Nữ đế Lý Chiêu Hoàng và những cuộc hôn nhân bị sắp đặt

Mỹ Nhân Phương NamQuân Vương Nước Việt

Lý Chiêu Hoàng tên thật là Lý Phật Kim, sau đổi thành Lý Thiên Hinh, sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218) tại kinh đô Thăng Long, tước hiệu là Chiêu Thánh công chúa, là con gái thứ hai của vua Huệ Tông Lý Sảm và Huệ hậu Trần Thị Dung, có hoàng tỷ là Thuận Thiên công chúa Lý Oanh.

Năm Giáp Thân, Kiến Gia năm thứ 14 (1224), tháng 10, Lý Huệ Tông không có con trai, ông phải lập Chiêu Thánh công chúa làm Hoàng thái nữ, rồi truyền ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo, với tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

Lý Chiêu Hoàng - Nữ Hoàng đế duy nhất của nước Việt
Lý Chiêu Hoàng – Nữ Hoàng đế duy nhất của nước Việt

Năm Ất Dậu, Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ 2 (1225), họ Trần do nắm quyền hành, lần lượt được ban tước quan trọng cho con em trong họ. Trần Bất Cập là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú được phong Cận Thị thự Lục cục Chi hậu, Trần Thiêm làm Chi Ứng cục, Trần Cảnh làm Chính thủ.

Trần Cảnh là con quan Thái úy Trần Thừa, mới 8 tuổi được đưa vào hầu gần Chiêu Hoàng. Trần Cảnh cùng gần tuổi với Chiêu Hoàng, được Chiêu Hoàng gần gũi, yêu mến, hay trêu đùa. Trần Thủ Độ lấy dịp đó dựng nên cuộc hôn nhân giữa Chiêu Hoàng và Trần Cảnh rồi chuyển giao triều chính bằng cách để Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Từ đó, nhà Trần được thành lập.

Năm Ất Dậu (1225), ngày 21 tháng 10 (tức ngày 22 tháng 11 dương lịch), Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Ngày 11 tháng 12 năm ấy (tức ngày 10 tháng 1 năm 1226), Chiêu Hoàng bỏ hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở điện Thiên An, dựng lên nhà Trần, sử gọi là Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được Thái Tông phong làm Hoàng hậu.

Từ đây, nhà Lý hoàn toàn chấm dứt sau 216 năm cai trị, bắt đầu từ Thái Tổ Lý Công Uẩn đến Chiêu Hoàng Lý Phật Kim, tất cả là 9 đời vua. Tuy Chiêu Hoàng là vị cuối cùng nhưng do nhà Lý suy yếu từ đời Cao Tông Lý Long Cán, với lại khi nàng lên ngôi Hoàng đế khi nàng mới 6, 7 tuổi (1224 hoặc 1225) nên có thể khẳng định nhà Lý bị mất không hoàn toàn toàn là do Chiêu Hoàng.

Sau khi nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu, trở thành vị Hoàng hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử, vì khi đó nàng mới 7 tuổi. Nàng chung sống với Thái Tông Hoàng đế hơn 10 năm, tình cảm khá sâu sắc, được Thái Tông rất yêu thương và kính trọng.

Năm Quý Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình thứ 2 (1233), Lý Hoàng hậu hạ sinh ra Thái tử Trần Trịnh, nhưng Thái tử chết ngay sau khi sinh không lâu.

Năm Đinh Dậu, Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237), Thái sư Trần Thủ Độ cùng Thiên Cực công chúa lo sợ huyết thống hoàng gia bị đứt đoạn, nên ép Thái Tông phải bỏ Lý Thiên Hinh để lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa đang có thai 3 tháng. Thái Tông Hoàng đế phản đối, đêm trốn khỏi kinh thành để lên gặp sư Phù Vân ở Yên Tử nương nhờ. Thái sư vừa dỗ vừa gây sức ép, cuối cùng hoàng đế cũng phải chịu nghe theo.

Thuận Thiên công chúa được lập làm Hoàng hậu thay thế. Lý Thiên Hinh bị giáng làm Chiêu Thánh công chúa. Vì chuyện này, Hoài vương Trần Liễu nổi loạn ở sông Cái, nhiều năm nhiều tháng không ngừng. Cuối cùng, Trần Liễu đến xin Thái Tông tha tội, hai anh em ôm nhau khóc thảm thiết, tuy nhiên Trần Thủ Độ dựa vào tội trạng của Liễu mà giáng Liễu làm An Sinh vương, được ban các vùng Yên Sinh, Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Hưng, Yên Bang làm ấp thang mộc. Những tướng sĩ, quân lính đi theo làm loạn đều bị xử tử.

Năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8 (1258), sau cuộc chiến với quân đội Mông Cổ vào năm 1258, Trần Thái Tông gả Chiêu Thánh công chúa cho Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần, là một thuộc tướng dòng dõi của Lê Đại Hành. Lê Phụ Trần vốn tên Lê Tần, người Ái Châu, con của danh tướng Lê Khâm có công giúp Trần Thái Tổ đánh dẹp Hoài Đạo vương Nguyễn Nộn. Lê Phụ Trần năm đó được Thái Tông ban cho chức Ngự sử đại phu, tức Bảo Văn hầu, uy danh lẫy lừng, công cao không kể xiết. Thậm chí Thái Tông còn nói:

-Trẫm không có khanh, thì đâu có ngày nay. Khanh hãy cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau.

Chiêu Thánh công chúa gả cho Lê Phụ Trần năm 40 tuổi, đường đường chính chính là phu nhân của Bảo Văn hầu, nửa đời còn lại cũng có chốn nương tựa. Hai vị sống với nhau 20 năm, sinh ra con trai là Lê Tông, con gái là Lê Ngọc Khuê. Trần triều còn đặc biệt phong cho công tử Lê Tông tước Thượng vị hầu, vốn chỉ là tước vị của các Hoàng tử hoặc con trai của Thân vương, và tôn nữ Lê Ngọc Khuê được phong làm Công chúa, ban hiệu Ứng Thụy. Trong thời điểm đó, không ít tôn nữ được phong làm Công chúa, như Phụng Dương công chúa, nhưng đều là họ Trần, chỉ duy Ngọc Khuê mang họ Lê mà vượt quy cách phong Hoàng nữ ngay từ bé. Hậu duệ được đãi ngộ như vậy, hẳn là do công lao của Bảo Văn hầu Lê Phụ Trần và hơn hết là xuất thân nhạy cảm cùng sự áy náy, kiêng nể của Trần triều đối với Bảo Văn hầu phu nhân Lý Thiên Hinh.

Đầu năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Phù thứ 6 (1278), tháng 3, Chiêu Thánh công chúa qua đời, thọ 61 tuổi. Nàng qua đời sau gần 1 năm tròn so với Trần Thái Tông (qua đời năm 1277).

Tương truyền, nàng về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh) thì qua đời tại đó, tóc vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, má vẫn tươi như hoa đào. Nàng được táng ở bìa rừng Báng, phía tây Thọ Lăng Thiên Đức. Nàng được người đời sau lập đền thờ, gọi là Long miếu (đền Rồng). Sở dĩ Chiêu Hoàng không được thờ chung tại đền Đô mà phải thờ riêng vì một số người có quan điểm tiêu cực xem nàng là có tội với dòng họ Lý khi để mất nhà Lý.

Nhiều Sử gia đặc biệt cảm thông cho số phận của Chiêu Hoàng, trong đó có Sử gia Ngô Sĩ Liên, trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, ông viết gay gắt: “Vua tôi nhà Trần coi thường đạo vợ chồng lại thấy ở đây lần nữa”.

Ở Từ Sơn (Bắc Ninh) vẫn còn câu ca dao thác lời Chiêu Hoàng trách Trần Cảnh về việc này:
Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao!

Sử sách không ghi chép giữa nàng với Trần Bình Trọng có quan hệ ruột thịt gì hay không. Trần Bình Trọng là con cháu hậu duệ vua Lê Đại Hành, còn Phụ Trần thì mang họ Lê. Một mối quan hệ tương thích đến kì lạ, khi nhìn vào cách phong tước của Trần triều, chữ đầu tiên trong tước hiệu có thể cho biết vị quý tộc đó xuất thân từ gia đình nào. Như con của An Sinh vương Trần Liễu đều mang chữ Hưng (Hưng Đạo vương, Hưng Vũ vương,…), con của Thái Tông Trần Cảnh đều có chữ Chiêu (Chiêu Minh vương, Chiêu Quốc vương, Chiêu Văn vương,…).

Còn Trần Bình Trọng lại mang tước Bảo Nghĩa hầu mà Phụ Trần có tước hiệu Bảo Văn hầu. Điều này tăng thêm tính xác đáng của giả thuyết Lê Phụ Trần là cha của Trần Bình Trọng và Trần Bình Trọng có thể là con của Lê Phụ Trần với Lý Chiêu Hoàng.

Ngoài ra, căn cứ theo các luật lệ của triều Trần, vốn bài trừ ngoại thích, chỉ tin người trong tộc, mà Trần Bình Trọng vốn mang họ Lê, tức là người ngoại tộc, người ngoại tộc phải xông pha trận mạc, công cao lắm mới được gia phong, vậy mà Bình Trọng ít tuổi như vậy đã được phong tước Hầu, thậm chí trước cả khi ông lập công ở trận Thiên Mạc. Điều này là một ân điển, đãi ngộ cực kì hiếm thấy, mà trong khoảng thời gian đó, chỉ có một vị họ Lê còn bé mà được phong Hầu, đó là Thượng vị hầu Lê Tông. Vậy nên có nhiều khả năng, Trần Bình Trọng với Lê Tông cùng là một người, con của Lê Phụ Trần cùng Lý Chiêu Hoàng, anh trai của Ứng Thụy công chúa Lê Ngọc Khuê. Chuyện ban tên, quốc tính không phải hiếm gặp trong nhà Trần, nên do tài năng và công lao, Lê Tông đã được ban họ Trần và đổi sang tên Bình Trọng.

Nếu đúng là như vậy, thì Lý Chiêu Hoàng là một tổ mẫu nhiều đời của Trần Minh Tông, cháu 4 đời của Trần Thái Tông, vì mẹ của Minh Tông là Chiêu Từ Hoàng thái hậu, con gái của Trần Bình Trọng cùng Thụy Bảo Công chúa, một người con gái lớn của Trần Thái Tông.

Tác giả Nguyễn Đăng Khoa. Hội những người yêu thích Lịch sử.