Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng (938 – 981 – 1288)

Các Cuộc Kháng Chiến

Đất nước ta có nhiều kỳ quan cùng địa thế hiểm trở hùng vĩ được thiên nhiên ưu ái ban tặng. Đó cũng là những bảo vật trấn quốc đã góp phần to lớn vào những chiến công oanh liệt chói ngời sử sách. Sông Bạch Đằng là một trong những nơi như thế. Đây cũng là nơi duy nhất ba lần ghi dấu đại thắng của thủy binh Đại Việt trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Góp phần làm nên những chiến công hào hùng trên con sông này, ngoài sự anh dũng chiến đấu của quân dân và tài cầm binh của các thống soái thì vẫn còn đó những nhân tố kỳ diệu trong dân gian…

Kỳ 1: Bố Cái Đại Vương hiển thánh giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán

Sơn hà hiểm yếu trời kia đặt, hào kiệt công danh đất ấy từng…

Sông Bạch Đằng hay Bạch Đằng Giang (chữ Hán: 白藤江) còn mang tên Nôm giản dị là Sông Rừng, hiệu là sông Vân Cừ. Nó là một con sông nằm giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km, nằm trong hệ thống sông Thái Bình.

Sông rộng hơn 2 dặm, có nhiều núi cao và nhiều nhánh sông đổ về. Tính từ thượng lưu nối với sông Đá Bạc đến cửa Nam Triệu. Phía trên, sông Bạch Đằng tiếp nước sông Đá Bạc từ Lục Đầu qua sông Kinh Thầy đổ xuống và các dòng nước sông Gia Đước, sông Thải, sông Giá bên hữu ngạn, còn có dãy núi đá vôi Tràng Kênh với nhiều hang động, sông lạch, thung lũng… Phía tả ngạn có sông Khoai, sông Xinh đổ về. Hạ lưu sông Bạch Đằng chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh. Lúc thủy triều dâng, mặt sông mênh mông trải rộng vài km. Lòng sông vừa rộng vừa sâu trung bình khoảng 8m -> 11m, có chỗ sâu tới 16m và cửa sông giáp biển cũng sâu 13m -> 14m. Độ chênh lệch giữa mức nước lên cao nhất và mức nước xuống thấp nhất vào kỳ nước cường từ 2m5 -> 3m2 và vào kỳ nước kém 0,5m -> 1m, Bạch Đằng giang ào ào chảy xuôi ra biển. Với chế độ nhật triều, thời gian từ khi nước triều lên cho đến lúc xuống chỉ trong vòng một ngày.

Vì sông lớn và chế độ thủy triều đầy nguy hiểm, nên dân gian đến nay còn truyền câu:

“Con ơi, nhớ lấy lời cha.
Nước lên, gió bấc chớ qua sông Rừng”.

Nguyễn Trãi cũng từng viết trong Dư Địa Chí : “Sông Vân Cừ rộng 2 dặm 69 trượng, sâu 5 thước, trên có núi cao chót vót, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận chân trời, thật là nơi hiểm yếu. Nước ta khống chế kẻ Bắc, sông này là chỗ cổ họng”.

Sông Bạch Đằng ngày nay
Sông Bạch Đằng ngày nay

Sông Bạch Đằng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy vùng Đông Bắc nước ta, và nối liền với con đường biển trọng yếu giữa nước ta và Trung Quốc. Phía trong là bờ biển, phía ngoài là một loạt các đảo lớn nhỏ của vịnh Hạ Long và Bái Tử Long ngăn cách với biển cả, thuận lợi cho tàu thuyền đi lại. Từ điểm trọng yếu ấy mà các triều đại phương Bắc từ trước cho đến mãi sau này đều nghiên cứu kỹ lưỡng đường thủy an toàn này từ Quảng Đông (Trung Quốc) xuyên qua vịnh Quảng Ninh vào hệ thống sông Bạch Đằng, rồi nhanh chóng hội quân với kỵ binh ở đất liền, đồng thời nhờ vào những hòn đảo lớn nhỏ che chắn chúng sẽ tránh được các cơn bão và thẳng tiến vào Thăng Long nước ta. Chúng đặt tên cho con đường biển xâm lược này là Đông Kênh.

Tiễu trừ Kiều nghịch tặc, Ngô chúa chống ngoại xâm…

Ngô Quyền sinh ngày 12/3/897, trong một dòng họ hào trưởng ở châu Đường Lâm. Ông được dân gian ca ngợi là: “Bậc anh hùng tuấn kiệt, trí dũng”. Điều kỳ diệu ở Ngô Quyền là khi mới sinh ra có ánh sáng lạ đầy nhà, dung mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng. Ngô Quyền lớn lên khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc bằng đồng.

Ngô Quyền khi mới sinh ra có ánh sáng lạ đầy nhà, dung mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng. Ngô Quyền lớn lên khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc bằng đồng.

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết để cướp ngôi Tiết độ sứ. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ, ông liền tập hợp lực lượng kéo quân ra Bắc đánh Kiều Công Tiễn để trị tội phản chủ. Kiều Công Tiễn sợ hãi, bèn sai người sang cầu cứu Nam Hán. Trong khi ấy, Kiều Công Chuẩn (con Kiều Công Tiễn) không đồng tình với kế sách của cha, bí mật sai Kiều Công Hãn mang thư cấp báo cho Ngô Quyền rõ tình hình quân Nam Hán sắp kéo sang. Ngô Quyền quyết định nhanh chóng: trước giết Kiều Công Tiễn, sau chuẩn bị đối phó quân Nam Hán. Vì được tin mật báo nhanh và hành động quyết đoán, khi quân Nam Hán chưa kịp kéo sang, mùa thu năm 938, Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiễn rồi.

Hào kiệt dâng kế lạ, Bắc quân hết đường về…

Sách An Nam chí lược của Lê Tắc viết rằng: “Công Tiễn bị Ngô Quyền vây, sức yếu bị thua mới cầu cứu nhà Nam Hán” .

Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép: “Lưu Cung tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện. Lưu Cung hỏi kế ở Sùng Văn sứ là Tiêu Ích, Tiêu Ích nói: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến”. Vua Nam Hán không nghe, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào.”

Kiều Công Hãn thấy Ngô Quyền lo quân ít, định chiêu mộ thêm quân để chống giặc, ông bèn khuyên rằng:

“Nam Hán mạnh về thủy chiến, nếu sang nước ta tất đi đường biển, nhất định sẽ vượt qua sông Bạch Đằng để vào Đại La. Ta nên bày trận đánh chúng ngay trên sông Bạch Đằng”.

Ngô Quyền khen kế đó hay, liền nghĩ đến địa thế hiểm yếu của thiên nhiên mà bày ra thế trận cọc ngầm trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt giặc.

Sử chép:

“Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng: Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào thoát ra”. 

Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào thoát ra.

Một lời khuyên của thức giả có khi đáng giá hơn sức mạnh của trăm vạn hùng binh. Vì thế trong chiến công đánh thắng quân Nam Hán, công đầu nên kể đến Kiều Công Hãn, một vị hào kiệt đầy mưu lược và lương thiện chính trực hiếm có trong lịch sử. Dù biết ông nội của mình là Kiều Công Tiễn sẽ bị Ngô Quyền giết nhưng vì đại nghĩa ông vẫn đặt quốc gia và bách tính lên trên gia đình. Có thể nói lòng lo lắng cho nước nhà và tầm nhìn sáng suốt của ông đã tạo nên nguồn cảm hứng để Ngô Quyền thực hiện thành công trận phục kích lưu danh thiên cổ này.

Trời giúp trang hảo hán, phò vua cứu dân lành…

Tuy đã có mưu sâu kế lạ, quân tướng đang khí thế ngút trời và được lòng dân, nhưng để Ngô Quyền thực hiện thành công chiến lược “tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả” kia thì lòng người là cần nhưng chẳng thể thiếu ý Trời và những yếu tố khác. Ví như để có thể dụ địch đến bãi cọc đã đóng mà không bị phát lộ thì phải nắm thật vững quy luật thủy triều theo từng giờ và tính toán đúng thời điểm để khi thuyền địch tới bãi cọc rồi, thủy triều mới rút; có như vậy thuyền địch mới bị mắc cạn và bị cọc đâm. Nhưng nắm được quy luật của thiên nhiên mới là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải có sự liên lạc hiệu quả để hiệp đồng tác chiến của một đoàn quân thủy có quy mô lớn. Muốn làm được như vậy thì tướng lĩnh phải tài năng, quân lính phải khí thế, kinh nghiệm thực chiến cần phong phú, kiến thức về địa hình, địa vật phải chắc, quân kỷ phải nghiêm minh…

Nhưng có lẽ Ngô Quyền sinh ra là chân mệnh thiên tử, người mang sứ mệnh giải thoát cho dân Nam khỏi ách đô hộ nghìn năm của phương Bắc và làm nên lịch sử ngay tại dòng sông này. Nên ông Trời đã khéo an bài sắp đặt mọi nhân tố cần thiết cho ông từ trước.

Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Để dụ địch đến bãi cọc đã đóng mà không bị lộ cần nắm thật vững quy luật thủy triều theo từng giờ và tính toán thời điểm sao cho tới bãi cọc rồi, thủy triều rút; thuyền địch mới bị mắc cạn và bị cọc đâm

Năm 938, khi Ngô Quyền về vùng ven biển Đông Bắc (An Dương) chiêu mộ lực lượng chuẩn bị đối phó với quân Nam Hán xâm lược, thì được các thanh niên địa phương hết lòng hỗ trợ, có thể kể đến: Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận, ba anh em họ Lý ở làng Hoàng Pha (nay thuộc xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng) là Lý Minh, Lý Khả, Lý Bảo… cùng hàng trăm trai tráng quanh vùng. Họ đều là những người dân ven biển, sống bằng nghề sông nước nên lập tức được trọng dụng ngay. Nguyễn Tất Tố còn trở thành gia tướng cho Ngô Quyền.

Cũng cần nói thêm, Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận vốn sinh ra và lớn lên ở vùng ven biển, họ bơi lội giỏi, tinh thông võ nghệ và am hiểu tường tận sông nước Bạch Đằng. Thanh niên trai tráng trong làng theo chân họ vốn từ nhỏ cũng sống bằng nghề chài lưới. Đây chính là nhân tố cuối cùng mà Ngô Quyền cần: một đạo thủy quân thiện chiến và các tướng lãnh thông thuộc địa hình địa phương.

Nguyễn Tất Tố xin được tình nguyện làm người nhử quân giặc vào trận địa cọc. Ông nói rằng: “Vùng sông nước này tôi rất quen thuộc, biết được lúc nào thì nước lên nước xuống, nay muốn giặc mắc bẫy thì chỉ có cách dùng thuyền nhỏ ra khiêu chiến, chọn đúng thời khắc thích hợp thì giả thua bỏ chạy. Bọn giặc vốn kiêu ngạo tưởng quân ta thất thế tất sẽ hùng hổ đuổi theo; ta sẽ dụ chúng vào bẫy cọc, đến khi nước rút nhanh, thì thuyền chiến của chúng như những con cá mắc cạn. Lúc đó sợ gì mà không phá được giặc”. 

Ngô Quyền mừng lắm bèn giao cho Nguyễn Tất Tố một đội thuyền nhỏ cùng với Đào Nhuận, ba anh em họ Lý đi thám sát, thăm dò con nước, các nhánh sông, cồn gò, bãi bồi, rừng sú vẹt, đầm lầy, kênh rạch, bờ bãi quanh hai bờ sông Bạch Đằng để bố trí quân mai phục, che giấu thuyền bè, đẵn gỗ đóng cọc. Họ phải hoàn thành nhiệm vụ “Đánh thật mà giả, giả như thất trận thật”. Ngô Quyền quyết định chọn khúc hạ lưu sông Bạch Đằng làm nơi phục binh. Ông lệnh cho các tướng điều động quân dân vào rừng chặt cây làm cọc. Bấy giờ vào cuối năm 938, mưa dầm dề nhiều ngày, quân dân hăng hái lặn lội mưa rét ngày đêm vận chuyển hàng nghìn hàng vạn cây lim, sến, táu… rồi vạt nhọn, bịt sắt, cắm xuống lòng sông; chỉ hơn một tháng là mọi việc hoàn thành.

Thuận theo ý trời, Bố Cái Đại Vương hiển thánh phù trợ 

Không những là sự giúp sức của quân và dân, ý trời còn khiến cho thần linh sở tại trợ giúp Ngô Quyền hoàn thành công nghiệp này. Theo sách Việt Điện U Linh, phần Lịch Đại Đế Vương, chương Bố Cái Đại Vương đã thuật lại chuyện Phùng Hưng hiển linh trợ giúp Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán như sau:

“Vương vừa mới mất đã hiển linh, thường ở trong thôn dân hiện hình thành thiên xa vạn mã phi đằng trên gia ốc, trên cổ thụ; chúng nhân trông lên thực như đám mây ngũ sắc, lại nghe thấy ti trúc, quản huyền giao hưởng trên không trung, tiếng hô hoán, tiếng cờ trống võng kiệu vọng lên nghe thấy phân minh giữa ban ngày. Phàm trong ấp có tai nạn hoặc việc vui mừng thì Ấp trưởng trong đêm đã thấy có dị nhân báo cáo trước; chúng phục là thần, lập đền phía tây Đô phủ mà phụng sự, phàm có việc trộm cướp, việc hồ nghi thì đại thể tề tựu trước đền mà bái yết thần, vào trong đền mà minh thệ, lập tức thấy họa phúc. Nhà thương mại đem lễ đến đền cầu lợi hậu đều có linh ứng; thôn dân gặp phải mưa dầm hay đại hạn; cầu đảo liền được như ý. Mỗi năm xã đến ngày tạ lễ, người đến đông như rừng như biển, bánh xe dấu ngựa đầy đường; miếu mạo nguy nga, hương đèn chẳng dứt.”

“Thời Tiền Ngô chúa kiến quốc, Bắc binh nhập khẩu, Tiên chúa đã lo, nửa đêm hốt nhiên mộng thấy một ông già đầu bạc, y quan nghiêm nhã, tay cầm quạt lông, chống gậy trúc, tự xưng tính danh rằng: “Ta lãnh thần binh vạn đội, sẵn sàng mai phục chỗ yếu hại, chúa công tức tốc tiến binh chống cự, đã có âm trợ, chớ lo phiền chi cả”.

“Đến khi tiến binh trên Bạch Đằng, quả thấy trên không có tiếng xe ngựa. Trận ấy quả được đại tiệp. Tiên chúa lấy làm lạ, chiếu kiến lập miếu điện, trang nghiêm hơn xưa, lại sắm thêm quạt lông, cờ hoàng đạo, chiêng đồng, trống đại, rồi làm lễ thái lao, con hát đến làm lễ tạ. Lịch triều theo đó dần dần thành ra cổ lễ”… 

Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm…

Lại nói về Lưu Cung nghe Kiều Công Tiễn cầu cứu nên nhân cơ hội này muốn chiếm lấy Giao Chỉ. Ông ta liền phong cho con mình là Vạn vương Lưu Hoằng Tháo làm Giao Vương, đem quân cứu Kiều Công Tiễn, còn Lưu Cung đóng ở Hải Môn để làm viện binh. Trước đó Lưu Cung hỏi kế Sùng Vân Sứ là Tiêu Ích. Tiêu Ích nói: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển lại nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến”. Vua Nam Hán nôn nóng nên không nghe, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào.

Khi quân Hoằng Tháo vừa vượt biển tiến vào mạn sông Bạch Đằng, Ngô Quyền lệnh đội thuyền chiến nhỏ do Nguyễn Tất Tố chỉ huy đánh mạnh vào thuyền giặc, khiến giặc bất ngờ. Hoằng Tháo thấy đoàn thuyền Việt “nhỏ như những lá tre”, sao có thể chống lại những con thuyền to lớn dũng mãnh này được. Hắn tự đắc thúc chiến, và đó cũng là lúc đội thuyền Nguyễn Tất Tố vờ thua bỏ chạy, làm cho địch tưởng thật, ồ ạt đuổi theo, tiến vào bãi cọc mà không hề hay biết.

Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Khi quân Hoằng Tháo vừa vượt biển tiến vào mạn sông Bạch Đằng, Ngô Quyền lệnh đội thuyền chiến nhỏ do Nguyễn Tất Tố chỉ huy đánh mạnh vào thuyền giặc, khiến giặc bất ngờ. (Ảnh: hoangthanhthanglong.vn)

Bấy giờ nước sông bắt đầu rút nhanh. Đây chính là giờ phút quyết định, Ngô Quyền dốc toàn lực ra đánh: tả ngạn có Dương Tam Kha, hữu ngạn là Ngô Văn Xương và Đỗ Cảnh Thạc phục sẵn hai bên bờ để phối hợp thủy quân đánh tạt sườn địch, sẵn sàng diệt địch khi chúng chạy tràn lên bờ. Ở phía thượng nguồn, từ cửa biển ngược lên không xa, một đạo quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy phục sẵn chặn đường lui của địch. Quân Nam Hán hỗn loạn, khi chúng tháo chạy thì bị những bè lửa ngùn ngụt cháy lao đến thiêu đốt, phần thì bị cánh quân Nguyễn Tất Tố quay lại đánh. Sự phối hợp nhịp nhàng, theo đúng kế hoạch của quân ta khiến quân Nam Hán đại bại, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng tại trận. Trận Bạch Đằng diễn ra nhanh gọn, triệt để đến mức độ vua Nam Hán đóng quân sát biên giới mà không kịp tiếp ứng, chỉ biết thương khóc con và rút quân về.

Lưu Cung vì muốn mở rộng bờ cõi mà chủ quan. Nếu nghe theo lời Tiêu Ích cử người đi thám thính trước thì có thể sẽ phát hiện dân quân Đại Việt đang ngày đêm chặt cây, vận chuyển, đóng cọc dưới sông… thì y sẽ có kế hoạch khác, và kế hoạch của Ngô Quyền cũng sẽ thay đổi theo, Hoằng Tháo cũng không bị chết thảm như vậy. Nhưng lịch sử không có chữ “nếu”, vì Ngô Quyền có mệnh là chân Chúa trời Nam, được ý Trời và lòng người dựa vào, nên Lưu Cung phải thua âu cũng là chuyện dễ hiểu.

Cuộc chiến diễn ra và kết thúc chỉ trong vòng một ngày, gần như toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, chủ tướng bị chém chết tại trận. Có thể nói đây là trận đánh thần tốc với hiệu quả cao vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm nước ta. Nó đã đặt dấu chấm hết cho nền thống trị 1000 năm Bắc thuộc. Mùa xuân Năm Kỷ Hợi 939 (cách năm Kỷ Hợi 2019 của chúng ta đúng 1080 năm), Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, xưng là Ngô Vương, xây dựng nhà nước tự chủ, trở thành vị vua sáng lập ra nhà Ngô, sử sách gọi ông là Tiền Ngô Vương.

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rằng:

“Mùa xuân, vua bắt đầu xưng vương, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Sách Việt sử tiêu án chép: Vương giết Công Tiễn, phá Hoằng Tháo, tự lập làm vua, tôn Dương thị làm Hoàng hậu, đặt đủ 100 quan, dựng ra nghi lễ triều đình, định các sắc áo mặc, đóng đô ở Cổ Loa thành”.

Tuy chưa xưng Đế, nhưng chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương là vô cùng quan trọng trong lịch sử nước nhà, đúng như sử gia Ngô Thì Sĩ nhận xét:

“Lưu Nghiễm ngấp ngó Giao Châu, thừa lúc Đình Nghệ mới mất, cậy có quân ứng viện của Công Tiễn, chắc rằng có thể đánh một trận phá được Ngô Quyền, nhân thế lấy được nước Nam dễ như móc túi vậy. Nếu không có một trận đánh to để hỏa nhuệ khí của Lưu Nghiễm, thì cái tình hình ngoại thuộc lại dần dần thịnh lên, cho nên trận đánh ở Bạch Đằng là cái căn bản khôi phục quốc thống đó. Sau này Đinh, Lê, Lý, Trần còn phải nhờ dư liệt ấy. Võ công hiển hách của Ngô Quyền, tiếng thơm nghìn đời, đâu có phải chỉ khoe khoang một lúc bấy giờ mà thôi”. (6)

Thế mới nói, mùa xuân năm 939 là mùa khai sinh ra nước Đại Việt vậy, quả đúng là:

“Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Nghìn thu vết nhục nhã sạch làu”…

(Bình Ngô Đại Cáo-Nguyễn Trãi).

Xem thêm : Trận Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938

Kỳ 2: Lê Hoàn bắt sống tướng giặc trên sông Bạch Đằng năm 981

Bạch Đằng giang
Kinh quán sơn hà thảo mộc xuân,
Hải triều húng húng thạch lân tuân.
Thuỳ tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp,
Bán tại quan hà bán tại nhân.
Dịch nghĩa:
Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,
Sóng biển gầm vang, đá ngất trời.
Sự nghiệp Trùng Hưng ai để biết,
Nửa do sông núi, nửa do người.
(Nguyễn Sưởng).

Tiếng sét đánh mau, che tai không kịp…

Tháng 11/979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn trong một đêm uống rượu ngủ say ở ngoài cung đình, đã bị kẻ bề tôi là Đỗ Thích sát hại. Vua Tống nghe lời tâu của Hầu Nhân Bảo: “An Nam quận vương cùng con trai là Đinh Liễn bị giết, nước ấy sắp mất, có thể nhân lúc này đem một cánh quân sang đánh lấy; nếu bỏ qua lúc này mà không mưu tính, sợ lỡ cơ hội”, vả lại tể tướng Lư Đa Tốn cũng dâng kế “Tiếng sét đánh mau, che tai không kịp”. Kết quả là Tống Thái Tông quyết định ngay việc đưa quân sang đánh Đại Cồ Việt. 

Năm 980, bộ chỉ huy quân Tống được thành lập: Tổng chỉ huy Hầu Nhân Bảo, phó tổng chỉ huy Tôn Toàn Hưng, cùng một loạt tướng lĩnh khác như Lưu Trừng, Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, tất cả các cánh quân thủy bộ bốn hướng được lệnh lên đường ngay. 

Tin dữ được cấp báo về Hoa Lư, vua nhà Đinh là Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi kế vị dưới sự nhiếp chính của Dương thái hậu và tướng quân Lê Hoàn. 

Rồng vàng hộ thân, chân long thiên tử…

Lê Hoàn (941 – 1005) người ở xã Trường Yên (Ninh Bình), cha là Lê Mịch, mẹ tên Đặng Thị. Tương truyền khi mới có thai, mẹ ông chiêm bao thấy trong bụng nở hoa sen, chỉ chốc lát đã kết hạt, bèn lấy chia cho mọi người, còn mình thì không ăn, tỉnh dậy không hiểu nguyên do thế nào. Đến khi sinh ra Lê Hoàn, bà hiểu ra, bèn nói với mọi người rằng: “Thằng bé này lớn lên, ta sợ không kịp hưởng lộc của nó”.

Vài năm sau cha mẹ qua đời, Lê Hoàn phải một mình sống trong cảnh nghèo khổ. Trong thôn có viên quan án là Lê Đột trông thấy lấy làm lạ, nói: “Tư cách đứa trẻ này, người thường không sánh được”, bèn nhận làm con nuôi, chăm sóc dạy dỗ, không khác gì con đẻ. Vào những ngày đông lạnh, Lê Hoàn nằm úp cối mà ngủ. Viên quan họ Lê nhìn xem thì ngạc nhiên khi thấy có rồng vàng nằm che trên mình của Lê Hoàn. Từ đấy càng thêm yêu quý và dốc lòng dạy dỗ thêm cho ông.

Vào những ngày đông lạnh, Lê Hoàn nằm úp cối mà ngủ. Viên quan họ Lê nhìn xem thì ngạc nhiên khi thấy có rồng vàng nằm che trên mình của Lê Hoàn. (Ảnh: nghiencuulichsu.com)

Lê Hoàn lớn lên thông minh, học giỏi, văn võ song toàn. Năm 16 tuổi, Lê Hoàn xin gia nhập đội quân của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Đinh Tiên Hoàng khen Lê Hoàn là người trí dũng, sau được thăng đến chức Thập Đạo tướng quân Điện tiền chỉ huy sứ.

Hoa Lư binh biến, Thập đạo lên ngôi…

Trong tình thế giặc mạnh áp sát quan ải, trong triều ấu chúa mới lập mà binh quyền nằm hết trong tay của một đại thần ắt sẽ có biến. Một điều vô cùng trùng hợp là năm 960 Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn đã lên ngôi trong tình huống như thế, sử gọi là “Binh biến Trần Kiều”. 20 năm sau là năm 980 tại nước Đại Cồ Việt, Lê Hoàn cũng lên ngôi trong tình huống tương tự.

Sử chép:

“Nhận tin quân Tống chuẩn bị xâm lược, Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi chiến đấu, lấy người Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm Đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Phạm Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”. Quân sĩ đều hô vạn tuế”…– (Trích Đại Việt sử ký toàn thư-kỷ nhà Lê).

Dương thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn lấy long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời ông lên ngôi hoàng đế.

Tấm lòng thiện lương vì xã tắc của Dương thái hậu đã cảm phục được tất cả mọi người bấy giờ, cũng như cho cả thế hệ mai sau. Bà không tham lam ngai vàng cao quý hay quyền lực tột đỉnh mà biết được năng lực và hoàn cảnh lúc này của hai mẹ con; biết được điều gì nên làm và không nên làm và quan trọng nhất là bà đã biết đặt lợi ích dân tộc lên trên quyền lợi gia tộc. Không như nhiều người chỉ vì tranh giành ngôi báu mà giết hại lẫn nhau mặc cho đất nước phải rơi vào tay ngoại xâm. 

Lê Hoàn thuận ý trời, hợp thời thế, theo lòng người suy tôn mà lên ngôi, đổi niên hiệu thành năm đầu Thiên Phúc và gấp rút chuẩn bị chiến tranh. Tháng 10 cùng năm, ông sai Nha hiệu là Giang Cự Vọng, Vương Thiệu Tộ đưa thư sang Tống giả làm thư Vệ vương Đinh Toàn thỉnh cầu Lê Hoàn nối ngôi cha, cầu nhà Tống phong chức, với ý đồ muốn hoãn binh. Không ngoài dự đoán, quyết tâm xâm lược mạnh mẽ đã khiến cho nhà Tống không đồng ý. Đầu năm 981, nhà Tống lấy cớ Lê Hoàn tự xưng đế để đem quân đánh Đại Cồ Việt, quân Tống chia binh đi theo hai đường thủy, bộ ven biển Đông Bắc tiến vào nước ta.

Đại chiến Bạch Đằng giang, đập tan quân xâm lược…

Với quyết tâm cao độ hoàn thành việc xâm lược Đại Cồ Việt, nhà Tống đã chuẩn bị vô cùng chu đáo cho đoàn quân của mình:

“Nhà Tống dùng Lan Châu Đoàn luyện sứ là Tôn Toàn Hưng, Bát tắc sứ là Thích Hậu, Tả Giám môn vệ Đại tướng quân là Thôi Lượng làm chức Lục lộ Binh mã Tổng quản, từ đường Ung Châu tiến quân. Ninh Châu Thứ sử là Lưu Trừng, Án bí Khố sứ là Giả Thực, Cung phụng Quan Các môn Chi hậu là Vương Soạn làm chức Thủy quân Binh mã Tổng quản do đường Quảng Châu tiến quân. Lại dùng Ngọ Xương Duệ làm chức Tri Giao châu Hành doanh Thông tục. Nhóm Toàn Hưng từ giã, vua nhà Tống là Thái Tông lại hạ chiếu cho dẫn tiến, khiến Lương Quýnh thiết tiệc ở vườn Ngọc Tân để tống tiễn”…
Mùa thu năm 980, quân Tống khởi hành; tháng 12 năm 980, quân Tống phá được hơn 1 vạn quân Đại Cồ Việt”…
(Trích An nam chí lược, Lê Tắc, trang 43).

Mùa xuân, tháng 2 năm 981, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng tiến đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Lê Đại Hành chỉ huy cho quân khẩn trương xây dựng phòng tuyến, cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng và một số sông khác để đối phó với thủy quân Tống.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:
“Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông Chi Lăng”.

An Nam chí lược chép:
Mùa hạ năm 981, quân Tống giao chiến với quân Việt, quân Tống chém được hơn 1000 người, bắt được hơn 200 thuyền chiến. Phạm Cự Lạng xin Lê Hoàn rút quân tại Ba Bộ. Chuyển vận sứ nhà Tống là Hầu Nhân Bảo cùng đạo tiền quân tiến sâu vào, bị thất bại luôn”.

Cánh quân Tống do Lưu Trừng và Tôn Toàn Hưng tiến quân đến thôn Đa Ngư nhưng không gặp quân chủ lực của Đại Cồ Việt để giao chiến, lại vội vã rút lui. Còn cánh quân bộ do Trần Khâm Tộ chỉ huy tiến xuống Tây Kết cũng trở thành đạo quân bị cô lập, ở vào tình thế dễ bị đối phương truy kích tiêu diệt. Cánh quân thủy của Hầu Nhân Bảo từ sau trận Lục Giang đã bị tiêu hao sinh lực, phương tiện chiến đấu, lại bị chia cắt khỏi thế trận liên kết chung. 

Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Các mũi tên chỉ hướng tấn công của quân Tống và quân dân Đại Cồ Việt. (Ảnh: Wikipedia)

Trong khi đó Lê Đại Hành bí mật tăng cường lực lượng, chuẩn bị trận đánh để “Đập nát đầu rắn”. Ông bày một thế trận ở khúc giữa sông Bạch Đằng hiểm yếu, rồi bố trí mai phục chờ sẵn. Sau đó Lê Đại Hành gửi thư trá hàng và lập đài tuyên thệ. Hầu Nhân Bảo tưởng thật, đi thuyền tới đài tuyên thệ thì bất ngờ bị thủy quân Đại Cồ Việt chia cắt khỏi lực lượng bảo vệ, bị bắt sống sau đó đem chém.

Quan quân xâm lược nhà Tống lâm vào cảnh “Rắn mất đầu”, thế là vỡ trận. Lê Hoàn thừa thắng tiến đánh và tiêu diệt địch ở khắp nơi. Cánh quân của Trần Khâm Tộ đã vào sâu được đến trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng – vùng Tây Kết, Hưng Yên –  cũng bị ta diệt gọn. Kế hoạch trá hàng để đánh “Đập nát đầu rắn” của Lê Đại Hành đã mang đến thắng lợi. Các tướng nhà Tống: kẻ bị giết chết, người bị bắt giam, người về nước bị vua Tống chém đầu, xử tội.

Sử chép:

“Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư.
Giang Nam chuyển vận sứ của nhà Tống là Hứa Trọng Tuyên đem việc Nhân Bảo thua chết tâu lên. Vua Tống xuống chiếu rút quân về, sai sứ quở trách bọn Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn. Trừng ốm chết, Soạn bị giết ở Ung Châu, Tôn Hoàng Hưng cũng bị giết bêu ở chợ”…
(Đại Việt sử ký toàn thư-Kỷ nhà Lê).

Thắng lợi của Lê Hoàn trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Tống diễn ra nhanh chóng và thực sự to lớn khi ông mới bước lên ngôi vị. Đại Việt từ đó được thanh bình trong gần một thế kỷ. Tên tuổi Lê Hoàn và quân dân nhà Tiền Lê mãi khắc sâu vào lịch sử chống ngoại xâm với chiến công sáng chói.

Chiến tranh chấm dứt, nhưng Lê Hoàn vẫn sai sứ sang nhà Tống trao trả một số tù binh và đặt lại nền quan hệ hòa hảo giữa hai nước.

Lời bàn:

Người viết không dám lạm bàn về đức Lê Hoàn vì đã có nhiều sử gia đánh giá về ông.
Tiêu biểu như sử gia Lê Văn Hưu:

“Lê Đại Hành Giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được. Có người hỏi: Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng, Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng, Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư ? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý”.

Thập đạo tướng quân lên ngôi giữa lúc đại quân Bắc triều áp sát biên giới, lòng dân dao động, các tướng không cùng chung sức. Vậy mà ông đã một tay lập nên công nghiệp to lớn lẫy lừng, ghi thêm một dấu son bất hủ vào sử Việt cũng như chiến tích trên con sông Bạch Đằng lịch sử.

Dù hùng tráng như vậy nhưng triều đại của ông lại quá ngắn ngủi, các con tàn sát lẫn nhau dẫn đến mất nước âu cũng là điều đáng tiếc. Nếu không có Lý Công Uẩn thì đất nước biết đâu lại phải nội thuộc thêm nghìn năm chăng?

Vậy mới nói văn trị và vũ công hay nhân đức và uy dũng phải cùng với nhau thì mới làm nên sự nghiệp lâu dài thiên cổ, đem lại phúc lớn cho muôn vạn con dân. Tuy là khen cho công bình loạn, chống ngoại xâm nhưng vẫn đáng tiếc vì thiếu cái tác dụng của nhân đức trị nước mà chưa được hoàn hảo vậy.

Kỳ 3: Trận thủy chiến thứ 3 năm 1288 của Hưng Đạo Đại Vương

“Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc,
Phong cảnh ba thu.
Bờ lau san sát,
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy,
Gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm,
Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.
(Bạch Đằng giang phú, Trương Hán Siêu).

Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Những nhân tố kỳ diệu làm nên ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng

Thanh thiên đồng tử hạ phàm; vì ngăn giặc dữ lan tràn phương Nam

Đạo quân Mông Cổ tung hoành vô địch, lan tràn như lửa cháy khắp thế giới là có lý do.

Ấy là Trời an bài cho họ đốt lên ngọn lửa chiến tranh để khiến cho các quốc gia thanh lý những nghiệp lực, tội lỗi của họ từ nhiều đời. Nhưng họ sẽ không được phép chạm đến những quốc gia kính Thần kính Phật như Đại Việt (thời Lý Trần thì Phật giáo là quốc giáo, vua chúa nhà Trần phần nhiều đi tu và có người đắc Đạo). Vì thế mà Đại Việt được Thiên thượng ưu ái bảo vệ với các minh quân dũng tướng đa phần là tinh tú đầu thai. Ngôi sao sáng chói nhất phải kể đến chính là Hưng Đạo Đại Vương – Trần Quốc Tuấn, người sẽ đập nát vó ngựa Nguyên Mông và viết nên bài ca huy hoàng cuối cùng cho đất nước trên con sông Bạch Đằng lịch sử.

Dã sử kể lại như sau:

“Tương truyền vào thời đầu nhà Trần có một dải khí trắng bốc lên đến trời. Thánh Tản Viên thấy thế biết nước Nam sẽ có ngoại xâm, bèn tâu Thượng đế. Sau đó, Thượng đế phái Thanh Thiên đồng tử xuống trần quét sạch dải khí trắng đó bằng cách sinh hạ vào nhà thân vương làm danh tướng. Khi Trần Hưng Đạo ra đời, trong nhà tràn ngập hương thơm và ánh sáng. Một vị đạo sĩ do coi thiên văn thấy có một vì tướng tinh giáng hạ, liền đến xin xem mặt Trần Quốc Tuấn.

Khi nhìn thấy, vị đạo sĩ vội lui xuống, vái lạy nói: “Người này tốt lắm, về sau cứu nước giúp đời làm sáng sủa cho non sông đó”.

Giết giặc Thát bắt tướng Nguyên; Một lòng trung nghĩa lưu truyền sử xanh

Trần Hưng Đạo (1232 – 1300) còn được gọi là Hưng Đạo Đại Vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất nhất thời Trần.

Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo quốc mẫu. Trần Quốc Tuấn khôi ngô, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Giữa cha ông và vua Trần Thái Tông có mối thâm thù (vì bị Trần Thủ Độ ép nhường vợ đang mang thai cho Trần Thái Tông) nhưng bản thân ông đã lựa chọn sáng suốt khi đặt quốc gia và sự trung nghĩa lên trên mâu thuẫn cá nhân và gia đình. 

Sử chép như sau:

“Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “[Người này] ngày sau có thể giúp nước cứu đời”.

Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ.

Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn trăn trối rằng:

‘Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được?’

Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông:

“Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.

Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người”.
(Theo Đại Việt sử ký toàn thư-Kỷ nhà Trần).

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá; Non sông nghìn thuở vững âu vàng

Quân Nguyên đã hai lần xâm lược nước ta (1258-1285) và đều thất bại. Năm 1288, quân Mông Nguyên quyết định trở lại đánh Đại Việt để trả mối hận. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt lệnh cho con trai thứ 9 của mình là Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, cùng các tướng lĩnh tài giỏi đánh được cả bộ lẫn thủy chiến như: Ô Mã Nhi, Áo Lỗ Xích, Phàn Tiếp, Phạm Nhan, Trương Văn Hổ, đem 50 vạn quân mượn danh nghĩa đưa Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc Vương – thực chất là mưu đồ thôn tính Đại Việt một lần nữa. Ai cũng biết quân Mông Cổ là đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Vó ngựa Mông Cổ đã từng tung hoành đánh chiếm các lục địa Á Âu, dẫm nát không biết bao nhiêu thành trì. Quân Mông Cổ gieo rắc bao nỗi kinh hoàng lên khắp nơi; và chưa bao giờ cả châu Á lẫn châu Âu gặp một thảm họa khủng khiếp như thế. Họ được mệnh danh là kẻ hủy diệt. Nhưng khi đến Đại Việt thì câu chuyện đã hoàn toàn khác!…

Vó ngựa Mông Cổ đã từng tung hoành đánh chiếm các lục địa Á Âu, dẫm nát không biết bao nhiêu thành trì. Quân Mông Cổ gieo rắc bao nỗi kinh hoàng lên khắp nơi… (Ảnh: Shutterstock)

Tháng 2 năm 1288, quân Mông-Nguyên tiến vào nước ta. Vua Trần Thánh Tông trong Hội nghị Diên Hồng đã hỏi các bô lão: “Thưa các bô lão ta nên hòa hay nên đánh?”. Mọi người đồng thanh đáp: “Quyết chiến!”

Trần Hưng Đạo lại được chỉ định thống lĩnh ba quân đánh ngoại xâm. Quân Mông – Nguyên tiến đánh Phú Lương, Thăng Long nhiều lần nhưng không có kết quả. Trong khi đó đoàn quân lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư chặn đánh tiêu diệt ở Vân Đồn. Thoát Hoan nhận thấy: Lương thực ít, khí trời nóng nực dễ sinh dịch bệnh, quân sĩ cũng dễ mệt, không thể chống lâu được; ông quyết định cho rút quân về nước, một ngả theo đường thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy và sai Trình Bằng Phi, Ta Tru đem kỵ binh đi hộ tống; còn một ngả đi đường bộ do Thoát Hoan dẫn đầu. Biết được tình thế tháo chạy của giặc, Trần Hưng Đạo theo kế sách xưa của Ngô Quyền và Lê Hoàn mà bố trí mai phục ở cửa sông Bạch Đằng đón đầu quân Ô Mã Nhi. 

Xem thêm : Sóng Bạch Đằng hùng vĩ và khúc sông nơi Hưng Đạo Đại Vương lập lời thề bất diệt

Vua bà chỉ dẫn nơi đóng cọc; Bốn thần phù trợ phóng hỏa công

Tương truyền khi Trần Hưng Đạo đi thị sát chuẩn bị cho trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng, ông đã được bà hàng nước bên bến đò Rừng, dưới cây quếch cổ thụ mách cho lịch thủy triều, địa thế lòng sông, lúc nào nước lên, nước xuống, chỗ nào có ghềnh đá, đoạn sông nào nước sâu. Bà còn hiến kế: “nơi đây có nhiều cây dễ cháy, hãy làm bè mảng mà thiêu đốt thuyền giặc”. 

Nhờ đó Trần Hưng Đạo đã bày binh bố trận hợp lý, cắm cọc nơi hiểm yếu kết hợp với dải đá ngầm Ghềnh Dốc và ghềnh sông Chanh, bịt đường thoát ra biển Đông của thuyền chiến giặc. Lại một lần nữa Làng Rừng: cây cối và con người nơi đây cùng nhau góp phần vào cuộc chiến chống ngoại xâm. 

Sau khi bố trí xong trận địa cọc, Trần Hưng Đạo tìm địa điểm để bố trí nơi phóng hỏa. Đêm nọ, ông được bốn vị thần là Cao Sơn Quý Minh, Nam Hải tôn thần, Phi Bồng tướng quân và Bạch Thạch tướng quân báo mộng cho vị trí sắp đặt trận hỏa công.

Tương truyền sau khi thắng trận Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo trở lại bến đò tìm bà hàng nước để tạ ơn nhưng không thấy bà đâu nữa. Ông xin vua Trần phong cho bà làm Vua Bà và cho lập miếu thờ ngay tại bến đò xưa. Đồng thời ông cũng chuẩn bị lễ vật tạ ơn bốn vị thần đã giúp ông bố trí nơi phóng hỏa, và lập miếu thờ, đổi tên nơi ấy thành Đền Công có nghĩa là đền đáp công ơn các vị thần.Xưa kia miếu Vua Bà có quy mô rất nhỏ, tuy nhiên sau này được xây dựng lại với quy mô lớn và khang trang hơn.

Bạch Đằng bắt sống Ô Mã Nhi; Thoát Hoan chui ống qua biên giới

Ngày 8/4/1288, cánh quân Ô Mã Nhi tiến đến Trúc Động trên sông Giá và bị quân Đại Việt đánh chặn quyết liệt, buộc Ô Mã Nhi phải theo sông Đá Bạch để tiến xuống sông Bạch Đằng. Trúc Động đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ cho trận địa phục kích chính của quân ta ở sông Bạch Đằng. Khi được tin chiến thuyền Ô Mã Nhi rút lui theo đường sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo cho bố trí bộ binh mai phục vùng núi đá vôi Tràng Kênh và vùng rừng rậm rạp ở tả ngạn sông Bạch Đằng (Hưng Yên), còn thủy quân thì ẩn trong các con sông hai bên bờ sông Giá, sông Thái, sông Điền Công.

Khi thuyền chiến của giặc vào đến sông Bạch Đằng, lúc này nước còn lên cao che hết cọc gỗ, Trần Hưng Đạo lệnh cho các tàu, ghe nhỏ ra đánh rồi giả vờ thua chạy, vừa rút lui vừa đánh trả. Đến khi thủy triều rút, toàn bộ thủy quân Mông Nguyên bị mắc kẹt. Giờ phút đã đến, Trần Hưng Đạo sai tướng Nguyễn Khoái đem thuyền ra đánh mạnh vào quân địch, phục binh của quân ta ở hai bên bờ đổ ra đánh vào sườn và sau đoàn thuyền địch, còn bè lửa thì bủa vây thiêu đốt địch làm cho quân Nguyên chết vô số. Hơn 400 thuyền giặc bị ta chiếm lấy. 

Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ, Áo Lỗ Xích, Phàn Tiếp, Phạm Nhan bị quân ta bắt. Trong khi đó, Thoát Hoan chạy theo đường Lạng Sơn, dọc đường bị quân Việt đón đánh. Mãi cho đến ngày 19.4.1288 quân của Hoan mới chạy về nước được. Riêng Thoát Hoan phải chui ống đồng mà về. Quân Mông Nguyên một thời làm bá chủ xâm chiếm Á Âu, giờ đã không thể nào chống cự nổi trước hành động chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết, mưu trí của quân dân Đại Việt. 

“Họ cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp”, chiến lược quân sự này đã được Trần Hưng Đạo vận dụng trên chiến trận vô cùng  thành công với đỉnh cao là trận đánh trên sông Bạch Đằng.Thoát Hoan chạy theo đường Lạng Sơn, dọc đường bị quân Việt đón đánh. Mãi cho đến ngày 19.4.1288 quân của Hoan mới chạy về nước được. Riêng Thoát Hoan phải chui ống đồng mà về.

Lời bàn:

Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là trận đại thắng sau cùng trên dòng Bạch Đằng lịch sử. Nó cũng là chiến công lớn nhất trong ba lần chống quân xâm lược Nguyên Mông của quân và dân Đại Việt dưới tài thao lược của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng kiệt xuất, nhà chiến lược lỗi lạc. Ông đã đem một dân tộc nhược tiểu của một quốc gia “bé như nắm tay” mà đập tan vó ngựa Nguyên Mông lừng danh thế giới bấy giờ.

Đúng như lời người xưa đã nhận xét:

“Nước Mông Cổ quật khởi ở phương Bắc, nuốt nước Linh Hạ, uy hiếp Cường Kim, đánh úp nhà Cự Tống, mang cung tên đến đâu thì các nước ngoài núi biển đều trông gió mà tan vỡ, đem quân sang Nam ào ào như núi lở sông băng, gió rung mây cuốn. Vương chỉ một nhóm tàn quân dám ra chống cự, khác nào như núi Thái Sơn đè trứng, thế mà một hồi trống sông Bạch Đằng, quân Mông Cổ phơi thây nghìn dặm, há chẳng phải là việc hiếm có ở trời đất sao? Không những có công lớn với nhà Trần mà cũng có công lớn với thiên hạ đời sau nữa, nếu không có Hưng Đạo Đại Vương thì nước Nam Giao đã phải để tóc đuôi sam rồi vậy”.

Tuy nhiên điều kỳ lạ hơn là chiến công vĩ đại nhất này lại đã được tiên tri từ nhiều năm trước khi Hưng Đạo Đại Vương chỉ mới… bảy tuổi qua một bài thơ như sau:

“Tứ thất uẩn hung trung
Bát bát thám Dịch tượng
Lục Hoa bát trận đồ
Sát Thát cầm Nguyên tướng”.

Tạm dịch:

“Bốn bảy chất chứa trong lòng
Tám tám gieo quẻ biết thời thế
Bày bố trận Lục Hoa và Bát trận đồ
Để giết giặc Thát và bắt tướng Nguyên”.

“Tứ thất” hay “bát bát” là ý nói về khả năng sử dịch Kinh Dịch đoán ý trời mà hành sự. Ý nói làm tướng trên thông thiên văn dưới tường địa lý.

Lục Hoa bát trận đồ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự cổ đại, thể hiện kỹ năng của tướng quân. Nhưng “Sát Thát cầm Nguyên tướng” mới là câu thơ lạ lùng nhất trong bài này, vì thời điểm mà Hưng Đạo Vương còn nhỏ thì nhà Nguyên chưa thành lập và cũng chưa hề xâm lấn đến Việt Nam. Việc một đứa bé bảy tuổi làm thơ nói rằng sẽ dùng kiến thức Kinh Dịch để bày mưu kế, dùng Lục Hoa Bát trận để điều binh khiển tướng, sẽ giết giặc Thát (Thát Đát – từ chữ Tartar ý chỉ chung các dân tộc du mục hay xâm lấn Trung Quốc) và bắt tướng Nguyên quả là vô cùng huyền bí. Vậy mới nói những chiến công to lớn của các vĩ nhân phải chăng đều do Thiên thượng an bài từ trước? Nhờ dân Việt ta có những người lãnh đạo thương dân mà ông Trời sắp xếp các danh tướng với tài năng cao siêu mà lập nên những chiến công lừng lẫy nghìn thu chăng? 

Tác giả Tâm Thanh
(Tham khảo: Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam quốc sử khảo, Lịch sử cổ Đại Việt).