Sự phát triển của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam từ Hiệp định Sơ bộ đến Hiệp định Gienève

Quan Hệ Ngoại Giao

Bài phân tích của tác giả dựa trên lập trường và nhìn nhận từ lăng kính, góc độ của phía Việt Nam; trên các quan điểm đều ít đề cập đến các yếu tố khác bên ngoài như tình hình thế giới và chính quốc Pháp,… nên không đưa ra đầy đủ các yếu tố tác động đến sự thay đổi của nền nghệ thuật ngoại giao Việt Nam. Song, sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử để phân tích các hiện thực lịch sử, kết hợp với nhận thức lịch sử, tác giả đưa ra các yếu tố chủ yếu để nhìn thấy sự phát triển đi lên theo đường xoắn ốc của nền ngoại giao Việt Nam, từ ngoại giao truyền thống đi lên ngoại giao kháng Pháp. Sự vận dụng nghệ thuật “hòa hoãn”; nghệ thuật vừa đánh vừa đàm cùng với sự thay đổi tình hình ở chiến trường có tác động rõ nét đến tình hình đàm phán tại hiệp định Giơnève 1954 về vấn đề Đông Dương.

DẪN NHẬP

Thế kỷ XXI đang chứng kiến sự phát triển thần kỳ của Việt Nam trên nhiều mặt trận từ chính trị, kinh tế đến văn hóa- xã hội nhưng điều quan trọng hơn là những thắng lợi của nền ngoại giao Việt Nam. Không giống như các dân tộc khác, sự hòa bình của chúng ta đến từ sự hi sinh của rất nhiều thế hệ đi trước, đoàn kết của dân tộc, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và hơn hết đến từ nền ngoại giao của chính chúng ta. Lịch sử đã chứng minh Việt Nam chứ không phải dân tộc nào khác là dân tộc đã chiến thắng những thực dân, đế quốc sừng sỏ nhất của thời đại như Pháp, Mỹ, hay ở thời trung đại là Trung Hoa, Mông Cổ,… và chúng ta đã thể hiện sự thượng thừa trong chính sách ngoại giao của dân tộc.

Quay ngược dòng thời gian, chúng ta trong những năm tháng kháng Pháp, chống Mỹ đầy khóa khăn gian khổ, nhưng vẫn thể hiện được bản lĩnh của dân tộc, xua tan những luận điệu gian xảo của các thành phần phản cách mạng, quân xâm lược. Chúng ta có thể nghèo về vật chất nhưng những giá trị sống còn thì không thể nào dân tộc bỏ qua. Với những giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc ấy; lòng yêu nước, tinh thân yêu chuộng hòa bình,… Việt Nam đã xây dựng cho mình một bản lĩnh ngoại giao hết sức phi thường; quyết sách và phát triển của nền ngoại giao truyền thống đã có những ảnh hưởng nhất định đến ngoại giao thời kháng Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Điều này chúng ta có thể nhận thấy rõ nhất qua sự phát triển từ Hiệp định Sơ Bộ (06/03) đến Hiệp định Giơnève. Giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành và kinh nghiệm thực tiễn nhất của Đảng và chính phủ ta, để lại cho ngày nay những giá trị cốt lõi mà không điều gì thay thế được.

NỘI DUNG

1. Hiệp định Sơ bộ (06/03/1946): Chiến thắng mở màn cho ngoại giao thời kỳ kháng Pháp 1945-1954

Với chiến thắng lịch sử của Cách mạng Tháng Tám thành công, lịch sử của dân tộc Việt Nam tưởng chừng như đã bước sang một trang sách mới. Nhưng không, với âm mưu thâm độc và muốn chiếm nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã quay lại chiến trường Đông Dương, trong đó có Việt Nam chúng ta. Với thắng lợi to lớn của Cách mạng Tháng Tám, 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- chiến thắng này đã tạo điều kiện và thuận lợi bước đầu cho những chiến thắng tiếp theo của ta trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1945-1954).

Trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền do, độc lập ấy”. Đây là bức thông điệp ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới gửi thế giới, thể hiện ý chí và thiện chí của dân tộc ta, đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với một đất nước vừa mới giành được độc lập còn đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách.

Tuy vậy, chúng ta vẫn gặp nhiều khó khăn ngay cả trong và ngoài nước. Trong nước thì bọn phản cách mạng liên tục quấy phá, bên ngoài thì quân xâm lược mong muốn chiếm ta một lần nữa. Cuối năm 1945 và đầu năm 1946, tình hình ở Việt Nam cực kỳ phức tạp. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nằm trong vòng vây của các thế lực thù địch trong và ngoài nước – những kẻ chỉ chực chờ cơ hội để lật đổ chính phủ cách mạng non trẻ. Theo thỏa thuận của nguyên thủ các nước đồng minh chống phát xít (Liên Xô, Mỹ, Anh) họp tại Postdam tháng 7/1945, tháng 9/1945, 180.000  quân Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) tiến vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra để giải giáp quân đội phát xít Nhật vừa bị đồng minh đánh bại. Quân đội Tưởng và bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách đã gây ra rất nhiều khó khăn, phức tạp đối với Chính phủ và nhân dân ta trong bối cảnh nước nhà vừa mới giành lại độc lập, nền kinh tế kiệt quệ sau 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và  phát xít Nhật, xã hội còn vô vàn khó khăn.

Thời điểm bấy giờ, chúng ta phải đối đầu một lúc với vô vàng những khó khăn, ngoài quân Tưởng, còn có 1 vạn quân Anh, 6 vạn quân Nhật và quân Pháp. Ngày 23/9/1945, chưa đầy một tháng sau ngày nước ta tuyên bố độc lập, ở Sài Gòn, được sự tiếp tay, hỗ trợ của quân đội Anh đang làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào phía Nam, quân Pháp nổ súng bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược nhằm áp đặt trở lại chế độ thực dân lỗi thời lên đất nước ta. Tuy nhiên, âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân đội Pháp đã vấp phải sự kháng cự anh dũng và mạnh mẽ của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ. Việt Nam đang nằm trong thế “không tiền, không đồng minh, hầu như không có vũ khí”- khi ngân sách trống rỗng, chưa có nước thiết lập quan hệ ngoại giao, không có vũ khí vì mới chiến tranh xong, nạn dốt, nạn đói hoành hành; tình thế lúc này phải nói là “ngàn cân treo sợi tóc”, như “ngọn đèn dầu mà đứng trước ngọn gió”, nếu không cẩn thận trong từng quyết định thì nguy cơ chúng ta mất nước, nguy cơ chúng ta bị xâm lược là điều không thể tránh khỏi.

Phải nói rằng, chúng ta tuy dành được chính quyền nhưng nguy cơ mất nước một lần nữa là điều không thể nào tránh khỏi. Một điều được đặt ra cấp bách bây giờ là cần có một chính sách để có thể hòa hoãn được cuộc chiến nổ ra nhưng đồng thời cũng sẽ giúp ta có thêm thời gian để chuẩn bị về cả vật chất và tinh thần. Chúng ta không sợ chiến tranh, chúng ta không sợ chết nhưng chúng ta sợ mất nước, vì mất nước thì chúng ta sẽ phải làm nô lệ, sẽ phải làm “kiếp trâu ngựa” cho chúng. Tinh thần ấy dường như đã thấm nhuần trong lòng của mỗi người con đất Việt và đến một lúc, nó sẽ tuôn ra như nước trong nguồn vậy. Và thực tế, lịch sử đã chứng minh sự khôn khéo và tài tình của Đảng ta mà đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã có kế hoạch trong những tháng tiếp đó.

Hiệp định Sơ bộ được ký kết trong hoàn cảnh thực dân Pháp một mặt, điều đình với Chính phủ THDQ ở Trùng Khánh, mặt khác điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh để được đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam một cách “hợp pháp”. Trong khi đó, THDQ cũng đang vấp phải khó khăn ở trong nước (bị Hồng quân TQ phản công), lại được thực dân Pháp thỏa mãn một số quyền lợi, vì vậy, THDQ đã đồng ý kí với Pháp Hiệp ước Trùng Khánh (28/2/1946), nhường cho Pháp quyền thay THDQ vào miền Bắc Đông Dương để giải giáp quân Nhật.

Vì thế ngày 5/3/1946, tại làng Canh (Hà Đông), Hội nghị BCH TWĐ mở rộng đã quyết định chọn giải pháp “hòa để tiến”, đàm phán, hòa hoãn, nhân nhượng với Pháp. Sáng sớm ngày 6/3/1946, trong giờ phút quyết định, Thường vụ Trung ương Đảng nhất trí với đề nghị của Hồ Chủ tịch cách giải quyết bế tắc trong đàm phán, đó là: “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do…” với một định nghĩa của từ “tự do”. 12h trưa ngày 6/3/1946, Hồ Chủ tịch và Sainteny họp lại. Phía Pháp đồng ý với đề nghị trên của ta và hai bên thông qua dự thảo Hiệp định. Cùng ngày 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ VNDCCH ký với G.Xanhtơni (J.Sainteny)- đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ. Tham dự lễ ký còn có các nhà ngoại giao của Mỹ, Anh, Tưởng Giới Thạch và Louis Caput, đại diện Đảng Xã hội Pháp ở Việt Nam. Sau khi Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám đọc to nội dung bản Hiệp định và các phụ khoản kèm theo, Hồ Chủ tịch với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhìn lướt các điều khoản của Hiệp định và đặt bút ký. Tiếp đó, Người chuyển văn bản Hiệp định cho Vũ Hồng Khanh ký với danh nghĩa đại diện đặc biệt của Hội đồng Chính phủ (do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam không chịu ký). Người ký cuối cùng là Sainteny.

Hiệp định Sơ bộ tuy còn một số điểm chưa hợp lý nhưng nó chính xác đã được ký trong một thời điểm quan trọng và điều đó là vô cùng hợp lý. Tránh đối đầu quá nhiều kẻ thù cũng một lúc, cân nhắc, đong đo thời gian để có thể tính toán cho những bước đi kế tiếp, đó chính là nghệ thuật trong đường lối ngoại giao của ta. Như vậy với việc quyết đoán ký nhanh với Pháp Bản Hiệp định sơ bộ thì ta đã nhanh chóng và không tốn sức lực gạt được 180.000 quân Tưởng ra khỏi miền Bắc (dù trên thực tế, lính Tưởng phải đến tháng 6/1946 mới rút hết về nước). Với việc ký kết này, ta đã biến điều khoản thay quân trong Hiệp định song phương Trùng Khánh giữa Pháp và Tưởng thành thỏa thuận 3 bên. Sự tài tình và khôn khéo ấy đã khiến cho chúng ta được một thời gian không phải đổ máu, không phải hi sinh tính mạng một ai. Trên tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn, hiệp định Sơ bộ thực sự là một chiến thắng đầy tính ngoạn mục của chúng ta kể từ sau Cách mạng Tháng Tám.

Sự phát triển của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam từ Hiệp định Sơ bộ đến Hiệp định Gienève
Sự phát triển của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam từ Hiệp định Sơ bộ đến Hiệp định Gienève

2. Tạm ước 14/9/1946: Giải pháp cho sự bế tắc tạm thời, thể hiện nghệ thuật ngoại giao tài tình của Đảng

Cuộc gặp diễn ra trên tuần dương hạm Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946. Tại cuộc gặp, Hồ Chủ tịch và Cao ủy d’Argenlieu đã thống nhất một số điểm: Trung tuần tháng 4/1946 một phái đoàn Quốc hội Việt Nam sẽ thăm hữu nghị Quốc hội Pháp; Cùng thời gian đó sẽ có một cuộc họp trù bị giữa hai đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam và Pháp tại Đà Lạt; Sau cuộc trù bị, nửa cuối tháng 5/1946 sẽ có một đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang Pháp để tiến hành cuộc thương lượng chính thức với phía Pháp tại Paris. Cũng nhân dịp này, Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp.

Phái đoàn bao gồm ông Nguyễn Tường Tam Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, và Phó Trưởng đoàn là ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến toàn quốc cùng 13 đoàn viên chính thức. Trước khi đoàn đàm phán Việt Nam lên đường đi Đà Lạt, Hồ Chủ tịch đã căn dặn các thành viên trong đoàn phải đoàn kết, thống nhất, giữ vững kỷ luật, bám sát tinh thần và nội dung của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 khi trao đổi với đối phương. Người đặc biệt dặn dò đoàn: “Cần đặt vấn đề Nam Bộ và vấn đề đình chiến lên đầu chương trình nghị sự”. Trong quá trình họp, phía Pháp thể hiện rõ lập trường thực dân lỗi thời như không công nhận Việt Nam có quyền ngoại giao, không có quyền ký các hiệp ước quốc tế và đặc biệt muốn tách Tây Nguyên thành khu tự trị, không bàn đến vấn đề Nam Bộ… Vì những bất đồng căn bản giữa hai bên nên Hội nghị Đà Lạt kết thúc ngày 11/5/1946 mà không đạt kết quả gì.

Ngày 18/5/1946, Cao ủy d’Argenlieu từ Sài Gòn ra Hà Nội cố gắng thuyết phục Hồ Chủ tịch và đoàn đại biểu Việt Nam chưa sang Pháp với lý do Pháp chưa bầu được chính phủ. Tuy nhiên, Hồ Chủ tịch và Chính phủ ta kiên quyết không chấp nhận lý do do d’Argenlieu đưa ra. Khi đoàn Việt Nam sắp lên đường thì ngày 29/5/1946, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam cáo bệnh không đi Pháp nữa. Sau đó ông Tam đã chạy sang Trung Quốc theo chân quân đội Tưởng Giới Thạch và có thông tin ông ta đã mang theo toàn bộ kinh phí chuẩn bị cho đoàn Việt Nam đi Pháp. Vì vậy, ngày 30/5/1946, ông Phạm Văn Đồng, Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, được cử làm Trưởng đoàn Việt Nam. Với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tham dự cuộc đàm phán nhưng Người luôn quan tâm theo sát quá trình thương lượng, chỉ đạo và giữ vai trò tác động quan trọng trong quá trình thương thảo tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam.

Hội nghị Fontainebleu bắt đầu với bài diễn văn với lời lẽ lễ tân chào mừng vô thưởng, vô phạt của Trưởng đoàn Pháp Max Andre. Ngược lại, Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng đọc diễn văn đáp từ với những lời lẽ mạnh mẽ, thực chất. Sau khi lên án những hành động của phía Pháp vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6/3 như: không đình chỉ chiến sự, đánh chiếm vùng cao nguyên Pleiku – Kontum, chiếm Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội, và nghiêm trọng hơn cả là việc thành lập một chính phủ bù nhìn ở Nam Việt Nam (Nam Kỳ tự trị), ông Phạm Văn Đồng nói: “Nếu coi Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 chỉ là một phương tiện để có thể kéo quân vào Bắc Việt Nam, để đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, buộc chúng tôi chấp nhận ‘những việc đã rồi’, thì không thể nào đi đến một sự thỏa thuận hòa bình và hữu nghị mà hai dân tộc chúng ta đều mong ước”.

Trong quá trình đàm phán, phái đoàn Việt Nam nhất quán theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam. Tuy nhiên, phái đoàn Pháp chỉ muốn coi Việt Nam là quốc gia tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, còn Liên bang Đông Dương là một liên hiệp các quốc gia tự trị tại Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp. Về phần mình, Phái đoàn Việt Nam muốn quan hệ của Việt Nam và các bên trong Liên hiệp Pháp là sự hợp tác tự do và bình đẳng về mọi mặt, còn Liên bang Đông Dương chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và tài chính vì Liên bang Đông Dương không phải là một quốc gia.

Ngày 13/9/1946, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và phần lớn thành viên phái đoàn Việt Nam rời Paris. Để cứu vãn tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nán lại Paris thêm vài ngày. Bác chủ động gặp Thủ tướng Pháp George Bidault và trực tiếp đàm phán với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet một văn bản thỏa thuận trong ngày 14/9/1946. Hồ Chủ tịch và Bộ trưởng Moutet đã ký bản Tạm ước (modus vivendi) 14/9/1946 gồm 11 điều khoản có tính chất nguyên tắc và sau này sẽ được hai bên tiếp tục đàm phán cụ thể hóa. Tạm ước 14/9/1946, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/10/1946, chứa đựng những nhân nhượng cao nhất về kinh tế, thương mại mà Chính phủ Việt Nam có thể dành cho Pháp. Đó là những nhân nhượng cuối cùng mà Hồ Chủ tịch và Chính phủ ta có thể cam kết. Nếu nhượng bộ thêm nữa sẽ vi phạm đến độc lập, chủ quyền tối cao của đất nước, dân tộc Việt Nam.

Với âm mưu thâm độc và nhất quán muốn xâm chiếm nước ta một lần nữa, thực dân Pháp luôn giữ thái độ cứng nhắc với ta. Về phía ta, lực lượng cả về quân sự lẫn kinh tế, chính trị đều vẫn còn trong thời gian cần được phục hồi nên vẫn chưa có thể đạt được những thỏa thuận có lợi nhất với Việt Nam. Nhưng phải khẳng định ở đây một điều rằng với việc Hồ Chủ tịch ký với Pháp bản Tạm ước 14/9, thời gian đã được kéo dài, chúng ta đã nhân nhượng những quyền lợi về kinh tế cuối cùng mà bản thân chúng ta có thể đáp ứng cho họ đổi lại chúng ta sẽ được hòa bình thêm một thời gian. Tuy ngắn, nhưng Tạm ước 14/9/1946 là một giải pháp chính trị linh hoạt, tài tình nhằm bảo vệ Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, cứu vãn Hội nghị Fontainebleau và kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho Việt Nam tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng cho tới ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946.

3. Hiệp định Giơnève: Thể hiện nghệ thuật ngoại giao chiến thắng từng bước

Với chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra thế và lực cho Việt Nam trên chính trường mà quan trọng ở đây là cuộc đàm phán tại hội nghị Giơnève. Điểm đặc biệt gây ấn tượng của phái đoàn Việt Nam ở hội nghị là lúc đầu hội nghị chỉ họp bàn về việc đình chiến nhưng chính chúng ta đã lật ngược ván cờ, yêu cầu cần lập lại hòa bình tại khu vực, trong đó có Việt Nam. Chính điều không nằm trong “kịch bản” này đã gây bất ngờ cho các nước tham dự hội nghị. Trước những diễn biến ngày càng bất lợi ở chiến trường Đông Dương, sức ép từ trong nội bộ chính quyền, của dư luận và làn sóng đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt “cuộc chiến tranh bẩn thỉu”, Chính phủ Pháp nghĩ đến một giải pháp thương lượng. Ngày 3-12-1953, Chính phủ Pháp tuyên bố muốn biết lập trường chính thức của Chính phủ Việt Nam, sau đó sẽ xem xét với sự thỏa thuận của các quốc gia liên kết. Nhưng đoàn ta do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu lại ở vào vị thế rất bất lợi. Hội nghị có chín thành viên, phía Pháp có sáu, gồm Pháp, Mỹ, Anh và ba chính quyền liên kết với Pháp là Lào, Cam-pu-chia và Nam Việt Nam (chính quyền Bảo Đại). Ta có Liên Xô, Trung Quốc là đồng minh, nhưng lúc này ta chưa hiểu nhiều về chiến lược của hai nước, nhất là chưa hiểu được mưu tính của Trung Quốc. Liên Xô quan tâm chủ yếu tới việc bảo đảm hội nghị thành công, còn mọi việc ủy thác cho Trung Quốc. Trên thực tế, Việt Nam một mình phải chọi bảy.

Trước những thuận lợi của tình hình thế giới và những biến chuyển khả quan trên chiến trường, lãnh đạo Việt Nam chủ trương đẩy mạnh kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao. Trải qua hơn 70 ngày thương lượng, với 31 phiên họp và rất nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc song phương và đa phương bên lề Hội nghị, ngày 20-7-1954, ta và Pháp đã ký các hiệp định đình chỉ chiến sự và cùng các bên ra tuyên bố cuối cùng vào ngày 21-7-1954. Hội nghị Giơ-ne-vơ kết thúc, Hiệp định về Đông Dương được ký kết đã trở thành văn bản mang tính quốc tế cho một giải pháp kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam một cách toàn diện trên các mặt: quân sự, chính trị, xã hội, ngoại giao và pháp lý, mở ra thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.

Với hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp và các nước công nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, rút hết lực lượng quân sự Pháp. Việt Nam có miền bắc từ sông Bến Hải (Quảng Trị) trở ra để xây dựng và làm cơ sở đấu tranh giải phóng miền nam. Bản Hiệp định Giơ-ne-vơ là cơ sở pháp lý vững vàng để ta tiếp tục đấu tranh chống Mỹ sau này. Đó là thắng lợi của nhân dân ta qua chín năm chiến đấu hy sinh. Tuy nhiên, với những hy sinh to lớn qua hơn 20 năm đấu tranh chống đế quốc Mỹ sau đó, nay ta phải thấy cả thắng lợi và cả những mặt thiệt thòi của Hiệp định Giơ-ne-vơ là ta không giành được giới tuyến tập kết ở vĩ tuyến 16, không có tổng tuyển cử mà phải tiếp tục chiến đấu vũ trang; lực lượng cách mạng ở Cam-puchia không có vùng tập kết, ở Lào chỉ được hai tỉnh Phong-sa-lỳ và Sầm Nưa, nhỏ hơn nhiều so với vùng giải phóng.

Với việc ký kết hiệp định Giơnève, chúng ta đã rút ra được cho mình những bài học vô cùng quan trọng. Trước hết là trong đấu tranh và ngoại giao, quan hệ quốc tế, phải nắm vững nguyên tắc độc lập tự chủ. Tiếp theo là bài học về kết hợp giữa chiến đấu và đàm phán, giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để bảo vệ và xây dựng đất nước. Hai bài học đó đã được ta vận dụng tốt trong Hội nghị Pa-ri sau này và đã giành được thắng lợi lớn. Hiệp định Giơ-ne-vơ – cơ sở pháp lý quốc tế đầu tiên khẳng định độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thắng lợi bước đầu quan trọng có tính pháp lý quốc tế đã giúp nhân dân ta đấu tranh chống lại sự can thiệp của đế quốc Mỹ và trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam cho đến ngày toàn thắng. Tiếp theo, Hiệp định Giơnève – điều kiện tiên quyết để Việt Nam xây dựng miền Bắc vững mạnh, trở thành hậu phương chiến lược, chi viện cho chiến trường lớn miền Nam đánh Mỹ. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, buộc Pháp phải rút hết quân về nước, hòa bình được lập lại ở Đông Dương; trong đó, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng. Điều đó đã tạo ra một vùng không gian lãnh thổ với cơ cấu hoàn chỉnh của một quốc gia độc lập, để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung củng cố, xây dựng, phát triển miền Bắc tiến theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương chiến lược chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.

4. Sự biến chuyển tình thế của Việt Nam từ Sơ bộ đến Giơnève

Sự phát triển của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam từ Hiệp định Sơ bộ đến Hiệp định Gienève
Sự phát triển của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam từ Hiệp định Sơ bộ đến Hiệp định Gienève

Nhìn nhận trên cả một quá trình lịch sử kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954 có thể nhận thấy xu hướng phát triển của nền ngoại giao Việt Nam đã trưởng thành và phát triển như thế nào. Chúng ta từ việc dành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng phía sau, chúng ta còn gặp vô vàng những khó khăn, cả bên trong lẫn bên ngoài, về nội lực lẫn tiềm lực. Chúng ta bị chiến tranh trước đó tàn phá; chúng ta bắt đầu công cuộc phục hồi trong một bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng chính bản lĩnh và sự sáng suốt, tài tình của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Đại tướng Võ Nguyên Gíap, là Phạm Văn Đồng,… mà “nguy kịch” của Việt Nam đã được cứu khỏi. Việt Nam thời điểm ấy đã kiên trì về nguyên tắc, song linh hoạt về sách lược, tiến hành các hoạt động ngoại giao rất khôn khéo để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 là đỉnh cao của đấu tranh ngoại giao trong những ngày đầu lập nước, thể hiện mẫu mực tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến”.

Ngoại giao Việt Nam từ thế bị động đã chuyển sang thế chủ động với nhiều chiến thắng liên tiếp khiến Pháp phải nhìn nhận lại vấn đề và phải từ bỏ giấc mộng xâm lược chúng ta. Từ Sơ bộ đến Tạm ước, chúng ta đã nhân nhượng, đã dành cho Pháp những đặc quyền về kinh tế mà chúng ta có thể đáp ứng, nhưng thực dân Pháp vẫn giữ tâm thế của một tư bản cho vay và âm mưu độc chiếm VN là ưu tiên số một của họ. Thật may mắn với việc ký kết hai bản hiệp ước ấy, chúng ta đã có thể giữ được sức lực và vật chất, tránh đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc; tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng, rèn dũa vũ khí, nâng cao tinh thần chuẩn bị kháng chiến loại bỏ thực dân Pháp ra khỏi lãnh thổ. Nhất là với việc ký bản hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, chúng ta đã tạo ra khoảng trống về mặt chiến lược và sau này, cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nhận xét rằng: “Lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm thời hòa hoãn với Pháp để đuổi cổ quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, giành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, điều mà Đảng ta biết chắc là không thể nào tránh khỏi. Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”.

Nhưng thời thế sau đó đã khác, bản thân Pháp đã không hề tuân thủ theo các giá trị ở hai bản hiệp định trong khi chúng ta đã nhân nhượng, chúng ta muốn hòa bình và chiến tranh không xảy ra trên mảnh đất này thêm một lần nữa. Trước tình hình căng thẳng trong quan hệ của hai nước đã đến đỉnh điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đánh giá thời kỳ hòa hoãn giữa Việt Nam và Pháp đã qua, chúng ta không thể nhân nhượng đối phương thêm và quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên phạm vi toàn quốc. Ngày 20/12/1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 19/12/1946, trong đó có đoạn: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!…” Và kể từ thời khắc ấy, thực dân Pháp đã nắm chắc “9 phần thua, 1 phần thắng” cả về mặt quân sự, chính trị lẫn cả lĩnh vực ngoại giao; thực tế đã khẳng định sự yếu kém và sa lầy của thực dân Pháp đã cuốn hàng ngàn người vô tội vào cuộc chiến phi nghĩa mà họ đặt ra; công lý, sự thật thì luôn thắng và Việt Nam đã chứng minh điều đó trên chính mảnh đất này.

Cho đến cuối năm 1953, hình thái chiến trường ngày càng thể hiện rõ sự chủ động chiến lược của Việt Nam, được bắt đầu từ sau chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950. Vì thế, Điện Biên Phủ ban đầu không có trong Kế hoạch Nava nhưng đã nhanh chóng trở thành điểm trung tâm của kế hoạch này do hoạt động chủ động tiến lên Tây Bắc của một đơn vị Việt Nam để tiến công giải phóng Lai Châu. Điều đó cho thấy rõ sự bị động đối phó của Pháp. Việc bị động này đã đưa nước Pháp đến hội nghị Giơnève với đầy sự áp lực cả về với quốc tế và với lẫn trong chính quốc gia họ. Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Hội nghị chưa đạt được đầy đủ các mục tiêu của đoàn Việt Nam đề ra, nhưng đã phản ánh tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Pháp trên chiến trường, tại bàn đàm phán và hoàn cảnh quốc tế lúc đó, khẳng định rõ thiện chí hòa bình, nỗ lực kết thúc chiến tranh của Việt Nam và sự đi lùi về mặt chiến thuật, chính trị và hơn hết là nền ngoại giao của họ. Sự bị động ấy đồng thời đã chuyển toàn bộ “năng lượng” đến với phái đoàn của Việt Nam- đến hội nghị với tư cách như là một quốc gia nhỏ bé nhưng đã chiến thắng một thực dân sừng sỏ của thế kỷ, một tên xâm lược đầy toan tính và tràn đầy kinh nghiệm trước đó.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, hoạt động ngoại giao đã góp phần tích cực phá vây, thiết lập quan hệ ngoại giao và liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa, nêu cao thiện chí, chính nghĩa và nỗ lực vãn hồi hòa bình của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận thế giới, hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Căm-pu-chia và góp phần tranh thủ một khối lượng lớn trợ giúp về vũ khí, khí tài, vật chất cho cuộc kháng chiến của ta. Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 21/7/1954 thể hiện sự phối hợp chặt chẽ quân sự với ngoại giao, giữa thắng lợi quân sự trên chiến trường mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ với đấu tranh trên bàn đàm phán ở Giơ-ne-vơ, đồng thời khẳng định tính tất thắng của cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Vì hòa bình, độc lập, trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, Việt Nam đã không bỏ qua bất cứ cơ hội nào dù là nhỏ nhất để thương lượng nhằm kết thúc cuộc chiến bằng một giải pháp hòa bình. Quyết tâm chiến đấu và chiến thắng tại Điện Biên Phủ đã đưa Việt Nam đến Hội nghị Giơnevơ trên tư thế của người chiến thắng và có lợi thế khi bước vào đàm phán. Lập trường, quan điểm, nguyện vọng chính đáng, bất di bất dịch và kiên quyết đấu tranh đến cùng của Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ. Thiện chí kết thúc chiến tranh bằng giải pháp hòa bình của Việt Nam thể hiện rõ trong suốt quá trình đàm phán và kết quả của Hội nghị. Việt Nam thường xuyên tham khảo ý kiến của Liên Xô, Trung Quốc, kiên trì đàm phán khi Pháp nhiều lần tỏ ra thiếu thiện chí, chấp nhận nhiều nội dung như vấn đề giới tuyến, thời hạn hiệp thương tổng tuyển cử…

KẾT LUẬN

Nhìn về một thời ngắn ngủ chỉ vỏn vẹn 9 năm (1945-1954) nhưng chúng ta đã chứng kiến sự trưởng thành thực sự của nền ngoại giao Việt Nam bên cạnh về quân sự và chính trị trên trường quốc tế. Chúng ta từ một quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trước đó nhưng đã khiến cả thế giới phải nhìn nhận lại sự phi thường và tinh thần yêu nước của chúng ta; lật tẩy sự gian xảo và âm mưu xâm chiếm nước ta của thực dân Pháp. Nghệ thuật ngoại giao của Việt Nam với những người đứng đầu như Hồ Chủ Tịch, như Phạm Văn Đồng,… đã dẫn đường, soi lối cho dân tộc ra khỏi 9 năm gian nan nhưng vô cùng hãnh diện vì hơn hết chúng ta đã chiến thắng, chiến thắng chính chúng ta- bỏ qua sự sợ hãi với một quốc gia hơn cả dân tộc 1 phương thức sản xuất, chiến thắng một thực dân sừng sỏ với đầy đủ kinh nghiệm trên chiến trường.

Chúng ta cũng chuyển từ thế bị động sang thế chủ động cả trên chiến trường lẫn trên bàn đàm phán, từ Sơ bộ đến Giơnève, Việt Nam có thể đầy đủ tự tin ngẩng cao đầu vì chúng ta đã làm được. Hơn hết, chính hiệp định Giơnève đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc tính đến thời điểm lúc bấy giờ. Giáo sư, tiến sĩ sử học người Pháp, Pierre Journoud, trong trả lời phỏng vấn Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 2-11-2018, đánh giá về sự kiện Giơnevơ như sau: “Đó là lần đầu tiên các lãnh đạo của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lãnh đạo Pháp gặp nhau trong khuôn khổ các đàm phán tại Genevơ để chấm dứt cuộc chiến của Pháp tại Đông Dương… và trên cả cuộc gặp này, đó là để chấm dứt cuộc chiến… Đây là cột mốc đầu tiên, có tính gây dựng cho việc hai nước Việt – Pháp xích lại gần nhau. Đây cũng là điểm khởi đầu cho các hợp tác về kinh tế và văn hóa giữa hai nước… Vì vậy, cuộc gặp năm 1954 là một bước đi, một quyết định chính trị mạnh mẽ và đầy biểu tượng cho việc xây dựng mối quan hệ giữa nước Pháp với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt dài hạn.”

Tác giả Nguyễn Tuấn Hùng.

Tài liệu tham khảo

  • 1. Trần Bá Đệ (Chủ biên) (2007), Giaó trình Lịch sử Việt Nam (1945-1975), NXB Đại học Sư phạm
  • 2. Ban chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam (2008), Lịch sử chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia
  • 3. Hoàng Vĩnh Thành (2020), “Bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”, <https://baoquocte.vn/buoc-ngoat-quan-trong-cua-cuoc-khang-chien-chong-thuc-dan-phap-107848.html>
  • 3. Trần Việt Thái, Nguyễn Xuân Cường (2019), “Hiệp định Giơ-ne-vơ và bài học về nghệ thuật biết thắng từng bước”, <http://tapchiqptd.vn/vi/su-kien-lich-su/hiep-dinh-gionevo-va-bai-hoc-ve-nghe-thuat-biet-thang-tung-buoc/14072.html>
  • 4. Hoàng Vĩnh Thành (2020), “Hiệp định sơ bộ 6/3: Kỳ tích khởi đầu lịch sử đấu tranh ngoại giao của nước Việt Nam mới (kỳ 1)”, <https://baoquocte.vn/hiep-dinh-so-bo-63-ky-tich-khoi-dau-lich-su-dau-tranh-ngoai-giao-cua-nuoc-viet-nam-moi-ky-i-111911.html>
  • 5. Vũ Thị Hồng Dung, Nguyễn Thị Huyền Chi (2019), “Từ Điện Biên Phủ đến Giơnevơ – Con đường kết thúc chiến tranh của Pháp ở Việt Nam”, <http://www.lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nhan-vat-su-kien/item/2930-tu-dien-bien-phu-den-gionevo-con-duong-ket-thuc-chien-tranh-cua-phap-o-viet-nam.html>