VIỆT SỬ GIAI THOẠI

Người kể chuyện Sử

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa

Chia sẻ với bạn bè :

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa mở đầu cho hành trình giao thoa văn hóa Việt – Chăm và sự hình thành Quốc gia Việt Nam hiện đại.

Thông qua những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ, biên giới của nước Đại Việt không ngững mở rộng về phía Nam và từ đời vua Lê Thánh Tông đã kéo dài đến vùng đất Phú Yên. Từ năm 1306, người Việt đã làm chủ vùng đất phía Nam đến bờ Bắc sông Thu Bồn, nghĩa là đã làm chủ một phần lớn tỉnh Quảng Nam ngày nay.

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa và hành trình giao thoa văn hóa

Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau như cách trở về giao thông, vùng đất xa xôi nên triều đình không thể kiểm soát được, người Việt ở phương Bắc cũng không quen với khí hậu khắc nghiệt nơi đây nên nhà Trần không đặt bộ máy hành chính nơi đây dù các triều đại về sau của phong kiến Đại Việt luôn xem đây là vùng đất đai của mình về mặt biên bản.

Người Việt đến cư trú ở vùng đất kinh đô của người Chăm cũng từ rất sớm thông qua các cuộc chiến tranh có thể đã có những người lính Việt ở lại chung sống với cộng đồng dân Chăm đông đúc, hoặc là những binh sĩ được phân công ở lại trấn giữ vùng đất mới chiếm được. Những người ở lại này đã chung sống hòa hợp với người bản xứ nhưng nhìn chung là số lượng không nhiều và sự di cư này diễn ra một cách lẻ tẻ phân kì.

Sử liệu để lại đã cho biết trước thế kỷ thứ X, khi mà người Việt còn đang chịu ách đô hộ của nhà Đường phương Bắc thì người Chăm đã lập nên một vương quốc hùng mạnh đóng đô ở Trà Kiệu. Quốc gia ấy đã nhiều lần đánh sang biên giới và dĩ nhiên sẽ bắt không ít người Việt đưa về. Trong lịch sử của vương quốc Chămpa cũng ghi nhận có một vị vua tên Phạm Văn là người Giao Châu, người này đã lập nên một vương triều kéo dài gần 100 năm ở đất Chiêm Thành. Đó có lẽ là những người Việt đầu tiên đến định cư nơi đất của người Chăm mà chúng ta còn biết đến.

Sử cũ cũng cho biết cuộc viễn chinh của vua Lê Đại Hành năm 982 đã sang tận kinh đô Đồng Dương của Chiêm rồi đóng ở đó gần 1 năm. Trong thời gian này diễn ra một sự kiện là viên quan quản giáp tên Lưu Kế Tông đã trốn ở lại để tự xưng làm vua miền Bắc nước này và chắc hẳn đã kéo theo không ít binh lính người Việt cùng ở lại.

Năm 1306 với sự kiện Huyền Trân công chúa được gã cho Chế Mân thì vùng đất từ Bắc Hải Vân đến sông Thu Bồn đã thuộc về Đại Việt. Đã có một số dân Việt đến tiếp nhận vùng đất này nhưng có lẽ không nhiều vì đường xá xa xôi và khí hậu cũng khác biệt rất nhiều. Như vậy từ trước năm 1402 hàng trăm năm thì người Việt đã có mặt ở vùng đất Quảng Nam ngày nay nhưng với những lần di cư rải rác với số lượng không nhiều.

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chămpa
Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa mở đầu hành trình giao thoa văn hóa

Công cuộc di dân đến khai phá và định cư ở phía nam của người Việt có lẽ bắt đầu từ thời Hồ mới diễn ra bằng con đường chính thức, bắt đầu từ lộ Thăng Hoa vào năm 1402.Sau khi chiếm được đất Cổ Lũy và Chiêm Động của người Chiêm, Hồ Quý Ly đã đem chia thành bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt quan cai trị.

Các sử liệu còn lại của nước ta đều nói đến vấn đề này. Sau khi mất đi vùng đất quan trọng, dân Chiêm đã bỏ vào vùng đất phía Nam khá nhiều, những người ở lại được sử dụng các công việc chính trị và trị an là chủ yếu.

Tình thế này buộc Hồ Hán Thương phải ra lệnh cho dân chúng các vùng từ Nghệ An đến Thuận Hóa nếu ai không có ruộng đất thì khuyến khích vào vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa để khai khẩn đất đai, thu nhiều mối lợi.

Lại lệnh cho các nhà giàu hiến trâu bò hoặc các công cụ lao động cho dân vào khai hoang thì sẽ được khen thưởng. Những di dân vào đất mới phải thích tên châu mình đến ở vào nơi cánh tay và biên chế thành quân ngũ.

Theo Đại Việt sử kí toàn thư“họ Hồ hạ lệnh cho dân có của mà không có ruộng ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào ở để khai khẩn, dân ấy phải thích hai chữ tên châu mình trên cánh tay; lại mộ người có trâu đem nộp và cấp cho phẩm tước, để lấy trâu cấp phát cho dân cày. Người Chiêm Thành không có họ, từ đó từ Thăng Hoa trở vào Nam, ai có họ là dân Việt mới đến sau”.

Cùng với việc đưa dân vào khai khẩn ở vùng đất mới, các vua nhà Hồ đã cử Hoàng Hối Khanh làm Thái thú Thăng Hoa kiêm Tiết chế trấn Tân Ninh, Đặng Tất làm Đại tri trâu…cùng chăm lo công việc khai khẩn vùng đất mới này.

Năm 1405, Hồ Quý Ly đã chơi một chiêu bài cao tay khi phái Nguyễn Ngạn Quang làm Tuyên phủ sứ kiêm Chế trí sứ trấn Tây Ninh và lộ Thăng Hoa, thống lĩnh cả vùng đất mới bình định. Đây có thể xem là những chính sách mang tính pháp lí đầu tiên đã được hai triều đại phong kiến Việt Nam và Chiêm thành cùng thỏa thuận và chấp nhận.

Tháng 12 năm 1445, vua Lê Nhân Tông lệnh cho Lê Khả đem 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Quân đội Đại Việt với số lượng và khí thế áp đảo đã nhanh chóng đánh tới Trà Bàn – kinh đố của Chiêm Thành lúc bấy giờ nhưng trận đánh này chỉ mang tính răn đe chứ không chiếm đất. Sau chiến thắng này, người Chăm buộc phải rút khỏi vùng đất Quảng Nam, người Việt lại quay trở về  vùng đất ấy.

Và cũng sau trận đánh này chắc hẳn đã có một số lượng lớn binh lính được cắt cử ở lại trông coi vương triều Ma Ha Quý Lai do triều đình nhà Lê dựng nên và làm nhiệm vụ bảo vệ những người Việt đang sống ở đây. Cũng rất có thể đã có một bộ phận dân cư không nhỏ theo gót chân chiến thắng của quân đội mà vào Nam để hưởng thành quả và ưu thế.

Vào năm 1471, đời vua Lê Thánh Tông triều Hậu Lê, triều đình đã tổ chức cải tổ lại hệ thống hành chính ở các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, cho lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam để cai quản và giao cho Phạm Nhữ Tăng quyền đứng đầu. Quảng Nam đô thống phủ đặt ngay tại thành Đồ Bàn – kinh đô Vijaya cũ của nước Chiêm Thành. Cũng từ đây, dân Việt di cư vào nam ngày một đông đảo hơn, bao gồm nhiều hạng người khác nhau, cùng chung sống và hòa nhập cùng nhân dân bản địa để xây dựng một vùng đất mới.

Nước Đại Việt đầu thời Hậu Lê bước vào giai đoạn ổn định và hưng thịnh hơn trước, tạo nên một thế và lực mới trong việc mở mang lãnh thổ và cai trị những vùng đất ở xa của đất nước. Chính sự ổn định của cả thế và lực của nước ta là tiền đề và động lực thuận lợi cho chủ trương chuyển cư quy mô lớn, tăng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu khai thác những tiềm năng kinh tế của vùng đất mới.

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chămpa mở đầu hành trình giao thoa văn hóa
Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa mở đầu hành trình giao thoa văn hóa

Công cuộc Nam tiến để khai phá những vùng đất mới của dân Việt trong thời gian này được diễn ra với quy mô tập trung và hết sức đa dạng phong phú.

Cuộc di cư này bao gồm nhiều thành phần người khác nhau, bằng nhiều con đường khác nhau (lúc này đường bộ từ Bắc vào vùng Quảng Nam đã thông suốt nhưng vẫn còn rất nguy hiểm, vì vậy đường biển được sử dụng nhiều hơn).

Có những đoàn di dân bị tách rẽ trên đường đi của mình. Họ không thống nhất đi một mạch từ nơi này sang nơi kia mà phân thành nhiều giai đoạn, có khi sóng biển đưa họ lênh đênh đến vùng Bình Định, Phú Yên, cũng có khi họ phát hiện những vùng đất trù phú trên đoạn đường di chuyển của mình nên dừng lại và lập làng lập ấp. Nhưng đông đảo hơn cả là bộ phận dân Việt đến định cư và sinh sống tại vùng đất Quảng Nam.

Để khuyến khích việc di dân vào Nam, vua Lê Thánh Tông đã cho ban hành nhiều chính sách đặc biệt như giảm thuế khóa, cấp dường công cụ lao động cho nhân dân, lập đồn điền ở những nơi xung yếu hay còn nhiều đất hoang. Theo sách Thiên Nam dư hạ tập thì thời ấy cả nước có 43 đồn điền, trong đó có ghi các sở đồn điềnở Thăng Hoa, trấn Quảng Nam.

Công tác di dân, lập ấp để ổn định vùng đất mới của các vương triều phong kiến nước ta không diễn ra một cách suôn sẻ thuận lợi mà luôn phải đối mặt với sự chống đối thù địch của người Chăm với mưu đồ tái chiếm vùng đất cũ của mình.

Vậy nên mới nói công lao khai hoang mở đất để nối rộng lãnh thổ nước Việt mà ông cha ta tạo dựng là vô cùng đáng quý. Mà người Việt vào Nam cũng rất nhiều thành phần, rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, trong đó phần lớn là nông dân hoặc binh lính trở về sau các cuộc chiến tranh, có lẽ vì quen với vùng đất mới hay vì nhiều lý do khác nhau đã ở lại đây đã an cư.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có nói đến việc từ sau năm 1474 chính quyền nhà Lê đã quyết định đày các phạm nhân vào các “châu xa”, tức là những vùng biên cương của Đại Việt lúc bấy giờ.

Người mắc tội nhẹ thì lưu đày đến Thăng, Hoa (Thăng Bình, Tam Kì của Quảng Nam ngày nay), tội nặng thì lưu ở Tư, Nghĩa (thuộc Quảng Ngãi, Bình Định). Trong Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức) cũng ghi rõ là người mắc tội bị kết tội lưu đều bị đày đến châu ngoài tức đày vào châu Thăng, Hoa.

Theo Việt sử xứ Đàng Trong : “trong các đất đai của vua Lê Thánh Tông vừa mới thu hoạch, có miền Vijaya, vua đặt là phủ Hoài Nhơn, tức tỉnh Bình Định ngày nay, là vùng đất rộng rãi, có những đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn, nên chắc đã hấp dẫn những dân xa xôi hơn, như Nghệ An, vốn quen nghề ghe thuyền; họ đã vượt biển di cư đến đó. Đời Lê, còn những phần tử bắt buộc phải di cư vào Nam, ấy là những tù nhân bị kết án lưu. Bấy giờ, trong ngũ hình, về lưu hình (đày) có 3 bậc: lưu cận châu là lưu đi các xứ thuộc Nghệ An, Hà Hoa (tức Hà Tĩnh ngày nay); lưu ngoại châu là lưu đi các xứ thuộc châu Bố Chánh; lưu viễn châu là lưu đi các xứ thuộc châu Tân Bình. Sau khi lấy được các đất từ Thăng, Hoa trở vào, năm Hồng Đức thứ 5 (1474) vua Thánh Tông sắc chỉ rằng tù xử tội lưu đi cận châu thì sung vệ quân ở Thăng, Hoa, đi ngoại châu thì xung sung Vệ quân ở Tư, Nghĩa, đi viễn châu thì sung Vệ quân Hoài Nhơn, tội nhân được tha tội chết cũng sung vào Vệ quân Hoài Nhơn”.

Bên cạnh những thành phần dân cư kể trên, trong đoàn quân dân đến khai thác vùng đất giáp biên mới mẽ này còn có các vị tướng hay quan lại từ đời Lê Thánh Tông cho đến khi Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng vào trấn thủ Thuận Hóa.

Phần lớn đoàn người tiên phong này là người gốc Thanh Hóa tự nguyện lìa bỏ quê hương để đến vùng đất mới khai khẩn và tìm kiếm cơ hội. Đoàn người này về sau sẽ góp công khai thác và xây dựng xứ Đàng Trong ngày một mở rộng và giàu mạnh.

Như vậy, so với các triều đại Trần –  Hồ trước đó thì đến thời Hồng Đức đã hội đủ đầy đủ các điều kiện cho việc di dân, cả về khách quan lẫn chủ quan. Một đặc điểm về sự di dân của người Việt trong giai đoạn này là việc người dân di cư thường đi theo từng nhóm lớn nhỏ khác nhau, có khi là cả làng cùng đi và không phải lúc nào họ cũng có những chuyến đi thông suốt một mạch từ vùng đất khởi nguồn cho đên vùng đất mới mà họ mong muốn.

Theo các tài liệu tra cứu gia phả của các dòng họ lớn ở vùng Quảng Nam thì con đường bộ lúc bấy giờ nối liền từ đất Thanh – Nghệ đến tận đèo Cù Mông đã hình thành nhưng còn rất nguy hiểm nên người dân di cư chủ yếu đi theo đường biển. Chính vì thế chuyến đi của họ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thiên nhiên, hành trình có khi diễn ra thành từng chặng, nhiều đoạn, có khi quanh co, xuôi ngược. Có những hành trình diễn ra qua nhiều thế hệ mới đến được nơi định cư lâu dài và tất nhiên có những gia đình phải dừng lại nửa chừng.

Theo các nguồn tư liệu lịch sử, ta có thể nhận thấy cơ cấu cộng đồng dân di cư bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Có thể kể đến như sau :

  • Những người lính đánh trận được phân công ở lại trông giữ vùng đất mới.
  • Những người nông dân nghèo không có ruộng đất, bị bắt ép hoặc theo khuyến dụ của vua mà vào khai khẩn vùng trong với những  chính sách khuyến khích.
  • Những tội đồ của triều đình bị bắt đi đày khổ sai.
  • Vào thời Nam – Bắc phân tranh và giai đoạn Trịnh – Nguyễn về sau lại có thêm những người là tù binh hay hàng binh hoặc là dân ở vùng Nam Nghệ Tĩnh bị bắt đưa vào Đàng Trong khai khẩn đất đai.
  • Và một thành phần tuy không nhiều nhưng có đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của vùng đất mới này là những người thích phiêu lưu tìm kiếm vùng đất mới, những người thợ thủ công, muốn thử thời vận.

Từ năm 1561 cho đến 1608, ở vùng ngoài liên tiếp gặp phải những năm mất mùa đói kém làm cho người ta càng đổ xô vào vùng đất phía Nam để tị nạn mong tìm được con đường sống. Đặc biệt sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quảng năm 1558 thì số lượng người di cư vào Nam ngày một nhiều hơn nữa. 

Đại Việt Sử ký toàn thư tập 3, tr 147 đã chép về vùng đất này như sau : “Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính mệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răng tướng sĩ bản bộ. Cấm chỉ, trừ bọn hung ác, dân hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến mua bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắn sức.”

Ngoài những lần di cư dưới thời Trần – Hồ – Lê, đến khi các chúa Nguyễn vào trấn giữ vùng đất Phía Nam thì công cuộc di dân và khai khẩn Đàng Trong lại tiếp tục diễn ra sôi nổi. Nhưng trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại tìm hiểu về những đoàn người Việt đã di cư vào sống ở vùng đất Quảng Nam, tức là vùng đât Thăng, Hoa dưới thời Lê Thánh Tông như đã nói ở trên.

Những cuộc di dân của người Việt vào đất Chăm pa

Đoàn Nhật Quang.



Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.