Sự thật về việc vua Minh Mạng xử chém cha vợ vì tham nhũng

Thiên Cổ Kỳ Án

Vụ Phó tổng trấn Gia Định Hoàng Công Lý (hay Huỳnh Công Lý) bị xử tử dưới thời vua Minh Mạng vì tội tham nhũng là một trong những vụ đại án tham nhũng lớn nhất thời Nguyễn. Cho đến giờ, những giai thoại xung quanh chuyện này được lan truyền nhiều, bao gồm cả trên mặt nhiều báo nhưng khá sơ sài và có những chi tiết cần xem lại, đặc biệt là kỳ án được nhiều người tin chắc rằng Hoàng Công Lý là cha vợ của vua Minh Mạng và chính vua Minh Mạng đã xử chém cha vợ mình vì tội tham nhũng. Bài tác giả này xin viết lại về nhân vật Hoàng Công Lý với sử liệu cụ thể rõ ràng hơn.

Hoàng Công Lý tham nhũng đáng tội chết

Sử không chép nhiều về xuất thân của Hoàng Công Lý nhưng Đại Nam thực lục có nhiều ghi chép chứng tỏ ông là sủng thần dưới thời Gia Long – vua mở đầu triều Nguyễn. Trong Đệ nhất kỷ – Quyển XIV – Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế thì Hoàng Công Lý lần đầu được nhắc tới khi được cất nhắc từ phó đội lên làm Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực nhị (năm 1801). Một năm sau, Hoàng Công Lý được thăng lên làm Vệ úy vệ Trung nhị. Một phó đội thường hàm ngũ phẩm là cao mà chỉ trong chưa đầy 2 năm đã được thăng làm Vệ úy thường là tam phẩm thì có thể nói là thăng quan rất nhanh.

Tin tưởng Hoàng Công Lý, khi dựng phủ đệ hoàng tử, Gia Long sai Thị trung vệ úy Hoàng Công Lý và Nội trực vệ úy Trương Phước Phượng trông coi công việc. Cùng năm, Sai Vệ úy Thị trung là Hoàng Công Lý kiêm quản quân Cửu dực. Năm 1808, Ban mũ áo cho bọn Cai cơ Nguyễn Viết Bảo, Vệ úy Trần Đăng Long, Tôn Thất Bính, Nguyễn Văn Phân, Nguyễn Văn Soạn, Trương Văn Phượng, Hoàng Công Lý. Năm 1809, lấy Vệ úy vệ Trung nhị Thị trung là Hoàng Công Lý làm Vệ úy vệ Trung nhất Thị trung.

Năm 1811, triệu Chưởng cơ lãnh trấn thủ Bình Định là Vương Văn Học về Kinh; lấy Vệ úy Thị trung là Hoàng Công Lý lãnh Trấn thủ Bình Định. Đến 1815, lại lấy Thuộc nội vệ úy vệ Trung nhất Thị trung lãnh Trấn thủ Bình Định là Hoàng Công Lý làm Tả thống chế thị trung (quản năm vệ Trung nhất, Tiền nhất, Tả nhất, Hữu nhất, Hậu nhất). Cần phải thấy là trong mắt của Gia Long thì Bình Định là một trấn rất quan trọng vì đây là nơi phát tích của nhà Tây Sơn. Điều Gia Long lo lắng nhất là người Tây Sơn lại làm loạn nên trọng trấn này nhất định phải giao cho một người đáng tin tưởng và Gia Long đã để Hoàng Công Lý là người chia bớt gánh lo.

Sự kiện xử án của Nguyễn Văn Thành là bằng chứng thể hiện rất rõ sự tin tưởng của vua Gia Long với Hoàng Công Lý. Vua Gia Long cho Hoàng Công Lý như một tâm phúc tiếp xúc với Văn Thành để nghe viên tướng này có than thở gì không rồi về báo cho vua. Đại Nam thực lục chép: Khi Văn Thành bị bắt vua bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị trung. Bầy tôi họp ở Võ công thự để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không?” Thành nói: “Không”. Hỏi: “Có dự biết không?” Thành nói: “Không”. Văn Thành trả lời rồi đi ra, sắc mặt bừng bừng, trở về nhà quan, nói với Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý rằng: “án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Rồi Thành đi nằm hồi lâu, uống thuốc độc chết. Việc tâu lên, vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?” Công Lý đem hết lời Thành nói thưa lên. Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Bỗng có quân lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ biểu khóc to lên đưa cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.

Năm 1817, xây gạch Kinh thành. Vua Gia Long sai bọn Hoàng Công Lý, Trương Phước Đặng, Nguyễn Đức Sĩ, trông coi công việc. Cần lưu ý trong việc xây kinh thành thì Hoàng Công Lý được nêu tên đầu.

Sự kiện Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định được nêu trong Đệ nhất kỷ – Quyển LVIII – Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế tức Gia Long. Năm 1818, Lấy Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Phong làm Phó tổng trấn Bắc Thành, Tả thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định.

Thời gian 1819, vua Gia Long còn sai Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý lấy dân Phiên An hơn 10.000 người, cấp cho tiền gạo mà sai làm việc. Khi công việc xong, cho tên là sông An Thông. (Sông ở phía tây nam trấn, trước có sông từ kênh Thông, qua Sài Gòn đến Lao Giang, xa xôi, nhỏ hẹp, quanh co, nông cạn. Đến nay đổi đường cũ, đào kênh mới, từ kênh Thông thẳng đến sông Mã Trường, dài hơn 9 dặm, ngang 7 trượng 5 thước, sâu 9 thước). Đường sông đã thông, thuyền bè đi lại ngày đêm nối nhau, bèn thành chỗ bến sông đô hội, người ta đều khen là tiện lợi. Có thể thấy Gia Long rất tín nhiệm Hoàng Công Lý trong việc xây đắp, thổ mộc…

Năm 1820, Gia Long qua đời và vua Minh Mạng lên ngôi. Ngay năm đầu lên ngôi, Minh Mạng đã lấy Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định. Động tác đầu tiên của Lê Văn Duyệt khi đến Gia Định là gì? Điều Hoàng Công Lý ra ngoài một thời gian có lẽ là để phục vụ điều tra. Đại Nam thực lục chép: “Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã đến Gia Định, sai Hoàng Công Lý tiến đánh dẹp, gửi hịch cho nước Chân Lạp thêm quân để làm thế đánh hai mặt. Công Lý đánh nhau với giặc, giặc thua chạy, bèn dẫn quân về“.

Hoàng Công Lý ngỡ rằng thắng giặc là lập đại công nhưng không ngờ là ngay khi về vài tháng thì đã chịu tội. Đại Nam thực lục chép ngay trong 1820: Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”.

Năm 1821, Minh Mạng cho xử chết Hoàng Công Lý. Đại Nam thực lục chép: “Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định đòi hỏi. Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại cho binh dân“.

Đại Nam thực lục còn kể thêm tội của Hoàng Công Lý trong thời gian trước khi đến Gia Định: Công Lý khi làm Tả thống chế quân thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó (Minh Mạng) dụ rằng, từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn…

Có thể tin khi Minh Mạng còn là hoàng tử thì đã biết Hoàng Công Lý hay tham nhũng rồi. Chỉ hiềm vì Công Lý là sủng thần của Gia Long nên không vội động đến. Nhưng ngay khi lên ngôi thì Minh Mạng không còn ngại trong việc điều tra Hoàng Công Lý trước khi định tội. Thế mới thấy tội tham nhũng sớm muộn đều có thể phải trả giá dù có lên chức Phó tổng trấn Gia định hay là sủng thần một thời.

Sự thật về việc vua Minh Mạng xử chém cha vợ vì tham nhũng
Sự thật về việc vua Minh Mạng xử chém cha vợ vì tham nhũng

Hoàng Công Lý không phải cha vợ mua Minh Mạng

Chuyện Hoàng Công Lý (hay Huỳnh Công Lý) là cha vợ Minh Mạng chỉ tồn tại trên một vài giai thoại mà giai thoại đôi khi lại gây ra ngộ nhận về lịch sử. Trong những trường hợp giai thoại đánh tráo nhận định lịch sử thì chúng ta cần phải minh định rõ ràng để lịch sử được trả về đúng sự thật. Minh Mạng chỉ xử một viên tham quan chứ đừng ‘đóng mác’ cho ông là xử tử cha vợ, hay để bụng với Lê Văn Duyệt trong vụ án Hoàng Công Lý.

Chính sử đã ghi rất rõ chuyện Minh Mạng ban chết cho Hoàng Công Lý bởi tội danh tham nhũng. Thế nhưng, Hoàng Công Lý chưa bao giờ được chính sử ghi là cha vợ của Minh Mạng.

Tuy nhiên, Wikipedia phần chép về Hoàng Công Lý lại ghi: “Đến khi con gái ông được tuyển vào cung, được vua Minh Mạng phong làm phi (Huệ phi), ông càng được tin cậy” và đây là nguồn cơn khiến nhiều tờ báo ngộ nhận rằng con gái của Hoàng Công Lý là Huệ phi thì đương nhiên ông Lý là cha vợ. Trên thực tế, gia phả hoàng tộc nhà Nguyễn cũng không hề ghi chép về việc Minh Mạng có người vợ nào là Huệ phi, là con gái của Hoàng Công Lý cả. Do vậy, việc nói Minh Mạng “quân pháp bất vị thân” trong vụ xử chết cha vợ tham nhũng hay việc Lê Văn Duyệt “tiền trảm hậu tấu” đối với Hoàng Công Lý đều không có cơ sở.

Trước hết, cần phải xem trong Đại Nam thực lục ghi chép khá rõ việc xử tội Hoàng Công Lý. Cụ thể là năm 1820, “Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”.

Cuối năm, khi bàn bạc với quần thần thì vua Minh Mạng lại nhắc đến Hoàng Công Lý với thái độ rất dứt khoát: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”.

Năm 1821, thời điểm Huỳnh Công Lý bị đưa ra chấp pháp thì Minh Mạng có dụ rằng: “Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Hoàng Công Lý, lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót kể đến muôn vàn, bắt người làm việc [riêng] mỗi lần đến hàng mấy nghìn, mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ các ngươi vô tội mà gặp nỗi độc hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hồi được. Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình”.

Lý làm Tả thống chế quân Thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó dụ rằng từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn“.

Như vậy, trong Đại Nam thực lục ghi rất rõ thái độ, phát ngôn của vua Minh Mạng về Hoàng Công Lý và cả việc xử phạt. Trong đó không hề nhắc chuyện như Wikipedia và các thông tin thiếu kiếm chứng trên mạng về sự kiện sau khi Hoàng Công Lý bị chấp pháp thì “con gái ông là Huệ phi bị đuổi ra khỏi cung về làm dân thường“.

Chuyện vô lý ở đây là nếu con gái của Hoàng Công Lý đã lên đến chức Huệ phi thì cũng có địa vị rất cao trong hậu cung và phải được ghi rõ trong thế phả hoàng tộc (nhà Nguyễn không lập hoàng hậu mà vua thường chỉ có rất ít người phi, tần rồi sau đó mới đến Tiệp dư, Quý nhân, Mỹ nhân, Tài nhân…). Nhưng trên thực tế thì nếu chiếu theo cuốn “Nguyễn Phúc tộc thế phả” của Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc biên soạn (do Nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế phát hành năm 1995) không có dòng nào ghi chép về Huệ phi thời Minh Mạng.

Trong các hậu phi của Minh Mạng được thế phả ghi rõ gồm Nhất giai Thần phi Hồ Thị Hoa (con Phúc quốc công Hồ Văn Bôi), người là mẹ vua Thiệu Trị sau khi Thiệu Trị lên ngôi mới tôn làm Tá Thiên nhân Hoàng hậu. Hai người phi là Nhất giai Hiền phi Ngô Thị Chinh (con gái của Chưởng cơ Ngô Văn Sở) và Nhị giai Gia phi Phạm Thị Tuyết (con gái của Quang Lộc tự thiếu khanh Phạm Văn Chẩn). Thời Minh Mạng chỉ ghi chép về 2 người phi này chứ tuyệt đối không có ai là Huệ phi cả, tức là không có ai mang họ Hoàng hay là con của Hoàng Công Lý được phong làm phi cả.

Vấn đề đặt ra là có thể Huệ phi bị gạch tên hay không? Câu trả lời là không. Trước hết có thể dựa vào chuyện của Lê Thị Tường (con gái của Quốc công Lê Chất). Do Lê Chất công cao nên con gái cũng được phong đến tước Tần trong hậu cung. Đến khi có án Lê Chất, Minh Mạng dù rất căm tức Lê Chất nhưng cũng chỉ phế tước trong hậu cung của Lê Thị Tường. Nếu chuyện của một tần là Lê Thị Tường được gia phả Hoàng tộc nhà Nguyễn ghi lại rõ ràng thì chẳng có lý do lại “quên” ghi một Huệ phi nào đó.

Quan trọng nhất là thời điểm xử phạt Hoàng Công Lý năm 1821 thì hậu cung nhà Nguyễn chưa hề có tước Huệ phi mà chức này chỉ được lập vào 15 năm sau, tức là năm 1836. Chúng ta có thể thấy việc này được ghi chép rõ trong Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ.

Trang 163 tập 6 cuốn Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ (do nhà xuất bản Thuận Hóa in năm 1993) có ghi việc phi tần hậu cung nhà Nguyễn thời kỳ đầu được quy định theo thứ bậc như sau: “Lúc quốc sơ định lệ cung giai: 3 Phi là Quý phi, Minh phi, Kính phi. 3 Tu là Tu nghi, Tu Dung, Tu viện. 9 Tần là Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức Tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần. 3 Chiêu là Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viện. 3 Sung là Sung nghi, Sung dung, Sung viện. 6 chức là Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân

Mãi đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua lại có chỉ dụ để đặt lại thứ bậc của hậu cung như sau: “… Nay châm chước việc người xưa đã làm, đặt làm 9 bậc ở Nội cung: đặt một Hoàng quý phi ở trên bậc nhất, để giúp Hoàng thái hậu trông coi lương thực ở trong cung, chỉnh tề công việc bên trong. Lại đặt Quý phi, Hiền phi, Thần phi làm bậc nhất, Đức phi, Thục phi, Huệ phi làm bậc nhì. Quý tần, Hiền tần, Trang tần làm bậc ba. Đức tần, Thục tần, Huệ tần làm bậc 4. Lệ tần, An tần, Hòa tần làm bậc 5. Tiệp dư làm bậc 6, Quý nhân làm bậc 7, Mỹ nhân làm bậc 8, Tài nhân làm bậc 9. Khiến cho trong chốn khuê môn được trật tự phân minh, để tỏ phong hóa tôn nghiêm, tuân theo mãi mãi. Lại xuống dụ: Trước đã chuẩn định nội cung 9 bậc, trong đó Đức phi, nay đổi làm Gia phi” – trích trang 164 tập 6 cuốn Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ.

Từ những điều ghi trong chính sử, trong thế phả và cả những sự kiện mang tính chất điển lệ thì có thể khẳng định nhân vật Huệ phi thời Minh Mạng vốn không tồn tại trong lịch sử. Trong số các phi tần bậc cao vốn dành chỗ cho các con gái đại thần cũng không có ai mang họ Huỳnh/Hoàng cả nên không thể có chuyện Hoàng Công Lý là cha vợ Minh Mạng. Do vậy, chuyện sau khi xử án Hoàng Công Lý, vua Minh Mạng đuổi Huệ phi về làm dân thường chỉ là giai thoại mơ hồ, gây ngộ nhận về nhân vật lịch sử Minh Mạng.

Chúng ta sẽ tiếp tục phân tích sự phi lý và thử mổ xẻ động cơ dẫn đến nảy sinh các giai thoại “Minh Mạng xử tử cha vợ” ở phần tiếp theo.

Sự phi lý trong giai thoại ‘Lê Văn Duyệt chém đầu cha vợ Minh Mạng’

Lê Văn Duyệt chém đầu cha vợ Minh Mạng
Lê Văn Duyệt chém đầu cha vợ Minh Mạng?

Để phủ định việc Hoàng (hay Huỳnh) Công Lý là cha vợ Minh Mạng là việc làm không dễ khi từ cả trăm năm nay, người ta thường nghĩ Hoàng Công Lý là cha vợ của vị vua thứ 2 triều Nguyễn.

Tại sao người ta tin Hoàng Công Lý là cha vợ của Minh Mạng là một điều hiển nhiên, không cần bàn cãi? Đa phần đều tin theo quán tính từ ghi chép của Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn năm xưa và cả từ cuốn Ký ức lịch sử về Gia Định và các vùng phụ cận của Trương Vĩnh Ký.

Ghi chép của Vương Hồng Sển như sau: “Gần Tam Tông Miếu, mấy năm về trước còn thấy một ngôi mộ xây ô dước to lớn, vì chồm ra lộ cái quá nhiều nên bị cải táng. Hỏi ra đó là mả Huỳnh Công Lý. Công Lý là quan to có con gái hầu đức Minh Mạng, được vua sủng ái nên hay cậy thế ỷ thần. Theo cụ Trương Vĩnh Ký chép lại, Lê Tả quân mắc ra chầu vua ngoài Huế, Công Lý ở lại Sài Gòn, có làm nhiều điều ngang dọc và dường như có xúc phạm đến một cô hầu của Tả quân. Khi về Quan Lớn Thượng hay được cả giận bèn tâu tự sự lên Minh Mạng. Ông vua này có ý binh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra Kinh đặng dễ bề tha tội. Tả quân biết trước, sẵn có trong tay Thượng phương Kiếm được quyền “tiền trảm hậu tấu” bèn chém đầu Huỳnh Công Lý, sai quân đóng thùng ướp muối, gởi thủ cấp về Kinh, trên nắp thùng viết mấy chữ: “Phụng Thừa Thánh Chỉ, xử trảm tội nhân”. Minh Mạng thấy sự đã rồi, trong lòng căm giận nhưng không làm gì được Lê Công. Sau Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đem chuyện này ra kết tội khi quân cho Lê Công và vu thêm nhiều tội lớn nữa”.

Chi tiết phi lý thứ nhất trong giai thoại kể trên là “Công Lý là quan to có con gái hầu đức Minh Mạng”. Nếu được Minh Mạng sủng ái thì con gái của Hoàng Công Lý đã được phong tước phi hay tần và được ghi chép. Trong khi thế phả của hoàng tộc nhà Nguyễn không hề ghi tên bà phi hay người vợ nào của Minh Mạng mang họ Hoàng hay Huỳnh.

Cuốn Nguyễn Phước tộc (nxb Thuận Hóa 1995) có ghi vua Minh Mạng có tổng cộng là 43 bà vợ. Ngoài ra, còn một số bà khác không rõ tên và lai lịch. Con gái của Hoàng Công Lý (nếu có) thì sẽ thuộc thành phần có tên, có lai lịch và tất nhiên sẽ được ghi vào. Ngay cả con gái của một tội thần là Lê Thị Tường (con gái của Lê Chất) còn có tên trong danh sách 43 bà vợ thì không lẽ gì con gái của Hoàng Công Lý bị bỏ rơi cả. Nhưng đáng tiếc là trong 43 người được nêu gồm cả các cung nhân không được phong tước đều không có ai mang họ Hoàng hay Huỳnh. Hơn nữa, Minh Mạng lên ngôi chưa được 1 năm thì Hoàng Công Lý đã bị tố cáo thì e rằng ông chưa đủ thời gian để cậy thế ỷ thần.

Chi tiết phi lý thứ hai trong giai thoại kể trên là “Lê Tả quân mắc ra chầu vua ngoài Huế, Công Lý ở lại Sài Gòn, có làm nhiều điều ngang dọc”. Cần nhớ 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (tức ngày 3.2.1820 Tây lịch), Gia Long băng hà thì Minh Mạng lên ngôi. Sau đó khoảng 2 tháng tức tháng 2 âm lịch 1820, Tổng trấn Gia Định khi ấy là Nguyễn Văn Nhân dâng biểu thành khẩn xin vào viếng tang. Vua y cho, sai Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn.

Những mốc sự kiện được ghi chép trong Đại Nam thực lục cho thấy chức vụ Tổng trấn Gia Định luôn có người tại chỗ nắm giữ. Văn Nhân sau khi dâng biểu và được phép cho ra Huế thì Hoài Đức lĩnh ấn, Lê Văn Duyệt đến thì Trịnh Hoài Đức mới có thể về kinh. Vậy lấy đâu ra khoảng thời gian cho Lê Văn Duyệt ra chầu còn Hoàng Công Lý ở nhà trêu ghẹo người hầu của Tả Quân? Đại Nam thực lục năm đó cũng chép Lê Văn Duyệt có biểu tấu xin về Kinh nhưng bị Minh Mạng bác nên quả thật khó có chuyện như giai thoại chép.

Tháng 5 năm Minh Mạng 1 (1820), lấy Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định. Một tháng sau, Trịnh Hoài Đức được triệu về Kinh. Tháng 7, Duyệt sai Hoàng Công Lý đi đánh giặc Kế cướp phá trên các đạo Quang Hóa, Quang Phong và Thuận Thành (vùng biên giới Tây Ninh). Hoàng Công Lý thắng trận. Tháng 9 cùng năm, Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép bị quân nhân tố cáo hơn 10 việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên.

Chi tiết phi lý thứ ba là “Vua có ý binh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra Kinh đặng dễ bề tha tội”. Trên thực tế, Đại Nam thực lục chép: “Vua sai đình thần hội bàn. Đều nói: “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi”. Rõ ràng Minh Mạng đồng ý giam Công Lý ở Gia Định và cử quan thuộc bộ hình từ kinh đô vào Gia Định xét xử chứ đâu có hạ chỉ giải Công Lý ra Kinh.

Vương Hồng Sển là nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ mà tôi luôn kính trọng, nhưng cuốn Sài Gòn năm xưa không phải là một cuốn sử mà mang tính chất ghi chép từ dân gian nhiều hơn. Bản thân giai thoại trên của Vương Hồng Sển cũng chép theo quán tính từ cuốn Ký ức lịch sử về Gia định và các vùng phụ cận của Trương Vĩnh Ký. Trong cuốn đó, Trương Vĩnh Ký có có đề cập đến một trong những ngôi mộ nổi tiếng nơi nghĩa trang mà ông biết là mộ Hoàng Công Lý như sau:

“Ai cũng biết ngôi mộ nằm cạnh đường sắt tàu hơi (tramway, khi ấy chưa chạy bằng điện) gần nhà ông Vandelet, Minh Mạng đã chu đáo cho xây ngôi mộ này để tôn vinh bố vợ là Huỳnh Công Lý; ông này bị chặt đầu theo lệnh của Lê Văn Duyệt.

Trước đây Huỳnh Công Lý làm quan trấn tỉnh Gia Định (tức Sài Gòn). Trong một lần Tổng trấn du hành ra Huế, Lý đã giao du với các bà vợ của Duyệt. Khi từ kinh về và được thông báo về tính nham nhở của quan phụ tá, Tổng trấn liền cho xử trảm mà không đủ lý do chính đáng, cũng không kiêng nể gì Minh Mạng”.

Như vậy, Trương Vĩnh Ký cũng không dựa vào tài liệu lịch sử nào khác để ghi chép về câu chuyện của Hoàng Công Lý mà dựa vào điều mà ông nói là “ai cũng biết” nên có thể tin ghi chép của ông dựa theo giai thoại phổ biến thời đó mà thôi. Bằng tất cả lòng kính trọng, tôi luôn coi Trương Vĩnh Ký là một học giả uyên bác nhưng tôi cho rằng ông không phải là người nghiên cứu sâu về lịch sử hoàng tộc nhà Nguyễn.

Bằng chứng là trong ghi chép về các địa danh ở Gia Định năm 1885, Trương Vĩnh Ký có lý giải việc cầu Hoa bị gọi thành cầu Bông như sau: “Chữ Hoa bị cấm kỵ để kính tên riêng một ông hoàng”. Nhưng trên thực tế Hoa không phải tên một ông hoàng mà là tên mẹ vua Thiệu Trị, bà Hồ Thị Hoa, quê ở Thủ Đức. Nếu Trương Vĩnh Ký thực sự nghiên cứu kỹ sử nhà Nguyễn thì ông sẽ phải nhớ không ông hoàng nhà Nguyễn nào có tên là Hoa. Và nếu Trương Vĩnh Ký nhớ kỹ tên các bà vợ Minh Mạng thì ông phải nhớ bà Hồ Thị Hoa chính là người vợ số 1 của Minh Mạng, là mẹ vua Thiệu Trị và không vội vã ghi chép Hoàng Công Lý là cha vợ của Minh Mạng một cách thiếu kiểm chứng.

Lật lại cả cuốn Sài Gòn năm xưa và cuốn Ký ức lịch sử về Gia Định và các vùng phụ cận thì chúng ta đều thấy cái Phi Lý lớn nhất là ghi việc Lê Văn Duyệt chém Hoàng Công Lý vì chuyện Công Lý làm Lê Văn Duyệt nổi máu ghen (Sài Gòn năm xưa nói Hoàng Công Lý dường như có xúc phạm đến một cô hầu của Tả quân còn Ký ức lịch sử về Gia Định và các vùng phụ cận nói Hoàng Công Lý đã giao du với các bà vợ của Duyệt). Cả hai không hề nhấn việc Lê Văn Duyệt kết tội Hoàng Công Lý tham nhũng nên bị chém đầu.

Như vậy, câu chuyện được Vương Hồng Sển và Trương Vĩnh Ký ghi chép đã biến Hoàng Công Lý như kẻ đam mê nữ sắc, Lê Văn Duyệt là người hay ghen tuông, nhỏ nhen còn Minh Mạng là ông vua thù vặt. Có lẽ nhiều người không thỏa mãn với kiểu giai thoại hài hước này nên xuất hiện biến thể giai thoại theo cách bênh vực Lê Văn Duyệt hay bênh vực Minh Mạng. Điều đáng buồn là các biến thể vẫn coi chi tiết “Hoàng Công Lý là cha vợ của Minh Mạng” là điểm mấu chốt để đẩy cao giá trị câu chuyện bất chấp thực tế Đại Nam thực lục, thế phá nhà Nguyễn không ghi nhận điều này.

Tác giả Anh Tú. Bài từ Báo điện tử Một Thế Giới.

Anh Tú