận gió lớn mang ý nghĩa quyết định. Sử ký – Hạng Vũ bản kỷ chép:

Vu thị đại phong tòng tây bắc nhi khởi, chiết mộc phát ốc, dương sa thạch, yểu minh trú hối, phùng nghênh sở quân, sở quân đại loạn, phôi tán, nhi hán vương nãi đắc dữ sổ thập kỵ độn khứ“.

Đại ý là, ngay lúc đó một trận gió lớn đột nhiên nổi lên khiến cho trời đất tối sầm, ban ngày giống hệt như ban đêm, đáng lưu ý là trận gió này lại nhắm về phía quân đội của Hạng Vũ mà thổi. Trận gió quá lớn khiến cho binh lính của Hạng Vũ không sao mở mắt được. Thế là, Hán Vương liền dẫn theo mấy mươi binh sĩ thừa cơ tẩu thoát. Lưu Bang trốn thoát được nên mới có thể khai sáng ra 400 năm giang sơn nhà Hán sau này. Nếu khi đó Hạng Vũ tóm gọn được Lưu Bang, lịch sử có thể đã rẽ sang một chiều hướng khác.

Câu chuyện gió lớn thứ ba diễn ra vào cuối triều Nguyên đầu triều Minh. Lịch sử gọi trận chiến này là “đại chiến hồ Phàn Dương” – giữa Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng.

Chu Nguyên Chương. (Ảnh minh họa: wikipedia.org)

Như chúng ta đã biết, vào triều Nguyên người Mông Cổ thống trị thiên hạ. Cuối triều Nguyên rất nhiều nông dân đã đứng lên tạo phản, gọi là thời kỳ “loạn thế anh hùng khởi tứ phương”. Họ biết rất rõ rằng giang sơn của người Mông Cổ đã không được nữa rồi, trong các nhóm tạo phản kẻ nào giành được thắng lợi sau cùng thì kẻ đó chính là hoàng đế tương lai. Vậy nên thay vì giao chiến với quân đội của triều đình, các đội quân tạo phản lại quay sang triệt hạ lẫn nhau. Các nhóm nông dân nổi dậy gồm có: Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, Phương Quốc Trân, Lưu Phúc Thông, Hàn Sơn Đồng, Chu Nguyên Chương, v.v. Trong đó, thế lực lớn nhất chính là Trần Hữu Lượng.

Trần Hữu Lượng lúc bấy giờ đã chiếm giữ được ba tỉnh là Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây. Nơi thống trị của Chu Nguyên Chương là thành phố Nam Kinh của tỉnh Giang Tô hiện nay. Còn nơi thống trị của Trương Sĩ Thành thì ở Tô Châu. Đây là ba nhóm quân nông dân khởi nghĩa lớn nhất. Vào năm thứ 20 niên hiệu Chí Chính triều Nguyên (năm 1360), giữa Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng đã diễn ra một trận chiến. Quân đội của Chu Nguyên Chương kỳ thật rất hạn chế, nhưng nhờ một số mưu kế mà cuối cùng ông đã đánh bại được Trần Hữu Lượng.

Năm 1363, giữa Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng diễn ra một trận quyết chiến tại hồ Bà Dương. Trước trận đại chiến hồ Bà Dương, Trần Hữu Lượng có tướng phòng thủ tên là Hồ Đình Thụy trấn giữ Hồng Đô (ngày nay là thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây). Nhưng khi nhận được tin Hồ Đình Thụy bị Chu Nguyên Chương xách động, Trần Hữu Lượng rất tức giận, giống như quê nhà của mình bị người ta san bằng mất vậy, vậy nên ông ta đã dẫn theo 60 vạn đại quân tấn công Hồng Đô. Chu Nguyên Chương cử cháu ruột của mình là Chu Văn Chính đi trấn giữ thành trì. Hai bên giằng co ở Hồng Đô, 60 vạn đại quân của Trần Hữu Lượng tấn công một tòa thành trơ trọi ròng rã suốt 3 tháng mà vẫn không cách nào đánh hạ được. Tất nhiên Hồng Đô cũng nguy cơ tứ bề, mặc dù lúc này Chu Nguyên Chương đã dốc hết toàn bộ binh lực. Nói là “toàn bộ binh lực”, nhưng chẳng qua chỉ là mười mấy vạn quân sĩ đến cứu viện Nam Xương.

Trần Hữu Lượng hay tin kẻ đối đầu đã đến, bèn tập kết toàn bộ quân đội lại, bỏ qua việc tấn công Hồng Đô mà muốn quyết một trận sống mái với Chu Nguyên Chương. Quân đội của Trần Hữu Lượng từ Nam Xương dọc theo hồ Bà Dương đi về phía bắc, hai bên đã đụng mặt nhau. Con thuyền của Trần Hữu Lượng vừa cao vừa lớn, khiến Chu Nguyên Chương vừa nhìn thấy đã không khỏi giật mình kinh sợ. Quyển đầu tiên trong Minh sử viết: “Trần Hữu Lượng lệnh cho 60 vạn đại quân, liên kết với các thuyền lớn thành mặt trận, tầng lầu cao hơn chục trượng, xếp thành hàng ngang dài tới mười mấy dặm, cờ xí giáo thuẫn từ xa nhìn vào không khác chi ngọn núi”. Thuyền lớn đó của ông ta cao mười mấy trượng, nhìn sừng sững như ngọn núi vậy. Còn thủy quân của Chu Nguyên Chương chỉ gồm một số thuyền nhỏ. Chẳng cần đánh trận, Trần Hữu Lượng chỉ cần dùng thuyền đâm thẳng vào cũng có thể nhấn chìm hết toàn bộ tàu thuyền của Chu Nguyên Chương.

Đây là trận chiến quyết định vận mệnh tương lai giữa Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng: người chiến thắng sẽ được cả thiên hạ, kẻ bại trận sẽ chẳng còn lại gì. Bởi vậy hai người đều đã đem toàn bộ “vốn liếng” đổ vào trận chiến này: Trần Hữu Lượng 60 vạn đại quân, Chu Nguyên Chương mười mấy vạn quân, hơn nữa vũ khí của Chu Nguyên Chương rất yếu thế.

Khi hai bên giao chiến trong ba ngày đầu, Chu Nguyên Chương đã không chiếm được lợi thế. Hơn nữa ngay trong ngày đầu tiên, Chu Nguyên Chương suýt chút nữa chết trong tay một viên dũng tướng của Trần Hữu Lượng tên là Trương Định Biên. Đến ngày thứ ba, Chu Nguyên Chương tổn thất vô cùng to lớn. Đương nhiên phía bên Trần Hữu Lượng cũng thiệt hại không ít quân sĩ, nhưng vấn đề chính là ở chỗ Chu Nguyên Chương đã không còn “vốn liếng” nữa, hàng vạn quân sĩ bị thương, quân sĩ chết trận thì lên đến tám nghìn. Đối phương có tới 60 vạn đại quân, trong khi Chu Nguyên Chương chỉ có mười mấy vạn, dù có anh dũng chiến đấu đến quân sĩ cuối cùng thì cũng không thể tiêu diệt hết toàn bộ quân đội của đối phương được. Đến ngày thứ tư, Chu Nguyên Chương sắp không cầm cự thêm được nữa, dưới trướng ông ta có một viên tướng tên Quách Hưng nói với Chu Nguyên Chương rằng: Thực lực của hai bên quả thật chênh lệch quá lớn, khả năng duy nhất giúp chúng ta giành được phần thắng, thiết nghĩ duy chỉ có dùng hỏa công thiêu rụi chiến thuyền của Trần Hữu Lượng mà thôi.

Chu Nguyên Chương nhận thấy chủ ý này rất hay, bèn lập tức chuẩn bị một số thuyền nhỏ, bên trong chất đầy dầu và lau sậy. Nhưng ông cũng gặp phải khó khăn giống như Chu Du vậy, đó là không có gió. Nếu như gió không thổi về phía Trần Hữu Lượng, thì quân Chu Nguyên Chương chỉ có thể liều mạng. Khi đó hai bên đánh nhau rất kịch liệt. Binh lính của Chu Nguyên Chương tiến đánh thuyền của Trần Hữu Lượng giống hệt như leo lên tường thành vậy, gọi là “ngưỡng công”, cách này khá là bất lợi. Trong Minh sử chép rằng “các tướng sắc mặt đều lộ vẻ sợ hãi”, mọi người đều run sợ. Chu Nguyên Chương đích thân cầm bảo kiếm đứng ở đầu thuyền đôn đốc tác chiến, chính tay ông đã giết chết rất nhiều người. Ông ra lệnh cho tướng sĩ của mình xông lên phía trước, phàm những ai rụt rè không chịu tiến lên liền bị giết chết, tổng cộng ông đã giết hơn mười mấy người. Lúc này nếu không có gió thì Chu Nguyên Chương coi như bại trận.

Nhưng cũng chính ngay lúc này, theo ghi chép trong Minh sử là giờ Thân, tức từ 3-5 giờ chiều, đột nhiên gió lớn nổi lên, hơn nữa cơn gió này lại hướng về phía đội quân của Trần Hữu Lượng mà thổi. Chu Nguyên Chương vừa trông thấy liền biết đây là dịp tốt nghìn năm khó gặp, liền thừa gió phóng hỏa. Khi đó, Trần Hữu Lượng đã mắc phải một sai lầm lớn y chang Tào Tháo vậy: ông ta cũng dùng xích sắt nối tất cả các chiến thuyền của mình lại với nhau. Vậy nên chỉ một mồi lửa của Chu Nguyên Chương đã khiến Trần Hữu Lượng tổn thất mười mấy vạn quân. Trong trận chiến này, Chu Nguyên Chương giành được thắng lợi gần như mang tính quyết định.

(Ảnh minh họa: youtube.com)

Tuy Trần Hữu Lượng đã tổn thất mười mấy vạn quân sĩ, nhưng ông ta vẫn còn “vốn liếng”. Buổi tối hôm đó, Trần Hữu Lượng nói với tướng sĩ rằng ta còn một biện pháp có thể giải quyết Chu Nguyên Chương. Ông nói: “Ta chú ý thấy rằng, trong số tất cả chiến thuyền của Chu Nguyên Chương duy chỉ có thuyền chỉ huy của ông ta là cột buồm màu trắng”. Quý vị biết đấy, thuyền chỉ huy thì cần có ký hiệu riêng biệt với những chiếc thuyền còn lại. Trần Hữu Lượng nói rằng Chu Nguyên Chương sẽ ở trên chiếc thuyền có cột buồm màu trắng, vậy nên nếu ngày mai chúng ta không thể tiêu diệt đội quân của Chu Nguyên Chương, thì hãy tập trung tất cả binh lực đi tấn công con thuyền có cột buồm màu trắng đó. Và ông ta đã bố trí xong xuôi đâu vào đấy.

Buổi tối hôm đó Chu Nguyên Chương cũng mở cuộc họp, ông nói: “Ta muốn nói với các ông chuyện này, tối nay nhất định cần phải làm cho xong. Chuyện gì? Tất cả các cột buồm trên thuyền của chúng ta, toàn bộ hãy quét thành màu trắng”.

Ngày hôm sau trong lúc đánh trận, Trần Hữu Lượng vừa trông thấy tất cả các cột buồm bên phía Chu Nguyên chương đều là màu trắng thì không biết đâu mà lần nữa, ý chí chiến đấu của quân đội cũng suy sụp. Trận quyết chiến lần thứ hai này Trần Hữu Lượng lại thất bại. Sau một tháng hai bên giằng co nhau, đội quân của Trần Hữu Lượng cũng hết lương thực. Mặt khác, bởi con người Trần Hữu Lượng vốn bạo ngược, nên binh tướng dưới trướng ông ta cũng lần lượt bỏ trốn. Cuối cùng vì không thể cùng Chu Nguyên Chương giao chiến thêm nữa, Trần Hữu Lượng quyết định đột phá vòng vây. Vậy kết quả sẽ ra sao?

Chúng ta biết hồ Bà Dương trông giống như cái túi vậy, phía nam thì rộng, phía bắc thì hẹp. Chu Nguyên Chương đã cho bố trí thuyền chiến chặn hết toàn bộ lối ra của hồ. Vậy nên khi Trần Hữu Lượng phá vòng vây thì gặp phải phòng tuyến của Chu Nguyên Chương. Trong lúc đánh nhau, một mũi tên lạc đã bắn trúng đầu Trần Hữu Lượng. Nhân vật kiêu hùng một đời đã ra đi như vậy đó. Mũi tên này rốt cuộc là ai bắn? Đó là bí ẩn không ai biết được, trong Minh sử cũng không hề ghi chép.

Trận đại chiến này đã hoàn toàn phá tan tập đoàn quân sự của Trần Hữu Lượng, cũng đặt định nền tảng cho Chu Nguyên Chương trở thành hoàng đế khai quốc triều Minh. Khi đó, nếu trận gió lớn đến muộn hơn một canh giờ, thì e rằng Chu Nguyên Chương cũng không thể cầm cự được thêm nữa.

Nói đến đây, tôi thuận tiện bàn một chút về các cách xưng hô của hoàng đế trong quá khứ. Khi đọc sử sách, ta sẽ thấy cách xưng hô của hoàng đế khá là phức tạp. Quá khứ hoàng đế có ba cách xưng hô: miếu hiệu, thụy hiệu, niên hiệu.

Trước tiên nói về “miếu hiệu”: Rất nhiều hoàng đế sau khi băng hà cần có bài vị đặt trong tông miếu. Trong tông miếu cần đặt cho ông ta một cái tên, tên này chính là miếu hiệu. Miếu hiệu thông thường đều là gì gì đó “Tổ”, gì gì đó “Tông”. Giảng một cách chung chung, vị hoàng đế kiến công thì gọi là Tổ, hoàng đế kiến đức thì gọi là Tông. Chính là ông ta đã lập được công lao rất to lớn cho đất nước này thì sẽ gọi là gì gì đó “Tổ”, ví như Thái Tổ chính là chỉ hoàng đế khai quốc. Thế còn kiến đức sẽ được xưng là Tông. Như vậy hễ khi chúng ta nghe thấy gì gì đó “Tổ”, gì gì đó “Tông”, thì đó là thuộc về miếu hiệu, tức cách xưng hô trong tông miếu.

Một cách xưng hô khác nữa là xưng bằng “thụy hiệu”. Thụy hiệu chính là sau khi hoàng đế băng hà thì cần phải làm tổng kết đối với hành vi của cả một đời ông ta. Kết quả của sự tổng kết này chính là thụy hiệu. Ví như nói Hán Vũ đế, chữ “Vũ” này chính là thụy hiệu, bởi ông ta đã mở mang bờ cõi, giúp cho lãnh thổ của triều Hán được mở rộng rất nhiều, vậy nên gọi là “Vũ đế”. Như vậy xưng hiệu đầy đủ của Hán Vũ đế trên thực tế phải là “Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế”. Thế tông là miếu hiệu của ông ta, Hiếu Vũ là thụy hiệu của ông ta. Xưng hô của hoàng đế trước triều đại nhà Đường thông thường đều gọi bằng thụy hiệu. Phàm là khi mọi người nghe thấy gì gì đó “Đế”, đây chính là thụy hiệu, ví như Hán Vũ đế, Ngụy Vũ đế, Ngụy Văn đế, Tùy Dạng đế, Hán Tuyên đế… toàn bộ chúng đều là thụy hiệu. Còn như mọi người nghe thấy gì gì đó “Tổ”, gì gì đó “Tông”, thì đây chính là thuộc về miếu hiệu.

Đến thời Đường, người ta thường dùng miếu hiệu để gọi tên hoàng đế, ví như nói Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông, Đường Huyền Tông, Tống Thái Tổ, Tống Nhân Tông, v.v.

Còn về “niên hiệu”? Trung Quốc kể từ thời Hán Vũ đế đã bắt đầu lưu lại một truyền thống, chính là mỗi một vị hoàng đế lúc đăng cơ thì cần phải thay đổi niên hiệu. Ông ta cần phải đặt ra một niên hiệu. Niên hiệu đầu tiên của Trung Quốc là Hán Vũ Đế đặt, gọi là Kiến Nguyên. Có hoàng đế có rất nhiều niên hiệu Ví như Đường Huyền tông có hai niên hiệu, một là Khai Nguyên, hai là Thiên Bảo. Đó đều là niên hiệu khác nhau, chính là từ đó mà tính xem ông ta đã làm hoàng đế được bao nhiêu năm.

Trước triều đại Minh, hoàng đế có thể có rất nhiều niên hiệu, nhưng đến giữa sau thời nhà Minh, đặt biệt là triều Thanh, trên cơ bản một hoàng đế chỉ có một niên hiệu. Một khi lên ngôi và chọn niên hiệu thì niên hiệu này không còn thay đổi nữa. Vậy nên nói từ sau triều đại Minh – Thanh, cách xưng hô của hoàng đế thường dùng niên hiệu. Ví như Khang Hy hoàng đế, thì “Khang Hy” là niên hiệu. Chúng ta vẫn thường nghe nói năm đầu thời Khang Hy, năm thứ hai thời Khang Hy, mãi cho đến năm bao nhiêu thời Khang Hy. Như vậy, đến thời Minh – Thanh là dùng niên hiệu để xưng hô hoàng đế.

Trận gió định mệnh đưa Chu Đệ lên ngôi hoàng đế

Câu chuyện xảy ra sau khi Chu Nguyên Chương xưng đế và định đô ở Nam Kinh. Vào năm Hồng Vũ thứ 28, Chu Nguyên Chương đã thỉnh mời một số tăng nhân dạy cho các hoàng tử học tập kinh Phật, trong đó có vị hòa thượng pháp danh là Đạo Diễn, tên tục gia là Diêu Quảng Hiếu. Hoàng tử thứ tư của Chu Nguyên Chương tên là Chu Đệ, khi đó được sắc phong ở Bắc Kinh nên còn gọi là Yên Vương. Khi vừa nhìn thấy Yên Vương, hòa thượng Đạo Diễn đã nhận thấy tướng mạo của vị hoàng tử này không giống như những người bình thường. Trong Minh sử chép là Yên Vương “dung mạo kỳ vĩ với bộ râu đẹp”, hơn nữa ngoại hình lại vô cùng cao lớn khôi ngô. Ông cũng là một viên tướng tài hiếm có của triều Minh, trong mỗi trận đánh đều vô cùng lợi hại.

Hòa thượng Đạo Diễn liền chạy đến trước mặt Yên Vương và nói: Xin ngài hãy cho tôi đi theo ngài, nếu được như vậy tôi sẽ tặng ngài một chiếc mũ trắng. Quyển thứ 16 trong Minh sử kỷ sự bản mạt ghi lại lời Đạo Diễn nói với Yên Vương như sau: “Nếu đại vương cho phép thần được theo hầu, thần sẽ dâng một chiếc mũ trắng cho đại vương đội”. Cái mũ màu trắng tức chữ “bạch” (白), đội lên quân vương tức chữ “vương” (王) sẽ tạo thành chữ “hoàng” (皇). Ý nói rằng, nếu như ngài cho tôi được theo hầu, tôi chắc chắn sẽ giúp ngài trở thành hoàng đế. Chu Đệ hiểu hàm ý đó nên rất sốt sắng, bởi bấy giờ triều đình đã lập thái tử rồi.

Vị thái tử được Chu Nguyên Chương sắc phong đầu tiên chính là người anh cả của Chu Đệ, tên là Chu Tiêu. Con người Chu Tiêu rất nhân hậu. Bản thân Chu Nguyên Chương cũng rõ ràng một điều, đó là có thể giành được thiên hạ trên lưng ngựa, chứ không thể dùng lưng ngựa mà cai trị thiên hạ được. Vậy nên Chu Nguyên Chương đã chọn ra những vị Nho sinh xuất sắc nhất lúc bấy giờ để dạy đạo lý “trị quốc bằng lòng nhân ái” cho Chu Tiêu, vậy nên con người Chu Tiêu vô cùng nhân từ. Nhưng tiếc thay sức khỏe của ông lại không được tốt, Chu Nguyên Chương chưa quy tiên thì Chu Tiêu đã ra đi trước rồi.

Nhưng Chu Nguyên Chương lại đặc biệt yêu quý đứa con trai cả này, vậy nên ông đã lập con trai của Chu Tiêu là Chu Doãn Văn lên làm thái tử. Như vậy sau khi Chu Nguyên Chương qua đời thì Chu Doãn Văn sẽ lên kế vị. Và thực tế cũng là như vậy, Chu Doãn Văn chính là Kiến Văn Đế sau này.

Chu Nguyên Chương rất coi trọng việc đặt tên cho các thế hệ theo vai lứa. Thế hệ con trai của ông, hết thảy đều có chữ Mộc (木), ví dụ như Chu Tiêu là “朱标” với chữ Mộc ở bên cạnh, còn Yên vương Chu Đệ thì là “朱棣”, cũng là chữ Mộc ở bên cạnh. Một thế hệ sau đó là dùng chữ Hỏa (火). Ông đã dựa vào các chữ trong Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ( 金、木、水、火、土), đều là áp dụng thứ tự này để đặt tên cho con cháu mình.

Minh Thái Tổ Hồng Vũ hoàng đế Chu Nguyên Chương. (Ảnh: wikipedia.org)

Thân phận khi đó của Chu Đệ là phiên vương. Chính là Chu Nguyên Chương đã sắc phong vương vị cho các hoàng tử, chia đất phong hầu cho họ ở các nơi khác nhau để làm “phiên vương”. Phiên vương rất có quyền lực, họ có quân đội riêng, có lãnh thổ riêng, và có chế tài thu thuế riêng biệt. Vậy nên quyền lực của phiên vương là rất lớn. Sau khi Chu Nguyên Chương băng hà, Chu Doãn Văn lên làm hoàng đế. Ông ta nhận ra quyền lực của các phiên vương thì không khỏi giật mình kinh sợ.

Những phiên vương đó đều là chú ruột của Chu Doãn Văn, thế lực của mỗi người đều rất lớn mạnh. Chu Doãn Văn trong tâm nơm nớp lo sợ địa vị của mình sẽ bị uy hiếp. Trong triều có hai đại thần, một người tên là Tề Thái, một người tên là Hoàng Tử Trừng. Cả hai cùng kiến nghị khuyên Chu Doãn Văn hãy nhanh chóng loại trừ các phiên vương và triệt tiêu quyền lực của họ. Kỳ thực, người mà Chu Doãn Văn muốn loại bỏ nhất chính là Yên Vương, nhưng ông ta không dám hành động ngay mà lại ra tay từ người khác trước. Trong số các phiên vương, người thì bị bắt giam, người thì bị bỏ tù, có người thì tự sát, v.v. Cứ như vậy, cuối cùng khi đến lượt Yên Vương thì tình thế đã hoàn toàn thay đổi.

Thực ra, năm xưa sau khi Yên Vương được phong hầu tới Bắc Kinh, vị hòa thượng Đạo Diễn đã suốt ngày lẽo đẽo theo sau không ngừng khuyên nhủ: tạo phản đi thôi, tạo phản đi thôi. Những lời này đã nói đi nói lại suốt mấy năm trời. Về sau, do hình thế bức ép, Yên Vương bất đắc dĩ đã thật sự tạo phản. Nhưng quân đội của ông so với triều đình thì không cách nào bì được. Trong tay Chu Đệ chỉ có mười mấy vạn, trong khi đội quân của triều đình lại là mấy chục vạn. Hai bên đã từng phát sinh nhiều trận chiến, nhưng trong đó có một trận quyết định.

Vào năm Kiến Văn thứ hai (năm 1400) đã diễn ra trận quyết chiến giữa quân đội của Chu Đệ với đội quân của triều đình ở sông Bạch Câu, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Quân đội của Chu Đệ từ Bắc Kinh tiến về phía Nam Kinh, ở đây tạm gọi là quân Bắc, còn đội quân của triều đình thì từ Nam Kinh tiến về phía Bắc Kinh, tạm gọi là quân Nam. Khi đó quân Bắc và quân Nam đã đánh một trận quyết liệt ở sông Bạch Câu.

Thống soái của quân Nam chính là thống soái của bộ quân triều đình, tên là Lý Cảnh Long, dẫn theo 60 vạn đại quân. Còn Chu Đệ thì chỉ có mười mấy vạn quân. Trận chiến đó khá là khốc liệt, sau cùng quân đội của Chu Đệ đã bị Lý Cảnh Long bao vây. Giữa lúc đó, con trai của Chu Đệ là Chu Cao Húc dẫn một nhóm quân tinh nhuệ đến ứng cứu, nhưng cũng mau chóng bị tiêu diệt sạch. Bản thân Chu Đệ đã phải đổi đến 3 con ngựa chiến, 3 thanh gươm, khi đó ông rơi vào tình cảnh hết gạo sạch đạn.

(Ảnh minh họa: zhuanti.artnchina.com)

Ngay lúc này đã phát sinh một sự việc hết sức kỳ quái. Minh sử quyển 5 chép rằng:

Hội tuyền phong khởi, chiết Cảnh Long kỳ, vương thừa phong túng hỏa phấn kích, trảm thủ sổ vạn, nịch tử giả thập dư vạn.

Nghĩa là một trận gió lốc bất ngờ nổi lên làm gãy cờ của Cảnh Long, Yên Vương thuận gió phóng hỏa đánh trả, rồi lại chém đầu mấy vạn, lại thêm hơn chục vạn quân địch chết đuối. Tâm nhãn của cơn gió lốc này vừa khéo lại nổi lên ngay trên lá cờ chủ soái của Lý Cảnh Long, ngay lập tức bẻ gãy cờ chỉ huy. Trong phút chốc toàn bộ chiến trường đều im phăng phắc, mọi người cùng trố mắt ra nhìn: Cờ chỉ huy sao lại bị đánh gãy rồi? Bởi trong chiến tranh, đây là một tín hiệu vô cùng bất lợi.

Ngay sau đó cơn gió lốc lại biến thành một trận gió bắc, từ phía bắc thổi xuống phía nam khiến cho quân Nam không tài nào mở được mắt. Lúc này Chu Đệ đã “thừa gió phóng hỏa”, thuận theo hướng gió mà phóng một mồi lửa, tiêu diệt hơn mấy vạn quân địch, cộng thêm số quân địch chết đuối lên đến hơn chục vạn. Trước đó quân Nam đang ở trong tình thế đắc thắng, nhưng chỉ một trận gió quái lạ mà khiến cho cục diện tan hoang.

Ở đây không chỉ là một trận gió. Khi Chu Đệ đang xông pha đánh trận, cả thảy là ba lần, thì chính ngay lúc nghìn cân treo sợi tóc gió lớn đã nổi lên, cả ba trận gió này đã “thổi” Chu Đệ từ Bắc Kinh đến Nam Kinh, đưa ông lên ngôi hoàng đế. Những sự việc xác suất rất nhỏ xem ra lại bất ngờ diễn ra, kỳ thật đó chính là Thiên ý.

Minh sử quyển 145 có ghi lại một đoạn đối thoại giữa Yên Vương và Đạo Diễn. Yên Vương hỏi Đạo Diễn rằng: “Lòng dân hướng về bên đó, thế phải làm sao?”. Ông ta nói nhà ngươi cứ luôn khuyên ta tạo phản, nhưng lòng dân lại hướng về Kiến Văn Đế, vậy ta sao có thể làm được gì? Đạo Diễn đã trả lời bằng 8 chữ: “Thần tri thiên đạo, hà luận dân tâm?” (thần đây biết được thiên cơ, lòng dân có là gì?). Nghĩa là, tôi biết ngài sẽ lên làm hoàng đế, vậy nên ngài không cần phải lo lắng nữa làm gì.

Triều Minh có một người rất giỏi xem tướng tên là Viên Củng. Một lần nọ, Yên Vương muốn ra ngoài uống rượu nên đã dẫn theo một số thị vệ trong cung đi cùng. Ông ta vì để che giấu thân phận nên đã cởi y phục hoàng tộc mà vận y phục của thị vệ thông thường. Trong tửu quán, Viên Củng khi ấy cũng đang uống rượu. Ông ta vừa trông thấy Yên Vương thì liền bước đến quỳ dưới đất, nói: “Điện hạ, sao ngài lại có thể vận y phục của bọn hạ nhân chứ?”. Yên vương nói y phục của hạ nhân gì chứ, ta chính là thị vệ. Viên Củng nói ngài không cần phải khách sáo đâu, mai sau thể nào ngài cũng sẽ làm hoàng đế.

Chúng ta vừa nhắc lại bốn câu chuyện liên quan đến gió: Trong trận chiến Xích Bích, một trận gió lớn đã đặt định ra cục diện Tam quốc chia ba thiên hạ. Trong trận chiến Hán-Sở, một trận gió lớn đã cứu tính mạng của Lưu Bang, khai sáng giang sơn 400 năm nhà Hán. Trong trận đại chiến ở hồ Bà Dương, một trận gió lớn đã giúp Chu Nguyên Chương tiêu diệt Trần Hữu Lượng, trở thành hoàng đế khai quốc của triều Minh. Thế thì trong trận chiến sông Bạch Câu, không phải là một cơn gió lớn, mà là ba cơn gió lớn đã giúp Chu Đệ tiến vào Nam Kinh, trở thành Minh Thành Tổ sau này. Về sau, ông đã dời đô thành từ Nam Kinh đến Bắc Kinh.

Khi đọc sách sử tôi thường không khỏi cảm khái như vậy : Lịch sử có những lúc giống như một con tàu đi giữa biển lớn, một trận gió bất ngờ thổi đến đã thay đổi hoàn toàn hướng đi của nó.

Phong vân của lịch sử thường là không sao đoán trước được. Trời có gió mây khó đoán, người có họa phúc khó lường. Mỗi một cá nhân trên con đường nhân sinh cũng thường sẽ có những sự tình bất ngờ ập đến, từ đó thay đổi vận mệnh của cả một đời người…

Hết.


Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.