Nguyễn Hữu Cảnh: Vị tướng dẹp yên hai quốc gia, mở ra vùng đất Phương Nam

Danh Tướng Việt Nam

“Bao phen quạ nói với diều Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm”… Trong hơn 300 năm lịch sử đầy biến động của mình, vùng đất phương Nam của chúng ta chứng kiến vô số thay đổi thời cuộc. Suốt thời gian đó, có những con người mà sự nghiệp của họ đã thành bất tử, tên của họ được nhân dân ca tụng, lan truyền mấy trăm năm với tình cảm vô cùng trìu mến, hóa thành những địa danh, những câu ca dao truyền miệng…Câu ca dao trên có từ rất xa xưa, trong đó có nói đến tên một vị võ tướng đã trở thành huyền thoại, đó là “ông Chưởng” – một tên gọi dân gian tôn kính của Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người đã dùng tài năng và đức độ của mình lần đầu tiên đem đến cho Đại Việt mảnh đất phương Nam vô cùng xinh đẹp này.

Dòng dõi danh tướng hàng đầu Nam triều

Nguyễn Hữu Cảnh (chữ Hán: 阮有鏡, 1650–1700), tên đúng phải là Nguyễn Hữu Kính, do tôn trọng mà kiêng húy tên ông nên sau này mà người ta đọc trại thành Cảnh. Ông làm quan đến tước Lễ Thành Hầu (禮成侯), sau này thời Minh Mạng lại được triều đình truy phong tước Vĩnh An Hầu (永安侯), là một danh tướng thời chúa Nguyễn Phúc Chu.

Nguyễn Hữu Cảnh sinh thành tại thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), là con thứ ba của danh tướng Nguyễn Hữu Dật.

Tục truyền rằng Nguyễn Hữu Cảnh là cháu 9 đời của Nguyễn Trãi. Ông nội của ông là Nguyễn Triều Văn (dòng Nguyễn Hữu, tước Triều Văn hầu, phò triều Lê và Nguyễn sơ), trước ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau theo chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) di cư vào đất Thuận Hóa.

Trong số các dòng họ lớn của miền Nam thời Nam triều về sau, thì dòng họ Nguyễn Hữu đất Quảng Bình có thể coi là dòng họ danh giá, vẻ vang nhất khi có nhiều đời từ ông đến con cháu đều làm quan đến hầu tước vào hàng khai quốc công thần, danh tiếng và đạo đức đều sáng ngời sử sách.  

Cha ông, Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, sinh nhiều con trai, trong đó có bốn người là tướng giỏi, kể theo thứ tự gồm: Nguyễn Hữu Hào (tước Hào Lương hầu, tác giả truyện nôm Song tinh bất dạ), Nguyễn Hữu Trung (tước Trung Thắng hầu), Nguyễn Hữu Cảnh (tước Lễ Thành hầu) và Nguyễn Hữu Tín (tước Tín Đức hầu).

Lần đầu bình định Champa, mở ra trấn Thuận Thành

Champa là một vương quốc từng rất hùng mạnh nằm án ngữ toàn bộ miền Trung Việt Nam thời xưa. Họ đã nổi lên như một thế lực đáng kể trong khu vực khi đã từng đánh vào tận Thăng Long của nhà Trần và quyết chiến hàng trăm năm với đế quốc Khmer hùng mạnh phía Nam. Nhưng có lẽ ý trời không phù hộ người Chăm nên quốc gia của họ dần dần tàn lụi qua vô số cuộc chiến tranh với Đại Việt. Khởi đầu từ nhà Trần, cho đến cao điểm vào thời Lê Thánh Tông, Champa ngày một thu nhỏ qua những lần bại trận. Đến thời các chúa Nguyễn thì lãnh thổ Champa chỉ còn kéo dài đến Bình Thuận, nhưng lại một lần nữa họ bị đánh bại và sáp nhập lãnh thổ. Người thực hiện điều này là Nguyễn Hữu Cảnh, một vị tướng trẻ tài năng đang độ sung sức của quân đội nhà Chúa; sách Đại Nam Thực lục – Tiền biên – quyển VII có ghi chép:

Mùa thu, tháng 8, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh làm phản, họp quân đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh. Dinh Bình Khang đem việc báo lên. Chúa sai Cai cơ Nguyễn Hữu Kính (con Nguyễn Hữu Dật bấy giờ gọi là Lễ tài hầu; chữ Tài, có chỗ viết là Thành, lại là Hòa) làm Thống binh, lấy văn chức Nguyễn Đình Quang làm Tham mưu suất lãnh quân Chính dinh, cùng quân Quảng Nam và Bình Khang đi đánh.

Mùa đông, tháng 12, lấy Lê Hoành Giảng và Nguyễn Khoa Chiêm làm thủ hợp Chính dinh.

Quý dậu, năm thứ 2 [1693], mùa xuân, tháng giêng, bọn Thống binh Nguyễn Hữu Kính đánh bại Chiêm Thành, Bà Tranh bỏ thành chạy.

Tháng 3, Nguyễn Hữu Kính bắt được Bà Tranh và bầy tôi là Tả trà viên Kế Bà Tử với thân thuộc là Bà Ân đem về. Chúa sai đổi nước ấy làm trấn Thuận Thành.”

Nguyễn Hữu Cảnh: Vị tướng dẹp yên hai quốc gia, mở ra vùng đất Phương Nam
Vùng lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa hùng mạnh một thời, từng khiến nhiều đời vua của Đại Việt e ngại. (Ảnh: Wikipedia).

Sau chiến công này, chúa Nguyễn lần đầu tiên xưng Quốc chúa, từ thời điểm đó chính thức coi mình là quốc vương một vương quốc độc lập là Đàng Trong:

Ngày Ất Mão, chúa coi việc chầu (việc quốc hiếu đã xong rồi làm lễ mừng), bầy tôi đến mừng, tấn tôn chúa làm Thái phó quốc công, lại dâng tôn hiệu là quốc chúa. Từ đấy sắc lệnh đều xưng là quốc chúa.

Mùa thu, tháng 7, Nguyễn Hữu Kính đến cửa khuyết dâng chiến tù Chiêm là bọn Bà Tranh. Chúa sai kể tội và giam ở núi Ngọc Trản, hàng tháng cấp cho tiền gạo vải lụa đủ dùng. Sai Cai đội Nguyễn Trí Thắng giữ Phố Hài, Cai cơ Nguyễn Tân Lễ giữ Phan Rí, Cai đội Chu Kiêm Thắng giữ Phan Rang (Phố Hài, Phan Rí, Phan Rang, nay đều thuộc Bình Thuận) để phòng dư đảng của Thuận Thành.

Sai sửa công phủ, những điếm quân ở các cửa trong ngoài phủ bắt đầu lợp ngói.

Tháng 8, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, lấy Tả trà viên Kế Bà Tử làm Khám lý, ba người con Bà Ân làm Đề đốc, Đề lãnh và Cai phủ, bắt mặc quần áo theo lối người kinh và sai về để vỗ yên lòng dân”. (Đại Nam Thực lục – Tiền biên- quyển VII).

Lần thứ hai bình định Champa, Hữu Cảnh lập đại công

Vốn là một dân tộc thượng võ và quật cường, người Champa không chịu dễ dàng khuất phục như thế. Họ nhân cơ hội nhà Chúa chưa ổn định nền cai trị để quật khởi lần nữa. Lần quật khởi này cũng gây khá nhiều thiệt hại, giết mất nhiều tướng lãnh cao cấp của chúa Nguyễn.

Đại Nam Thực lục- Tiền biên – quyển VII chép:

“Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh sửu, hai mặt trời cùng mọc.

Tháng 12, người Thanh là A Ban cùng với Hữu trà viên là Ốc Nha Thát ở Thuận Thành nổi loạn. Trước là A Ban đến ở Thuận Thành, vốn cùng Ốc Nha Thát đi lại rất thân. Từ lúc Bà Tranh bị bắt, hai người đều chạy về đất Đại Đồng, A Ban đổi tên là Ngô Lãng tự xưng mình có phép hô phong hoán vũ, gươm đao không thể làm bị thương. Người Thuận Thành là Chế Vinh kêu họp dân man đi theo. Đến bấy giờ đem đồ đảng cướp Phố Hài. Cai đội Nguyễn Trí Thắng đem quân chống đánh. A Ban giả đò thua, Trí Thắng đuổi theo bị phục binh giết chết. Cai đội dinh Bà Rịa tên là Dực và thư ký là Mai (không rõ họ) đem quân đến cứu viện, đều chết cả. A Ban bèn vào Phan Rí, lo rằng cai cơ Nguyễn Tân Lễ sức mạnh, mình không chống nổi, bèn sai con gái người dân Thuận Thành bỏ thuốc độc vào quả chuối cho Tân Lễ ăn. Tân Lễ bị câm. A Ban lại tung nhiều tiền bạc để ngầm kết với quân Tân Lễ làm nội ứng. Đến khi đánh, Tân Lễ bị bọn phản binh đâm chết, dinh trại của cải bị đốt và cướp gần hết. A Ban lại kéo quân đến Phan Rang. Cai đội Chu Kiêm Thắng vì quân ít không ra, đóng cửa thành tự thủ. Gặp Khám lý Kế Bà Tử vừa đến, Kiêm Thắng bắt trói ở ngoài cửa thành bảo sẽ đem chém. Ốc Nha Thát sợ [Kế Bà Tử] bị giết, nói với A Ban bỏ vây đi. Kiêm Thắng bèn thả Kế Bà Tử về”.

Nguyễn Hữu Cảnh: Vị tướng dẹp yên hai quốc gia, mở ra vùng đất Phương Nam
Quân Chăm Pa hừng hực khí thế sau khi liên tục đánh bại và tiêu diệt các tướng lĩnh của chúa Nguyễn. (Ảnh: Shutterstock).

Không những Champa nổi loạn, mà nhà Chúa còn phải đối phó với chính sự phản loạn từ bên trong những người họ hàng của mình (Tôn Thất):

“Giáp tuất, năm thứ 3 [1694], mùa xuân, tháng giêng, Chưởng cơ là Huệ và Thông (con thứ ba, thứ tư của thiếu sư Tôn Thất Diễn) mưu nổi loạn. Chưởng cơ Tôn Thất Nhuận cùng tiểu sai là Đức Nhân (không rõ họ) đem sự trạng báo lên. Kíp bắt giao xuống triều đình tra hỏi, biết hết sự thực. Huệ và Thông cùng 7 người đồng mưu đều bị giết. Thưởng cho Tôn Thất Nhuận và Đức Nhân thực ấp, tiền bạc, thực phẩm, theo thứ bực.” (Đại Nam Thực lục – Tiền biên – quyển VII)

Lần nổi loạn này khá lớn và đem lại nhiều tổn thất cho quan binh triều đình khi đi dẹp loạn. Nhà chúa Nguyễn đã mất một số tướng lĩnh cao cấp trong thời gian này. Nhưng cũng nhờ vậy mà Nguyễn Hữu Cảnh có cơ hội lập công dẹp giặc và được vinh thăng lên Chưởng cơ. Cái tên ông Chưởng của ông bắt đầu có từ lúc này:

“A Ban lại vây Phan Rang. Cai đội Chu Kiêm Thắng báo tin gấp về dinh Bình Khang. Trấn thủ Nguyễn Hữu Oai và Lưu thủ Nhuận (không rõ họ) tiến binh theo thượng đạo để cứu viện. A Ban bèn lui về Bào Lạc. Phan Rang được giải vây. Rồi Hữu Oai bị bệnh chết.

Tháng 2, A Ban tiến giữ lũy Ô Liêm. Lưu thủ Nhuận và các cai cơ Tống Tuân và Nguyễn Thành chia quân giáp đánh. A Ban chạy về Phố Châm. Quân ta đuổi theo sát. Giặc lại chạy về Thượng Dã (tiếp địa giới Chân Lạp). Nhuận bèn về, đem việc báo lên. Chúa lại ra lệnh cho Cai cơ Nguyễn Hữu Kính, và văn chức Trinh Tường (không rõ họ) tiện nghi xử trí. Cai cơ Nguyễn Thắng Hổ đem quân tiến đánh, đảng giặc dẹp yên.

Thăng Nguyễn Hữu Kính làm Chưởng cơ, lãnh Trấn thủ dinh Bình Khang.” (Đại Nam Thực lục- Tiền biên- quyển VII).

Khai phá miền Nam, bình định Chân Lạp

Công lao lớn nhất của thời đại các chúa Nguyễn có lẽ là công cuộc bảo vệ bờ cõi và khai phá thành công miền Nam, vựa lúa lớn nhất cả nước. Mùa thu tháng 8 năm Mậu Dần 1698 có lẽ là mùa thu đẹp nhất suốt nghìn năm lập quốc của dân tộc vậy.

Sử chép:

“Năm Mậu Dần (1698) mùa xuân, chúa sai Hữu Cảnh làm Thống suất, đem quân đi kinh lược Chân Lạp, lấy đất Đồng Phố, đặt làm phủ Gia Định phân chia đất ấy, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long, đặt doanh Trấn Biên, lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng doanh Phiên Trấn. Mở đất nghìn dặm, dân được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính trở vào nam cho ở đất ấy. Đặt xã, thôn, phường ấp, khai khẩn ruộng đất, định ngạch tô thuế, làm sổ đinh. Đến lúc về, Hữu Cảnh lại lĩnh trấn như cũ”.
(Đại Nam Liệt Truyện-Nguyễn Hữu Cảnh)

Mở rộng bờ cõi tuy không dễ, nhưng làm thế nào để vỗ yên dân chúng mới là việc khó nhất. Nguyễn Hữu Cảnh với tấm lòng khoan dung, thương dân cùng tài quản trị tuyệt vời đã đem lại sự yên bình cho miền Nam chỉ sau một thời gian rất ngắn. Sử cũ còn ghi lại những việc ông làm để ổn định miền Nam. Ân uy của ngài phủ đến cả lưu dân Hoa Việt và Miên:

“Ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ. Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch”. (Gia Định thành thông chí-Trịnh Hoài Đức).

Suốt một thời gian dài hàng thế kỷ, công cuộc vừa khai phá vừa chiến đấu bảo vệ vùng đất mới luôn khó khăn và gian khổ. May mắn nhờ có các văn thần và võ tướng tài năng nên dẫu có trải qua nhiều phen binh lửa nhưng vẫn giữ vững được lãnh thổ. Năm 1699 cũng lại là một năm khá biến động với các tướng sĩ vùng biên cương phía Nam này:

“Kỷ mão, năm thứ 8 (1699), mùa thu, tháng 7, Nặc Thu nước Chân Lạp làm phản, đắp các lũy Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam, cướp bóc dân buôn. Tướng Long Môn là Trần Thượng Xuyên đóng giữ Doanh Châu (nay thuộc Vĩnh Long) đem việc báo lên.

Mùa đông, tháng 10, lại sai Nguyễn Hữu Kính làm Thống suất, Cai bạ Phạm Cảm Long làm Tham mưu, Lưu thủ Trấn Biên là Nguyễn Hữu Khánh làm tiên phong, lãnh quân hai dinh Bình Khang, Trấn Biên, và thuộc binh 7 thuyền dinh Quảng Nam, cùng với tướng sĩ Long Môn đi đánh.” (Đại Nam Thực Lục tiền biên- quyển VII).

Không may cho nước Chân Lạp, lần này người cầm quân là một tướng quân tài năng hàng đầu của quân đội Đàng Trong:

“Tháng 2, Nguyễn Hữu Kính đem quân các đạo tiến vào nước Chân Lạp, đóng ở Ngư Khê (Ngư Khê: Rạch Cá), sai người dò xét thực hư, chia đường tiến quân.

Tháng 3, Thống binh Trần Thượng Xuyên cùng quân giặc đánh liên tiếp nhiều trận đều được. Khi quân ta đến lũy Bích Đôi và Nam Vang, Nặc Thu đem quân đón đánh. Nguyễn Hữu Kính mặc nhung phục đứng trên đầu thuyền, vung gươm vẫy cờ, đốc các quân đánh gấp, tiếng súng vang như sấm. Nặc Thu cả sợ, bỏ thành chạy. Nặc Yêm (con vua thứ hai Nặc Nộn) ra hàng, Hữu Kính vào thành, vỗ yên dân chúng.

Mùa hè, tháng 4, Nặc Thu đến cửa quân đầu hàng, xin nộp cống. Nguyễn Hữu Kính báo tin thắng trận rồi lùi quân đóng đồn ở Lao Đôi, kinh lý việc biên giới”.
(Đại Nam Thực Lục tiền biên- quyển VII).

Ý trời khó cưỡng, vĩnh biệt Đức Chưởng Cơ

Cổ nhân thường hay nói: “Việc tốt chẳng kéo dài lâu” và “Có được ắt có mất”. Điều này quả là chí lý, vì chỉ sau 2 năm thành lập miền Nam, quân dân xứ này lại phải đột ngột chia tay vị tướng quân tài ba kính mến của mình:

“Nặc Thu cũng đến quân dinh xin hàng, Hữu Cảnh với lòng thành thực vỗ về yên ủi. Cho Nặc Thu về thành La Bích chiêu tập lưu dân. Còn mình dẫn quân về bãi Sao Mộc, báo tin thắng trận. Gặp mưa to gió lớn, núi Lao Đôi ở bãi trước bị sạt lở. Hữu Cảnh đêm mộng thấy thần bảo rằng: “Tướng quân nên về sớm, chứ ở lâu đây không lợi”. Hữu Cảnh cười, rằng: “Mệnh ta ở trời, há ở đất này đâu”. Thức dậy thân thể nhọc mệt. Nhân ngày tết Đoan ngọ, Hữu Cảnh gượng dậy, cùng uống rượu mua vui với các tướng tá, thình lình thổ ra một cục máu, Hữu Cảnh lấy tay áo che đi, không để cho mọi người biết để yên lòng quân. Đến lúc ốm nặng, Hữu Cảnh than rằng: “Ta muốn nối chí ông cha, hết sức báo nước, ngặt vì số trời có hạn. Chứ há phải sức người làm được đâu?” Bèn dẫn quân về, đến Rạch Gầm(66) Hữu Cảnh chết, thọ 51 tuổi”. (Đại Nam Liệt Truyện).

“Chúa nghe tin thương tiếc, tặng Hiệp tán công thần đặc tiến chưởng dinh, thụy là Trung cần. Cho vàng lụa để hậu táng. Về sau thiêng lắm, người Chân Lạp lập đền thờ (năm Gia Long thứ 5 được tòng tự ở Thái miếu, năm Minh Mệnh thứ 12, phong Vĩnh An hầu).
(Đại Nam Thực Lục tiền biên- quyển VII).

Ngàn đời còn thương tiếc, anh linh bảo hộ dân Nam

Ngày Nguyễn Hữu Cảnh qua đời, chính là ngày đau buồn nhất của toàn thể quân dân miền Nam, khi mất đi một người bảo hộ, một quan phụ mẫu đáng trọng. Dẫu thời gian Ngài ở xứ này chưa đến ba năm, nhưng lại chiếm trọn cảm tình và lòng tôn kính của nhân dân cả Chân Lạp và Đại Việt: 

“Người Chân Lạp lập đền thờ ở đầu bãi Nam Vang. Ở chỗ ông đóng quân, và ở sông đạo Đông Khẩu là chỗ ông đi qua, nhân dân nhớ công đức, đều lập đền thờ. Người ta gọi bãi ấy là bãi ông Lễ, sông ấy là sông ông Lễ vì tước phong của Hữu Cảnh là Lễ Tài hầu. Bãi Đại Phố Trấn Biên là nơi đỗ quan tài, nhân dân cũng lập đền thờ. Chỗ nào cũng linh ứng”.
(Đại Nam Liệt Truyện – Nguyễn Hữu Cảnh).

“Sau khi Nguyễn Hữu Cảnh mất, người Cao Miên lập miếu thờ ông ở đầu châu Nam Vang. Nơi cù lao ông nghỉ bệnh, nhân dân cũng lập đền thờ, được mang danh là Cù lao ông Lễ. Còn chỗ đình quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ. Các miếu ấy đều được linh ứng. Vậy có phải do lòng trung thành chính khí của ông lưu hành xa rộng khắp trong trời đất chăng?” (Gia Định thành thông chí-Trịnh Hoài Đức).

Khắp nơi trên dải đất Nam Bộ từ xưa đến nay, hầu như ở đâu cũng thấy đền thờ của Ngài, toàn là những ngôi đình lâu đời, bề thế và rất linh thiêng. 

Ví dụ như đình Châu Phú có tên chữ là Trung Nghĩa Từ (chữ Hán: 忠 義 祠), còn được gọi là Lễ Công Từ Đường (gọi tắt là đền Lễ Công, dân chúng quen gọi là đền Ông). Đền tọa lạc tại góc đường Trần Hưng Đạo – Nguyễn Văn Thoại, thuộc phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một ngôi đình xưa nhất của tỉnh, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, và là ngôi đình vào loại lớn và đẹp nhất Nam Bộ. Đình này được kiến tạo trong khoảng từ năm 1817-1828, do Thoại Ngọc Hầu khi làm Trấn thủ vùng An Giang xây dựng.

Ngoài Châu Phú, những nơi làng xóm lập nên trên đất mới Nam Bộ, dân làng dựng đình đều thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ông là Thần hoàng Bổn cảnh của rất nhiều làng ở miền Nam. Hiện nay, thật khó có thể thống kê hết được, vì có đến hàng trăm ngôi đình thờ ông. Có lẽ do ông là người khai phá đầu tiên của Nam Bộ, lại linh ứng giúp dân sau khi mất, nên ý thức thờ phụng ông đã làm nên một điểm tựa tâm linh vững vàng trấn trụ trong lòng người dân miền Nam giữa cõi biên thùy đầy bất ổn này vậy.

Lời bàn: 

Sự nghiệp to lớn của Nguyễn Hữu Cảnh đối với vùng đất Nam Bộ này có lẽ đã quá nhiều người biết. Nếu ca ngợi thêm từ nào chỉ có thể là rườm lời mà thôi, vì Ngài đã hóa thân vào trong lòng của từng người dân, từng ngọn cỏ cây ở xứ này. Suốt mấy trăm năm binh lửa của miền Nam, có lẽ sự linh thiêng và niềm tin vào Lễ Công là nguồn gốc của sự kiên cường của những lưu dân bám trụ và xây dựng nên mảnh đất xinh đẹp này chăng? Quả thật là:

“Chân Lạp trần thanh, Đông Phố bách niên lưu vĩ tích,
Sầm Giang tinh vẫn, Tây thùy thiên cổ cảnh dư uy”.

Tạm dịch:

“Chân Lạp bụi tan, Đông Phố trăm năm còn vĩ tích
Sầm Giang sao rụng, cõi Tây nghìn thuở khiếp uy thừa”.

(Hai câu đối ở đền Châu Phú, ngôi đền lớn nhất miền Nam thờ Nguyễn Hữu Cảnh).

Tác giả Minh Bảo. Từ NTDVN.com

Minh Bảo