Quân Đại Việt có lối đánh du kích hay chiến tranh quy ước nhiều hơn?

Binh Pháp Việt Nam

Trước nay do thời lượng và để phù hợp với độ tuổi học sinh, SGK lịch sử đa số chỉ nhấn mạnh đến những cuộc chiến tranh vệ quốc của Việt Nam, cho nên mặc dù SGK không viết sai, nhưng nó dẫn đến một ấn tượng sai lầm mà rất nhiều người mắc phải đó là: Việt Nam chỉ giỏi đánh du kích, đánh thanh dã. Nhưng thực tế có phải như vậy không? Quân Đại Việt có lỗi đánh du kích hay chiến tranh quy ước nhiều hơn?

Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng: Du kích chiến, thanh dã chiến không phải là một chiến thuật tất thắng, mà nó chỉ là một giải pháp tạm thời bất đắc dĩ khi phải đối đầu với kẻ địch quá hùng mạnh và áp đảo. Bởi vì du kích và đặc biệt thanh dã chiến là một sách lược thương địch 1000 tự tổn 800, tổn thương mình trước khi tổn hại địch. Và cuối cùng nó cũng chỉ là giải pháp tình thế để có thể bảo tồn lực lượng, suy yếu kẻ địch đến khi chúng ta có thể đánh bại chúng bằng chiến tranh quy ước.

Hậu quả của những lần tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống thường đem lại di chứng rất nặng nề và khó khắc phục sau chiến tranh. Cho nên, nói đơn giản là du kích và thanh dã thường chỉ sử dụng trong trường hợp không còn biện pháp nào khả dĩ hơn mà thôi.

Nói vậy thì hẳn các bạn cũng đủ hiểu, nếu chỉ tính trong thời kỳ phong kiến, kẻ đủ tư cách khiến chúng ta phải dùng đến chiến tranh du kích và thanh dã cũng chỉ có … Trung Quốc. Vì vậy điểm lại một số xung đột giữa nước ta và Trung Quốc:

Quân Đại Việt có lối đánh du kích hay chiến tranh quy ước nhiều hơn?
Quân Đại Việt có lối đánh du kích hay chiến tranh quy ước nhiều hơn?

Năm 938, Ngô Quyền diệt quân Nam Hán trên Sông Bạch Đằng – Đánh mai phục và chiến tranh quy ước.

Năm 980, quân Tống xâm lược, vua Lê Hoàn sai quân sĩ trá hàng dụ Hầu Nhân Bảo, đem chém. Thủy quân của địch bị thua, rút về bị vua Lê Hoàn đốc quân đuổi đánh chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt sống đại tướng quân Tống là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Hưng đưa về Hoa Lư – Đây là lối đánh quy ước.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt “tiên phát chế nhân” đồ sát Khâm, Liêm, Ung Châu, sau đó phòng thủ thành công ở sông Như Nguyệt, hai nước giảng hòa bãi binh – Đánh quy ước.

Ba lần kháng chiến chống Mông – Đây là lần thanh dã chiến trở nên rất nổi bật.

Tuy nhiên điểm lại: Lần kháng Mông thứ nhất, quân nhà Trần bại trên cuộc chiến quy ước ở Bình Lệ Nguyên, hai bên đôi công kỵ binh và voi trận, địch chiếm thành Thăng Long và tiến hành đốt phá, sau khi lương địch bị cạn, quân Trần tổ chức phản công, đuổi được giặc lần 1 – Toàn bộ đều là đánh quy ước

Lần kháng Nguyên thứ hai, quân Nguyên tràn qua cực nhanh, phòng tuyến biên giới tan vỡ, chỉ trong 5 ngày đánh tới ải Nội Bàng, liên tiếp những phòng tuyến ở Vạn Kiếp, sông Đuống, Thăng Long bị địch phá, Trần Bình Trọng cảm tử chặn hậu, An Tư công chúa hy sinh vì nước, rốt cuộc có đủ thời gian để vua tôi chạy trốn tiến hành chiến tranh du kích và vườn không nhà trống. Đến khi quân địch bị bào mòn bởi thiếu thốn lương thực và dịch bệnh, quân Trần tiến hành tổng phản công, liên tiếp thắng lợi trận Hàm Tử – Tây Kết, trận Chương Dương Thăng Long, trận Thiên Mạc, và truy kích quân Nguyên đến tận biên giới. Có nghĩa là chúng ta sử dụng du kích và thanh dã để câu giờ và làm suy yếu kẻ địch, nhưng đầu và cuối cuộc kháng chiến đều là sử dụng chiến tranh quy ước để phân ra thắng bại.

Lần kháng Nguyên thứ ba, lần này có thể nói là số lượng đánh quy ước nhiều hơn hẳn đánh du kích, kể cả số lần thua lẫn số lần thắng và kết thúc bằng trận chiến phá địch trên sông Bạch Đằng. Chiến tranh chống quân Minh 1406 – 1407, Trương Phụ đem quân đánh sang, Nhà Hồ thủ thành bị địch phá, cả hai cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt.

Khởi nghĩa Hậu Trần, một phần đánh du kích, một phần đánh chính quy. Trận Bô Cô là đánh quy ước.

Khởi Nghĩa Lam Sơn, thời nghĩa quân còn nhỏ yếu bị kẻ địch rượt đánh ở vùng Lam Sơn và biên giới Việt – Lào thì là nửa du kích nửa đánh trực diện, đến khi lấy được Thanh – Nghệ, thì đa số về sau đều là các trận đánh quy ước, hoặc phục kích vây điểm diệt viện, thậm chí là đánh trong tư thái công thành.

Thời Tây Sơn, trận Ngọc Hồi Đống Đa, trận chiến này chủ động xuất binh đánh trong thế công đồn công thành – Rõ ràng là đánh quy ước. Mà nói cho rõ thì, trong suốt sự nghiệp cầm quân của mình, hầu như Nguyễn Huệ chưa bao giờ phải sử dụng du kích và thanh dã chiến cả.

“Từ mồng 3 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, tờ mờ sáng Quang Trung đích thân chỉ huy binh sĩ đánh đồn do Trương Triều Long chống giữ. Trương Triều Long và Dương Hưng Long mấy lần đẩy lui được quân Tây Sơn nhưng chập tối hôm đó quân Tây Sơn lại tấn công như vũ bảo, quân Thanh không chống nổi phải phá vây bỏ chạy. Hứa Thế Thanh đem kỵ binh dàn đội hình tiếp ứng thì Quang Trung đích thân dẫn quân tiến lên với hơn 100 con voi đi đầu, các cánh quân khác đều ùn ùn kéo tới, Ngụy Nguyên viết là “giặc đều chở đại bác bằng voi mà xông vào trận”.

Kỵ binh của Hứa Thế Hanh nhanh chóng tan vỡ, phải chạy lùi vào thành cố thủ. Theo ghi nhận từ phía nhà Thanh, quân Tây Sơn kéo đến ùn ùn như sóng biển, “quân như từ trên trời rơi xuống, lính như từ dưới đất chui lên”, voi cũng đến, bắn hỏa tiễn hỏa cầu như mưa khiến quan quân tán loạn. Sau 6 ngày, đại quân của Nguyễn Huệ phá tan toàn bộ đồn lũy do quân Thanh chống giữ tiến vào Thăng Long, hoàn thành chiến dịch tiến quân thần tốc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thậm chí sớm hơn dự kiến 2 ngày”.

Nhưng đương nhiên đó không phải là toàn bộ cuộc chiến của người Việt, từ thời lập quốc đến nay, tần suất chiến tranh của Đại Việt luôn ở mức độ cao, kể cả số lần đánh với TQ, hay số lần “vác gươm đi mở cõi”. Nếu thống kê những lần chiến tranh kể cả chủ động và bị động thì đại khái chúng ta có:

Khúc + Dương + Nhà Ngô: 6 trận chiến

Tiền Lê: 20 trận chiến/29 năm

Nhà Lý: 63 trận chiến/216 năm

Nhà Trần: 69 trận/174 năm

Nhà Hồ: 6 trận/ 7 năm

Lê Sơ: 61 trận/99 năm

(Theo thống kê của Yevon – tham khảo cụ thể tại: LINK )

Nội chiến Nam – Bắc triều. Nội chiến Đàng Trong – Đàng Ngoài. Nội chiến Tây Sơn – Nguyễn. Tranh chấp Xiêm – Việt thời Nguyễn (chưa kể những trận đánh dẹp quân nổi loạn)

Qua đó hẳn các bạn cũng có thể thấy được, trong cả thời kỳ lối đánh thanh dã được chúng ta sử dụng nhiều nhất thì cũng là kết thúc trận chiến bằng chiến tranh quy ước, chứ chưa cần kể đến những thời như Lê Hoàn, Nguyễn Huệ, và những thời chúng ta chủ động đem quân đi đánh như thời Lê Thánh Tông Nam chinh diệt Đồ Bàn, Tây tiến đánh cả Ai Lao, Lão Qua, Lang Xang.

“Cuối năm 1465, Lê Thánh Tông đặt ra phép tập trận đồ quân thủy bộ. Đối với thủy quân, ông ban các trận đồ: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài, Thất môn, Yển nguyệt, cùng 32 điều quân lệnh về thủy trận. Bộ quân thì có các trận đồ: Trương cơ, Tương kích, Cơ binh, và 32 điều quân lệnh về tượng trận, 27 điều quân lệnh về mã trận, 42 điều về bộ trận dành cho quân Kinh vệ (về sau, tháng 3 âm lịch năm 1484, ông còn ban bố điều lệnh Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều)” – Trích Lịch Chiều Hiến Chương Loại Chú

Suy cho cùng, thanh dã và du kích chiến nó cũng chỉ là một giải pháp tình thế. Chúng ta đã sử dụng rất khôn khéo hình thức chiến tranh này và nó đã giúp chúng ta chiến thắng những kẻ địch hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần, nhưng phân thắng thua cuối cùng trên chiến trường vẫn là phải tấn công quy mô bằng chiến tranh quy ước. Và chiến tranh quy ước vẫn là phải dựa vào nội lực và thực lực, bằng khí tài hiện đại, bằng binh sĩ tinh nhuệ, bằng nguồn lực dồi dào. Đó mới là căn bản cần xây dựng của bất kỳ quốc gia nào.

Xem thêm : Anh hùng áo vải – Những điều lầm tưởng khi đọc Sử cũ

Tác giả Minh Đức.

Minh Đức
Follow tôi: