Nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim sẽ ra sao?

Quan Điểm - Bình Luận

Phim lịch sử chiến tranh cổ trang là một trong những chủ đề vô cùng “hot” với những khán giả mê điện ảnh. Những khung cảnh chiến tranh đại cảnh khốc liệt, hoành tráng luôn làm phấn khích mọi thế hệ người xem. Các nhà làm phim Hollywood cũng như điện ảnh Hoa Lục nhiều năm qua đã đem đến cho khán giả rất nhiều siêu phẩm mô tả về chiến tranh, những cảnh quay kinh điển như thế, cho đến nay vẫn còn chưa hết hấp dẫn… Tuy nhiên người viết cho rằng những bộ phim đó vẫn còn chưa đủ cấp độ, nhất là khi họ thiếu những trận chiến tuyệt vời nhất thế giới diễn ra ngay tại Việt Nam, vùng đất đã từng khuất phục biết bao danh tướng xâm lược và các vương triều lừng danh thế giới. Lịch sử nước ta với mấy nghìn năm chống lại các thế lực xâm lược binh hùng tướng mạnh, nếu vận dụng tốt ”đại phim trường” này, bảo đảm cũng có thể cho ra lò những trận đại chiến vô cùng kinh điển. Vậy nếu những trận chiến Đại Việt được chọn làm phim trong các siêu phẩm bom tấn thì sẽ ra sao nhỉ? Chúng ta hãy cùng nhau thả sức tưởng tượng sẽ như thế nào nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim?

600 – The Army of Shadows: 600 – Đội quân bóng tối

Trong siêu phẩm 300 phần 1, những chiến binh Spartans huyền thoại dưới sự lãnh đạo của vua Leonidas 1 đã chiến đấu oanh liệt đến hơi thở cuối cùng với một triệu quân của Xerxes Đại đế ở Trận Thermopylae lừng danh. Sự quả cảm của người Spartans cùng những màn võ thuật cận chiến kinh hồn đã đem đến cho nhà sản xuất doanh thu 70 triệu USD và là phim có doanh thu cao nhất năm 2007.

Tuy vậy có lẽ khán giả sẽ càng thêm phần phấn khích khi được tận mục sở thị một trận chiến còn bi tráng hơn thế vào thế kỷ 13 tại Đại Việt với tình tiết kịch tính hơn. Đặc biệt ở chỗ, đây không phải là trận chiến của các siêu sao chiến binh Spartans lừng danh. Mà thay vào đó là trận thư hùng của một đạo quân hoàn toàn vô danh chống lại một đối thủ còn mạnh hơn cả binh lính Ba Tư của Xerxes – binh đoàn kỵ binh Mông Cổ huyền thoại từng san bằng cả châu Âu. Đó chính là 600 – The army of shadows – người viết tự nghĩ ra tên cho bộ phim tưởng tượng này, trận chiến giữa quân Nguyên Mông và Thánh Dực Dũng Nghĩa binh.

Bối cảnh và cốt truyện:

Năm 1285, quân Nguyên Mông lại sang xâm lấn nước ta để rửa nỗi nhục thất bại của 27 năm trước.

Lần này đoàn quân xâm lược đã trở nên đông hơn chục lần với đầy đủ bộ binh kỵ chiến lẫn thủy quân đoạt từ Nam Tống.

Đích thân vương tử thứ 9, Trấn Nam Vương Thoát Hoan (Toghan), được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đoàn quân Nguyên Mông đông đảo với nhiều danh tướng đương thời như Lý Hằng, A Lý Hải Nha (Arigaya), Toa Đô (Sogetu), Ô Mã Nhi (Omar Batu) cuồn cuộn tràn xuống Đại Việt, dễ dàng đánh bại quân ta ngay từ cửa ải Khả Ly, Nội Bàng và cả tại căn cứ lớn nhất là Vạn Kiếp. Hai vua nhà Trần và Hưng Đạo Vương quyết định tạm lui binh để bảo toàn quân lực. Vì thế Trần Bình Trọng và đoàn quân tinh nhuệ Thánh Dực do ông chỉ huy phải nhận nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm là chặn đứng truy binh của thiết kỵ Mông Cổ cho bộ chỉ huy và chủ lực quân của ta có đủ thời gian để rút lui an toàn.

Nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim?
Hai vua nhà Trần và Hưng Đạo Vương quyết định tạm lui binh để bảo toàn quân lực. Ảnh minh họa từ Việt Sử Kiêu Hùng.

Tiêu điểm của phim – Bí ẩn về Thánh Dực Dũng Nghĩa Binh, họ là ai?

Vì sao Trần Bình Trọng lại là nhân vật được chọn cho nhiệm vụ quan trọng này? Vì sao đạo quân chỉ 600 người của ông lại dám đảm nhận trách nhiệm quyết tử mà không hề băn khoăn? Vì họ không phải Cấm vệ quân Thánh Dực thông thường, họ là Thánh Dực Dũng Nghĩa binh, đạo quân tinh nhuệ nhưng lại “hoàn toàn vô danh” của triều đình.

Nếu như Thánh Dực Nghĩa Dũng quân là Cấm vệ quân Hoàng gia xuất thân cao quý thì Thánh Dực Dũng Nghĩa lại hoàn toàn ngược lại. Họ thực ra là những người từng là dân vong mệnh (cô nhi, trọng phạm, tử tội, bất hảo, những phần tử bần cùng tận đáy xã hội) được chiêu mộ và cấp cho cơ hội phục vụ triều đình. Thay vì phải chết trong ngục hay vất vưởng bên lề xã hội thì họ được Hoàng gia ban cho cuộc đời mới, lương bổng và huấn luyện ngang Cấm Vệ quân. Vì thế họ rất cuồng tín và tuyệt đối trung thành với triều đình. Cả đoàn quân đều là những người mạnh mẽ, giỏi chiến đấu, sẵn sàng quyết tử. Triều đình dùng họ cho những chiến dịch nguy hiểm nhất và cần những cảm tử quân không biết sợ chết. Đây chính là trận chiến cuối cùng của họ, đem xác thân này cản đường vó ngựa Nguyên Mông để rồi có thể bị lãng quên trong lịch sử. 

Đại cảnh chiến đấu chính:

Nơi Thánh Dực Dũng Nghĩa quyết chiến với giặc là bãi lầy Màn Trò bên dòng sông Thiên Mạc. 600 quân Thánh Dực đa số là bộ binh trang bị nhẹ – một ít trong trang phục bộ binh và một ít kỵ binh phải chặn đứng đoàn thiết kỵ truy binh mấy nghìn người của quân Nguyên Mông. Đoàn quân kỵ này do danh tướng Lý Hằng và Khoan Triệt (Koncak) chỉ huy. Đây là một trận tử chiến không có đường lui giữa một nhúm quân của một tiểu quốc nhỏ bé và đạo quân thiện chiến tung hoành khắp thế giới. Một trận đánh quy ước lấy ít địch nhiều khốc liệt hàng đầu trong lịch sử chiến tranh của loài người.

Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt với hàng loạt đợt tấn công kinh hoàng từ quân kỵ Mông Cổ.

“Trần Bình Trọng gọi đội câu liêm và đội thiết lĩnh. Ông dặn dò những người lính của ông kỹ lưỡng, và quân Thánh Dực ào đi thi hành mệnh lệnh của Trần Bình Trọng. Những hướng đánh từ các phía của quân Nguyên tràn tới, trong đó có cả những tên lính của Khoan Triệt tả tơi giáp, mũ. Nhưng trái với những lần đánh trước, quân Thánh Dực không cho chúng lại gần. Họ bắn những mũi tên rất trúng, và ngay khi lũ giặc còn cách nửa tầm tên bắn thì chúng đã tối tăm mặt mũi và hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Trong khi đó, bọn lính của Lý Hằng hộ vệ chủ tướng của mình vẫn xông đến ào ào. Chúng thúc ngựa nhảy vọt qua cả vách thành ken khiên. Khi hàng quân thứ nhất của địch vọt qua rồi, đội câu liêm mới từ hai bên vọt ra. Những người lính Thánh Dực không nhằm bọn giặc mà họ quét câu liêm là từ mặt đất nhằm đánh vào vó ngựa. Ngựa ngã quay lông lốc, giặc cũng lăn quay lông lốc. Chúng lăn vào cả những lá khiên mở ngửa lởm chởm chông nhọn hoắt… Đợt thứ hai của giặc chưa vọt được qua vách khiên mây...

Nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim?
Họ bắn những mũi tên rất trúng, và ngay khi lũ giặc còn cách nửa tầm tên bắn thì chúng đã tối tăm mặt mũi và hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Ảnh minh họa từ Việt Sử Kiêu Hùng.

Từ sau hàng khiên, đội thiết lĩnh của quân Thánh dực đánh vòng ra. Những cây thiết lĩnh lợi hại gồm một thanh mẹ và bảy thanh con nối liền nhau bằng những đốt xích sắt. Đòn thiết lĩnh đánh cong vút lên cao, đánh vòng qua hàng khiên Thánh dực, đánh vòng qua hàng quân thứ hai của giặc, đánh thẳng vào một tốp quân Nguyên đang xúm xít hộ vệ Lý Hằng. Thật là những đòn bất ngờ. Lý Hằng bị một trận phủ đầu thất kinh hồn vía. Chung quanh y, bọn lính hộ vệ bị chết, bị thương rất nhiều. Riêng y thì hút chết, con ngựa y cưỡi cũng bị một nhát thiết lĩnh đánh vút qua cổ, cứa đứt tung dây cương bên mép và quật lìa cả chiếc bàn đạp bên phải. Con ngựa đau mép, lồng vọt lên. Lý Hằng lộn phốc xuống, chân chỉ còn móc vào chiếc bàn đạp bên trái. Bọn quân Nguyên chạy vung ra bốn phía. Chúng hoảng hốt nhìn tên tướng đang bị ngựa kéo quệt lê trên mặt cát… Viên quan cầm cờ vội cho lính chạy đón đầu giữ ngựa để cứu Lý Hằng. Khoan Triệt cũng vội chạy lại. Hai tên tướng Nguyên nhìn nhau, không tên nào còn tâm trí nghĩ đến tranh công và chế giễu nhau nữa. Lý Hằng cởi tấm áo lông cừu rách tả tơi vứt đi.

– May mà có cái áo này chứ không thì cũng tan thây đấy! – Lý Hằng hú vía nói với viên quan cầm cờ.

Khoan Triệt và Lý Hằng thu hết quân, sửa soạn kỹ lưỡng cách bày trận: 

Lần này Lý Hằng tung đội cần bật đá và dùng cả đội quân cưỡi ngựa có đeo giáp sắt. Trần Bình Trọng điềm tĩnh chỉ huy quân phá liền mấy đợt tấn công nữa của giặc. Ông bị nhiều vết thương. Nhưng chỉ đến đợt thứ mười một của trận đánh bên bờ Thiên Mạc, Trần Bình Trọng và ông già Màn Trò mới bị sa vào tay giặc, trong tay chỉ còn hai mẩu cán giáo gãy. 

Về phía địch, Khoan Triệt bị thương rất nặng. Một nhát mã tấu xả vai trái y, một mũi lao xuyên qua đùi, nhưng vết thương nguy hiểm nhất đối với tính mạng y lại chỉ là một mũi chông độc nhỏ bé hình củ ấu găm vào ngón chân út. Máu đọng phù bắp chân Khoan Triệt, y nửa tỉnh, nửa mê. Lý Hằng cũng chẳng hơn gì. Tên Tả thừa sau đòn thiết lĩnh hút chết, không dám liều mạng xông lên trong những hàng quân đi đầu, và y đã phải thay một con ngựa trúng tên. Y không bị qua một vết thương, nhưng sự thua thiệt nặng nề làm cho y lo sợ bị quan trên trừng trị. Khoan Triệt đã kề bên cái chết. Khi đánh xong trận bãi sa bồi, bọn lính Nguyên cho viên Hữu thừa lên võng để khiêng về thuyền. Lúc chiếc võng đưa qua trước mặt Lý Hằng, tên Tả thừa đang ngơ ngác nghĩ đến dâng thư lên cấp trên thưa trình sao cho thoát tội, y buột miệng nói một câu:

– Đúng là thua chứ không phải thắng! Mà thua to!” 

(Trích truyện Bên bờ Thiên Mạc – Hà Ân).

600 – The impossible war: 600 – Cuộc chiến bất khả thi

Nếu như Phần 2 của bộ phim 300 kể về cuộc hải chiến khốc liệt của quân Hy Lạp chống lại quân xâm lược Ba Tư thì phần 2 của phim 600 sẽ kể về trận tập kích thủy công bộ chiến kinh điển đánh tan toàn bộ quân xâm lược Nguyên Mông trên đất Đại Việt. Là chiến công nối tiếp lấy lại giang sơn, trả thù cho trận đánh hy sinh oanh liệt của 600 tướng sĩ Thánh Dực Dũng Nghĩa Binh và tướng quân Trần Bình Trọng.

Bối cảnh và cốt truyện:

Sau nhiều cuộc rượt đuổi bất tận xuyên khắp đất nước phương Nam nhỏ bé mà vẫn không bắt được nhà vua Đại Việt và đánh tan quân chủ lực như ý đồ ban đầu, các tướng lãnh Nguyên Mông bắt đầu thấy bất an. Đặc biệt là sau trận chiến  bi tráng trong phần 1 với đạo quân Thánh Dực tử sĩ kỳ lạ kia, họ dần nhận ra một sự thật đáng sợ, bản thân dường như không còn là một thợ săn nữa mà đang biến thành một con mồi trong cái lồng to lớn là cả cái đất nước khó chịu này. Những “con mồi” kia vốn đã bị đánh tan tác trong các lần đọ sức trước không hiểu sao nay lại dần dần tụ tập lại đông hơn gấp 10 lần. Họ có mặt ở khắp nơi, nhẹ nhàng siết chặt tấm lưới để tiêu diệt các “thợ săn”. Đúng như câu thơ của nhà vua Trần Nhân Tông đã viết:

“Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ
Hoan Diễn vẫn còn mười vạn quân”…

Tuy nhiên các danh tướng dày dạn trận mạc Nguyên Mông cũng không hề đơn giản. Quân Nguyên Mông đã quyết định biến đổi chiến lược đánh nhanh thắng nhanh thành đánh chắc tiến chắc. Với một lực lượng quân sự khổng lồ, họ đã chia quân ra thành nhiều đồn lớn từ Thăng Long dọc theo sông Hồng ra đến biển, khống chế chắc chắn một nửa nước ta trong tay, chờ đợi đoàn quân Toa Đô từ phía Nam trở ra hội quân xong sẽ cùng nhau bình định Đại Việt. Đây quả là một kế hoạch đầy khả thi với quân Nguyên Mông và vô cùng nguy hiểm đối với quân Đại Việt. Trong khi đó, vua quan nhà Trần và đại quân đã hoàn toàn lui vào Nam đóng tại Thanh Nghệ. Do đó một chiến dịch mạnh mẽ tập kích để đập tan sự khống chế này mới có thể đẩy lùi quân xâm lăng khỏi bờ cõi.

Đập nát một đạo quân đồn trú phòng thủ vững chắc, quân số đông hơn 5 lần (500 nghìn quân và dân phu so với 10 vạn quân) với trang bị vũ khí mạnh mẽ hơn quả là một thử thách lớn. Đây đúng là một trận chiến bất khả thi. Một “Mission impossible of war” vậy.

Đập nát một đạo quân đồn trú phòng thủ vững chắc, quân số đông hơn 5 lần (500 nghìn quân và dân phu so với 10 vạn quân) với trang bị vũ khí mạnh mẽ hơn quả là một thử thách lớn.

Đại cảnh chiến đấu chính:

Để khai thông “tử huyệt” của đất nước lúc đó là con sông Hồng đang bị quân Nguyên chiếm giữ, nhà Trần đã dùng đến quân bài mạnh nhất trong tay, đội thủy quân hùng mạnh trứ danh với truyền thống vinh quang từ thời nhà Lý trước đó trăm năm. Do đó chuỗi chiến trận Hàm Tử – Chương Dương – Vạn Kiếp, diệt gọn đạo quân Mông Nguyên khét tiếng chính là thể loại thủy quân bộ chiến và tập kích thuộc hàng kinh điển xứng tầm siêu phẩm trong lịch sử quân sự thế giới.

Trận Hàm Tử:

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật phụng mệnh dẫn hai vạn đại quân chia thành 4 đạo tập kích quân Nguyên đóng tại Hàm Tử. Bốn cánh quân Đại Việt cả thủy lẫn bộ đã diệt gọn căn cứ Hàm Tử khiến cho quân của Toa Đô (Sogetu) không hội quân được. Sau đó ít ngày, đoàn quân của Toa Đô từ biển tiến vào sông Thiên Mạc để hội quân với Thoát Hoan mà không biết định mệnh bi thảm đang chờ đợi mình…

“Chiêu Thành vương, Trần Quốc Toản dồn đám giặc còn sống sót lên bờ. Trong bãi rậm rạp đầy lau sậy, cỏ lác, quân ta đã phục chờ. Trận giao chiến cuối cùng của mặt trận Tây Kết xảy ra trên bãi Màn Trò. Đây là trận Nguyễn Khoái, Chiêu Thành vương, Trần Quốc Toản quyết đánh trả thù cho người anh hùng Trần Bình Trọng, cách đây đúng 5 tháng đã bỏ mình trên doi đất này. 

Quân ta đánh quyết liệt, giặc không chống đỡ được, cũng không chạy được. Vì vậy kẻ nào không chịu hàng tất phải bỏ mạng. Biết không chạy thoát, dù chỉ còn vài chục dặm nữa là tới Thăng Long, nhưng tổng quản nhà Nguyên là Trương Hiển buộc phải đầu hàng. Mặt y xám ngoét, hai tay run run bê chiếc mũ Tổng binh cùng thanh gươm và ấn tướng, trao tận tay quân ta. 

Tới nửa chiều thì giặc tan. Chiến trường lặng ngắt, không một âm thanh. Trên mặt sông lập lờ trôi những cán giáo gẫy, những áo quần, cờ xí, những mảnh buồm, những ván thuyền, và đó đây những chiếc thuyền chìm còn thoi thóp ngoi lên chiếc cột buồm đơn côi, như những nén hương khổng lồ cắm rải khắp một quãng sông dài, tựa như một bãi tha ma dưới nước. Và dòng sông đỏ lựng màu máu cứ lững lờ trôi xuôi.”
(Trích tiểu thuyết “Thăng Long nổi giận”- Hoàng Quốc Hải).

Nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim?
Nếu những trận đánh trong sử Việt được chuyển thể thành phim?

Cũng tại trận chiến khốc liệt này, Nguyên soái Toa Đô, dũng tướng nổi danh nước Nguyên, đã mất mạng sau một cuộc tỷ thí võ công nghẹt thở trên chiến thuyền với thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản: 

“Thình lình Toa Đô xả một chiêu rất thô kệch. Vương phi Ý Ninh đứng lược trận, nhắc con: – Kiếm pháp Hồi cương. Bất đắc dĩ Quốc Toản phải trực diện đỡ. Chát một tiếng, kiếm của Toa Đô bị đứt tận chuôi. Biết nguy, y lao đầu vào Quốc Toản, hai tay bóp cổ Hầu [Hầu – tên gọi khác của Trần Quốc Toản]. Lúc tay y vừa mới dơ lên, Hầu xỉa kiếm vào nách phải y. Kiếm xuyên thủng áo giáp từ ngực xéo xuống bụng. Quá đau, y bóp cổ Hầu. Bạch viên ở trên cao thấy chủ lâm nguy, nó nhảy xuống, tay xáng một côn vào lưng Toa Đô. Bốp, xương sống Toa Đô bị dập, y buông Quốc Toản ra, người lảo đảo. Hầu rút kiếm khỏi thân y, đưa một nhát, đầu y rơi xuống đất.”
(Trích tiểu thuyết “Gươm thiêng Hàm Tử” – Trần Đại Sĩ).

Trận Chương Dương:

Đây là căn cứ thủy quân lớn nhất, đồn trú lực lượng quân Nguyên tinh nhuệ đông đảo nhất, đồng thời cũng là lá chắn bảo vệ cho Thoát Hoan lúc này đang đóng ở Thăng Long. Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đích thân chỉ huy chiến dịch lớn này. Ông cùng Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão thân dẫn thủy quân tinh nhuệ cùng đoàn thiết kỵ binh thần tốc đánh gục đoàn quân đông đảo nhưng tinh thần rệu rã của Thoát Hoan. 

Các dũng sĩ thiết kỵ binh Thánh Dực Quân với trường mâu, giáp sắt và lực cơ động mạnh mẽ đã nhanh chóng đánh gục quân kỵ binh Mông Cổ vốn đã thoi thóp sau nhiều đợt tổn thất trước đó. Trận đánh kỵ chiến vỗ mặt này đã mở toang căn cứ Chương Dương trên bộ, tạo điều kiện cho thủy quân Đại Việt áp sát tràn lên chiếm lĩnh trận địa từ sau lưng địch. Quân Mông Cổ tại chỗ hầu như đã tan rã sau đợt cường công mạnh mẽ hai mặt đó. Các binh đoàn Thánh Dực hùng dũng tiến thẳng về Thăng Long. 

Thoát Hoan nghe tin thất trận lập tức thân dẫn đại quân ra khỏi thành chi viện cho Chương Dương thì trúng phải phục kích của quân Đại Việt do Trần Quang Khải dày công sắp đặt từ trước. Hai mặt giáp công, sức ép của đoàn thiết kỵ Thánh Dực và hạm đội thủy quân khổng lồ hừng hực khí thế xung sát đến đã khiến đạo quân cứu viện của Thoát Hoan hoàn toàn bị tiêu diệt. Thoát Hoan và các tướng lãnh phải dẫn tàn quân tháo chạy nhục nhã khỏi Thăng Long.

Trần Quang Khải dẫn đoàn quân khải hoàn khôi phục kinh đô, đã để lại những vần thơ bất hủ:

“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san.”
(Tụng giá hoàn kinh sư).

Trận chung kết Vạn Kiếp:

Trấn Nam Vương Thoát Hoan khó khăn lắm mới đưa hết tàn quân chạy khỏi Thăng Long về đến biên giới. Càng gần đến biên giới, đạo quân Nguyên Mông tả tơi càng nhẹ lòng. Tuy nhiên họ đã lầm, xưa có câu “quả báo nhãn tiền” thực đúng vậy, ngay trận địa Vạn Kiếp mà mới năm ngoái họ còn vênh váo đánh tan quân nhà Trần dễ dàng thì nay lại trở thành tử địa cho toàn quân. Than ôi đường về cố quốc sao mà xa xôi quá:

“Thoát Hoan mới đưa được hơn hai chục vạn quân qua sông Bình Giang, tiền quân gần tới ải Nội Bàng thì bị quân Đại Việt chặn lại. Viên hữu thừa A-ba-tri với năm ngàn kỵ binh cùng hàng vạn quân bộ theo sau, đánh nhau từ sáng tới quá trưa vừa đói vừa mệt mà tiền quân không nhúc nhích được bước nào, đôi ba phen bị đẩy lùi rồi người chết, ngựa chết lăn quay. Xác người, xác ngựa chồng đống lên nhau ngáng trở đường quân đi. Thấy tiền quân không nhích lên được, Thoát Hoan sai Áo-lỗ-xích phái thêm viện binh hợp lực với A-ba-tri để thoát khỏi Nội Bàng mới có đường chạy tiếp về đất Trung Hoa. Thấy có quân tiếp viện, A-ba-tri gom nhanh số quân còn lại thúc chúng tiến lên. Nhưng xem ra cả người và ngựa đều đói và đã mệt nhoài, quân uể oải không đứa nào chịu tiến. Để làm gương cho binh sĩ, A-ba-tri hét một tiếng thật to rồi bấm ngựa lao về phía trước. Quả nhiên đám kỵ binh đều lao theo chủ tướng. 

Loáng một cái mặt A-ba-tri đã sưng húp lên, da tím đen văng từ trên mình ngựa xuống chết không kịp ngáp.

Quân Đại Việt ngăn cản quyết liệt, không biết họ ở đâu và từ đâu bắn ra, chỉ biết bốn phía, phía nào cũng có tên bay về phía kỵ binh Mông Cổ. Cùng một lúc A-ba-tri trúng ba mũi tên độc. Một mũi cắm trên đỉnh đầu, một mũi xuyên từ cổ ra phía sau gáy, mũi thứ ba xoáy vào đùi sau khi đã xuyên thủng lớp quần da. Loáng một cái mặt A-ba-tri đã sưng húp lên, da tím đen văng từ trên mình ngựa xuống chết không kịp ngáp. Quân Nguyên hoảng hốt, người ngựa lùi lại rất xa. Chúng vón lại với nhau như một bầy kiến gặp nước, chứ không dám tản ra hai bên đường là những rừng cây rậm rạp tối om. Trong khi đó, tiếng trống đồng, tiếng tù và, tiếng kèn vẫn cứ sôi sục từ mọi phía khiến tâm thần quân giặc càng thêm bấn loạn.

Thấy tình thế nguy ngập, bình chương chính sự Áo-lỗ-xích cùng mấy ngàn quân tinh nhuệ phải luôn đi sát để hộ vệ Thoát Hoan. Viên thần nỗ Giả Nhược Ngu xông xáo chống đỡ, che chắn cho chủ tướng và y không dám rời khỏi Thoát Hoan nửa bước. Các viên vạn hộ hầu Lưu Thế Anh, Đa-ra-tri dấn quân lên, chúng phải liều chết mở đường máu mới dẫn được Thoát Hoan qua cửa tử Nội Bàng. Vừa qua Nội Bàng được vài dặm thì được tin quân Đại Việt đã án ngữ dày đặc ở cửa quan Nữ Nhi và núi Khâu Cấp. Trên một trăm dặm đường thiên lý không nơi hiểm yếu nào là không có quân Đại Việt mai phục, còn hố bẫy ngựa thì rải rác không biết đâu mà lường. Sự thật số ngựa sa hố kéo theo cả người rải khắp dọc đường không phải là ít. 

Quân Nguyên đã bỏ đường Khâu Ôn, nay lại bỏ cả đường Khâu Cấp tìm qua đường Đơn Kỷ để vượt về Tư Minh qua ngả Lộc Châu. Nhưng không một nơi nào giặc tìm được sự yên ổn. Ngay cả các đầu mục người man, lúc giặc mới vào họ cho quân tản vào rừng, nay họ cũng tập hợp lại đón đánh quân giặc bằng mọi loại khí giới mà họ được triều đình cung cấp hoặc họ tự chế ra. Xác giặc rải trên đường vô số kể. Bị đánh ở bất cứ chỗ nào, chúng đều liều chết cướp lấy đường mà chạy, chứ không dám dừng lại giao tranh hoặc chia quân vây hãm đối phương như hồi chúng mới đem quân vào đất Giao Châu cách đây mới có hơn ba tháng. 

Vừa qua Đơn Kỷ được vài dặm thì trời đổ tối, cũng là lúc giặc rơi vào ổ phục kích của quân ta. Tại đây không có lửa đốt, không có tiếng trống tiếng kèn thôi thúc, chỉ có sự tĩnh lặng đến ghê rợn. Con đường độc đạo heo hút len lách một bên là rừng rậm một bên là vách núi tối om như một chiếc bẫy khổng lồ. Tiếng ngựa thở phì phì, tiếng chân giẫm đạp của đoàn quân trên lớp lá khô mục đều bị rừng đêm nuốt chửng. Mấy chục vạn quân như một con rắn khổng lồ mà đầu, mình nhiều khúc đã bị băm vằm cứ oằn mình trườn đi chậm chạp… 

Bỗng một tiếng nổ đinh tai, ánh sáng lóe lên như một tia chớp rồi tiếng tên vun vút lao tới. Vậy là bị đánh tạt sườn tại khúc giữa đoàn quân. Giặc hốt hoảng cắm đầu chạy. Bước qua xác nhau mà chạy. Giẫm đạp lên cả những đứa bị thương đang kêu cứu mà chạy. Đang bám riết phía sau Thoát Hoan, Giả Nhược Ngu nghe thấy tiếng xé gió. Biết mũi tên sẽ bay thẳng vào Thoát Hoan, y rướn lên nửa bước ngựa để kịp đưa thân mình ra chắn. Mũi tên xuyên trúng bả vai viên thần nỗ. Khen thay Giả Nhược Ngu có cái tai thần, ngay trong đêm tối cũng “nhìn rõ” đường bay của mũi tên. Đúng là Giả Nhược Ngu có lòng xả thân cứu chủ, nếu không Thoát Hoan đã phải đền tội ác. Vạn hộ Lưu Thế Anh cùng tả thừa Đa-ra-tri dẫn quân liều chết mở đường máu mới thoát ra được. Chạy được khoảng nửa dặm đường, Giả Nhược Ngu níu áo Thoát Hoan nói giọng thều thào:
“Trấn Nam vương bảo trọng!”… Viên thần nỗ gục chết trên lưng ngựa. Thoát Hoan sai quân mang xác Giả Nhược Ngu đi theo và bắt phải giữ lại bộ cung tên mà vị thần nỗ thường dùng”. 

(Trích tiểu thuyết “Gươm thiêng Hàm Tử” – Trần Đại Sĩ).

The Tide of blood: Cơn thủy triều máu

Năm 2008 bộ phim Xích Bích của điện ảnh Hoa Lục đã nhận nhiều lời khen cho các trường đoạn công phu quay lại cảnh đại chiến Xích Bích vô cùng hoành tráng của trăm vạn quân Tào và liên quân Ngô Lưu. Thế nhưng Xích Bích dù hoành tráng nhưng cũng không phải là lựa chọn duy nhất của khán giả. Bởi lẽ những “thước phim” về các chiến binh Đại Việt và trận chiến huy hoàng trên dòng sông Bạch Đằng hứa hẹn sẽ làm bùng nổ màn ảnh nhỏ. Chúng tôi tự nghĩ ra tên cho bộ phim này là “The Tide of Blood” (Thủy triều máu) vốn là miêu tả chân thực nhất về nguyên nhân thất bại và kết cục thảm khốc của đội quân Nguyên Mông xấu số kia.

Bối cảnh cuộc chiến:

Vào năm 1287, nhà Nguyên mở đầu cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long không một bóng người, và thủy quân Đại Việt do Phó tướng Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chỉ huy đã đánh tan nát đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ trong trận Vân Đồn. Trước tình hình bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về nước theo nhiều hướng khác nhau. 

Trận Bạch Đằng diễn ra ngày 8 tháng 3 năm mậu tý (9 – 4 – 1288) nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ 4 đời vua Trần Nhân Tông bên Đại việt. Khởi đầu từ giờ Mão (5 giờ sáng), chấm dứt vào giờ Thân (17 giờ). Sau một ngày chiến đấu kịch liệt, toàn bộ thủy sư Nguyên Mông gồm 510 chiến thuyền, 15 vạn quân vừa thủy, vừa bộ bị bắt, bị giết cùng các tướng lãnh cao cấp như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bị bắt sống. Đây là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử vệ quốc của nước ta.Sau một ngày chiến đấu kịch liệt, toàn bộ thủy sư Nguyên Mông gồm 510 chiến thuyền, 15 vạn quân vừa thủy, vừa bộ bị bắt, bị giết. (Ảnh minh hoạ: Shutterstock)

Phối cảnh trước trận chiến, thực lực các bên:

Trên một dòng sông rộng mênh mông như biển, hai bên là rừng rậm nguyên sinh âm u bạt ngàn. Đoàn thuyền chiến khổng lồ hơn 500 đại hạm đang chở 15 vạn quân viễn chinh Nguyên Mông tìm đường ra biển để về mẫu quốc. Bầu trời gần sáng xám xịt u ám như tinh thần của đoàn bại binh lúc này. Sóng vỗ mạn thuyền tung bọt trắng xóa, nước bắn tung lên mạn thuyền như đùa cợt với những binh sĩ đang trực trên boong, nhưng vẫn không thể xua tan nỗi căng thẳng của họ. Một số binh sĩ trong vô thức tay nắm chặt hơn thanh trường mâu lúc này đang đầm đìa nước. Trời đang dần sáng, làn sương xám phủ trên mặt sông từ từ tản đi nhưng vẫn không có thêm chút ánh nắng nào đủ xua tan bầu trời ảm đạm suốt mấy ngày qua. 

Đoàn tàu vẫn lắc lư rẽ sóng tiến lên. Nhưng trên mặt sông phía xa nơi chân trời dần hiện rõ những khối màu đen to lớn nhiều vô số, xếp hàng dài dằng dặc, lô nhô cao thấp ken đặc mặt nước phía trước. Từ phía chân trời, một lực lượng đáng sợ tỏa ra khắp nơi, khí thế âm trầm nhưng vô cùng mạnh mẽ như muốn quật nhào cả đoàn thuyền.
“Là đại quân của An Nam” binh sĩ hoa tiêu trực ban kinh hãi hét lớn, kéo chuông báo động cho toàn hạm đội…

Thoát Hoan và các tướng lĩnh lên boong chỉ huy nhìn ra mặt sông và đều ngây người ra với cảnh tượng trước mặt. Hàng nghìn chiến thuyền Đại Việt to nhỏ đủ cỡ xếp thành đội ngũ chỉnh tề đang vây bọc hết mặt sông. Các soái hạm long thuyền khổng lồ với lá đại kỳ màu vàng thêu chữ “Trần” ngạo nghễ đứng ở trung tâm đoàn thuyền, xung quanh là các thuyền chiến xung kích tốc độ cao Mông Đồng bọc thép với hàng trăm tay chèo lực lưỡng sẵn sàng xung trận. Trên sàn tàu là hàng nghìn hàng vạn binh lính khôi giáp nghiêm trang, trường mâu đao kiếm tuốt sẵn sáng lóa. Tiếng trống trận, tiếng chiêng thúc quân cùng tiếng tù và vang rền trời đất. Những âm thanh “Sát Thát” từ hàng chục vạn binh sĩ phát ra quả thật có cái thế trời long đất lở. Thật đúng như Trương Hán Siêu đã miêu tả:

“Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới
Tì hổ ba quân
Giáo gươm sáng chói
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi
Thế trận thư hùng chửa phân
Chiến lũy Bắc Nam chống đối”…
(Trích “Bạch Đằng Giang phú”-Trương Hán Siêu).Hàng nghìn chiến thuyền Đại Việt to nhỏ đủ cỡ xếp thành đội ngũ chỉnh tề đang vây bọc hết mặt sông. (Ảnh minh hoạ: Shutterstock)

Đại cảnh chiến đấu chính:

Bấy giờ đã cuối giờ mùi, nước sông rút xuống thấp. Thình lình một loạt chiến thuyền Nguyên vấp phải cọc. Cái bị thủng, cái bị vỡ, cái bị lật nghiêng. Trong khi quân Nguyên kinh hoảng la hét, nhảy khỏi chiến thuyền thì Nghĩa dũng quân Đại Việt trên ngư thuyền tung chài, tung lưới bắt…

Ô Mã Nhi nhìn dọc sông, chiến thuyền cái thì nghiêng ngả, cái thì bị lật úp, cái thì bị chìm. Quân sĩ chiến đấu tuyệt vọng. Trong khi đó bên phía quân Việt, Nghĩa dũng binh reo hò ào ào như sóng biển. Y thở dài, nghĩ lại mình từng làm nguyên soái đánh Nhật Bản, đánh Chiêm. Từng chỉ huy những đội kỵ binh mạnh nghiêng trời lệch đất. Mà bây giờ, một đoàn trên 520 chiến thuyền, 15 vạn binh, tan tác trên sông. Đội quân vô địch đang bị Nghĩa dũng binh, Ngưu binh toàn là bọn dân quê, bọn lão già, bọn đàn bà đâm chém, đuổi như đuổi vịt. Uất khí, y rùng mình.  

(Trích tiểu thuyết “Gươm Thiêng Hàm Tử” – Trần Đại Sĩ).

Phân cảnh chiến đấu tuyệt kỹ giữa Ô Mã Nhi và Trần Quốc Toản:

Ô Mã Nhi cùng 5 chiến thuyền chưa bị trúng cọc, hô quân chèo thật gấp bỏ chạy về phía bờ biển, mong thoát thân như lần trước. (Ảnh: Shutterstock)

Thấy tuyệt vọng, Ô Mã Nhi cùng 5 chiến thuyền chưa bị trúng cọc, hô quân chèo thật gấp bỏ chạy về phía bờ biển, mong thoát thân như lần trước. Nhưng phía trước 40 chiến thuyền Việt dàn ngang, chặn mất đường đi. Trên một soái hạm Việt, dưới ngọn cờ thêu 6 chữ vàng: “Phá cường địch báo hoàng ân”, Có một viên tướng trẻ, cực kỳ uy vũ, mặt đẹp như ngọc đang cầm cờ chỉ huy, mà xung quanh không võ sĩ hộ vệ; chỉ có một thiếu nữ trang phục công chúa Tống, sắc nước hương trời đứng cạnh, với con vượn trắng tay cầm cây gậy sắt khổng lồ. Y hỏi tùy tùng:

–Tướng đó là ai vậy?

–Thưa là Hoài Văn vương Trần Quốc Toản. Y là một trong 4 đại tướng vô địch của An nam. Y lại có tài dùng binh như thần. Thiếu nữ đứng cạnh y là công chúa Ngọc Hoa di thần Tống. Nếu đô đốc muốn phá trận địa của Man Việt, chạy ra biển thì phải giết cho được tên Quốc Toản.

Ô Mã Nhi cầm tù và rúc lên, Nguyễn Chiến Thắng dẫn 20 võ vệ từ chiến hạm của y phóng sang soái hạm Việt…
Binh tướng hai bên reo hò.

Ô Mã Nhi đang đấu đến hồi quyết liệt. Cạnh đó công chúa Thủy Tiên, Ngọc Hoa, Vương Chân Phương và một số tướng Việt đang lược trận. Cả Ô Mã Nhi lẫn Quốc Toản đều phát hết công lực, cứ mỗi lần hai chiêu chạm nhau lại phát ra tiếng bộp lớn. Hai người đã lui tới thành chiến hạm. Thình lình Ô Mã Nhi xỉa hai tay vào ngực Quốc Toản, định đánh bay Hầu xuống sông. Quốc Toản dùng một chiêu trong Thuần chính thập nhị thủ của công chúa Thủy Tiên. Vương chụp lấy 2 cùi chỏ y, rồi uốn cong người lên không, hai chân thúc vào huyệt á môn, phong phủ, phế du, tâm du của y. Y bay tung xuống sông. Còn vương thì đáp xuống sàn chiến hạm. Bọn Võ vệ Nguyên quẳng đao đầu hàng. Ô Mã Nhi rơi xuống sông. Vì trên người y mang giáp trụ, nên y chỉ bơi lóp ngóp được vài cái rồi chìm nghỉm. Đội nữ Nghĩa dũng dùng chài, lưới chụp y, kéo lên ngư thuyền. Nội minh tự Đỗ Hành, tổng chỉ huy Nghĩa dũng, điểm huyệt, gỡ y ra khỏi chài, trói lại, nộp cho Thượng hoàng…

Trên một dải dài 50 dặm, gần 5 trăm chiến thuyền Nguyên mắc cạn, vướng cọc, bị vỡ, bị nghiêng, bị lật. (Ảnh: Wikipedia)

Bấy giờ đã sang giờ Thân, nước sông Bạch Đằng rút xuống thấp. Trên một dải dài 50 dặm, gần 5 trăm chiến thuyền Nguyên mắc cạn, vướng cọc, bị vỡ, bị nghiêng, bị lật. Xác chết nằm nghẹt lòng sông, nằm trên chiến thuyền, nằm trên bờ. Nước sông Hồng vốn đã hồng, bây giờ thêm máu của gần 15 vạn quân Nguyên, nên càng đỏ hơn. 

Thượng hoàng, hoàng đế, Hưng Đạo vương cưỡi voi đi quan sát chiến trường dọc bờ sông. Tướng sĩ Việt cùng hô:

 – Vạn tuế! Vạn tuế…
(Trích tiểu thuyết “Gươm Thiêng Hàm Tử”-Trần Đại Sĩ).

Bài khác cùng tác giả : Đại chiến Việt Xiêm (1705-1845) – Cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài nhất sử Việt

Tác giả Minh Bảo.

Minh Bảo