Triều Nguyễn đã có sách lược gì trong Cuộc Kháng chiến chống Pháp

Các Cuộc Kháng Chiến

Trước những hành động xâm lược rõ rệt của Thực dân Pháp từ năm 1858 cho đến tận năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã có những động thái gì để đối phó. Tại sao dù đã có nhiều cơ hội để đánh bật quân Pháp ra khỏi Việt Nam nhưng cuối cùng triều đình nhà Nguyễn phải đồng ý ký kết những hiệp định thất bại. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu bài viết “Triều Nguyễn đã có sách lược gì trong Cuộc Kháng chiến chống Pháp” của tác giả Linh CK dưới đây nhé!

Bối cảnh lịch sử Việt Nam trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp

Triều Nguyễn đã có sách lược gì trong Cuộc Kháng chiến chống Pháp
Triều Nguyễn đã có sách lược gì trong Cuộc Kháng chiến chống Pháp

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Việt Nam đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh về cương vực Quốc gia, thống nhất thị trường tiền tệ, có thể xây dựng kinh thế xã hội mạnh mẽ, mở rộng quan hệ giao thương quốc tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây. Thế nhưng, nhìn toàn cục bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời Nguyễn đa dạng, phực tạp, đôi khi tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ, bảo thủ, lạc hậu, giữa cái mạnh và cái yếu…

Về Kinh tế: Kinh tế nông nghiệp vẫn được coi là nền tảng. Với sự thắng thế của giai cấp địa chủ, ruộng tư ngày càng lấn ruộng công làng xã, khiến cho số dân mất đất khi lưu tán ngày càng đông. Để khắc phục khó khăn, thực ra nhà Nguyễn có những chính sách tích cực như chính sách khai hoang. Chính sách địa tô của nhà Nguyễn có lợi địa chủ cường hào, ruộng công bị đánh thuế nặng, mất đi ý nghĩa truyền thống của loại ruộng này ở làng xã.

Về công thương nghiệp: tương đối phát triển. Nhà nước cho phép tư nhân đúc vàng bạc nhưng về cơ bản, xu hướng độc quyền công thương nghiệp vẫn do nhà nước chế ngự, đại thương không phát triển được. Trước khi Minh Mạng tuyển bố đóng của từ năm 1820, tại ba của biển Sài Gòn, Hội An, Quảng Yên mỗi năm chỉ khoảng 30 chiếc thuyền mành ra nước ngoài, chủ yếu hướng sang Trung Quốc.

Thế kỷ XIX được coi là thế kỷ bản lề của xã hội Châu Á. Lúc đó, trước áp lực của chủ nghĩa thực dân phương Tây, việc mở của, khai phóng những nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là con đường duy nhất đúng để tăng sức mạnh bảo vệ nền độc lập. Nhà Nguyễn, ngay cả phương diện kinh tế cũng đã không làm được việc đó.

Về chính trị, xã hội: Ngay từ khi thiết lập vương triều, Nguyễn Ánh đã bộc lộ quyết tâm xây dựng một Nhà nước phong kiến tập quyền, chuyên chế mạnh, theo mô hình chính trị của nhà Thanh.

Trong sự thắng thế của nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn đã ngầm chứa những mầm mống suy sụp của vương triều. Việc trả thù thái quá với nhà Tây Sơn đến việc giết hại công thần, chia rẻ vương triều làm tình hình đất nước rối ren hơn.

Tuy nhiên, triều Nguyễn khá mạnh so với các Quốc gia phong kiến khác ở khu vực Đông Nam Á nên trong chính sách đối ngoại, bên cạnh xin phương Bắc phong vương, chịu cống nộp, nhà Nguyễn không ngại đối đầu với Xiêm, buộc Lào thuần phục… Nhà Nguyễn đánh mất chính sách ngoại giao nhu viễn, khôn khéo của các triều đại trước với các nước lân bang.

Những xung đột xã hội đan cài nhau và ngày càng căng thẳng dẫn tới hiện tượng nổi bật ngay đầu triều Nguyễn là phong trào nông dân khởi nghĩa tiêu bieieur là khởi nghĩa Phan Bá Vành.

Về Quân sự: coi trọng việc binh bị. Nét mới trong nghệ thuật quân sự thời Nguyễn đã bắt đầu ảnh hưởng của tư tưởng quân sự phương Tây. Quân đội đông nhưng kém tập luyện, vũ khí thiếu và lạc hậu

Về văn hoá, tư tưởng: có nhiều thành tự độc đáo, phát huy truyền thống văn hiến Việt Nam.

Do sự xâm nhập mạnh của Thiên chúa giáo từ thế kỷ XVI, truyền thống “Tam giáo đồng quy” bị đe doạ nghiêm trọng. Trong thời Nguyễn, đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp nổ ra, có ba vấn đề tư tưởng chi phối từ cung đình xuống dân chúng. Đó là Nho giáo hay Thiên chúa giáo, đánh Pháp hay đầu hàng và ủng hộ cải cách hay không?.. Liên tiếp từ năm 1864 đến 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định dâng sớ xin cải cách toàn diện đất nước. Tuy nhiên mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình canh tân. Có thể nói rằng, trong bối cảnh lúc bấy giờ, ý thức hệ phong kiến mà nền tảng là “Nho giáo” đang chiếm vị thế độc tôn trong xã hội. Nhiều sĩ phu yêu nước quay lưng với xu hướng cải cách, ủng hộ việc cấm đạo của triều đình- một chính sách tuy có hạt nhân hợp lý và ý nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia nhưng lợi bất cập hại trong thực tiễn.

Trong triều đình Huế bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước ta dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa, nội bộ dân tộc bị chia rẽ khiến đất nước rời vào cảnh họa xâm lăng trở thành thuộc địa của thực dân Pháp

Như vậy, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam dù có những mặt phát triển những vấn khoong giải quyết được khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt khi làn sóng thực dân phương Tây ngày càng đến gần

Âm mưu xâm lược của thực dân Pháp

Triều nhà Nguyễn nói chung và triều đại của vua Tự Đức nói riêng đã đánh dấu sự biến đổi lớn đối với vận mệnh dân tộc.

Xét trên phương diện quốc tế, lúc bấy giờ chủ nghĩa tư bản đang trên đà xác lập trên phạm vi toàn thế giới. Các nước đế quốc tăng cường xăm lược, mở rộng lãnh thổ, thị trường, khai thác, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa. Các nước phương Đông trong đó có Việt Nam trở thành miếng mồi béo bở cho các nước Phương Tây xâm chiếm. Do vậy, dù triều Nguyễn có muốn hay không thì việc bị xâm lực là một xu thế tất yếu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng, trong thời gian trị vì của mình, Nhà Nguyễn đã thi hành những chính sách cai trị làm tổn hại đến lợi ích và vận mệnh của dân tộc như: “bế quan tỏa cảng”; hà khắc với Thiên Chúa giáo (cấm đạo và giết đạo); thực hiện nhỏ giọt hay phất lờ các bản điều trần cải cách của những các bậc sĩ phu yêu nước; đàn áp dã man các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, làm cho nguồn nhân lực, vật lực của đất nước ngày càng cạn kiệt, mâu thuẩn dân tộc ngày càng trở nên sâu sắc. Từ đó, tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Mặc dù vua Tự Đức đã cố gắng tìm đủ mọi cách để bảo về đất nước và cũng như bảo vệ vương triều của mình nhưng do năng lực và nhãn quan chính trị còn hạn chế nên chưa đưa ra được chính sách đúng đắng để giành thắng lợi trước một nước Pháp lớn mạnh.

Đường lối đối nội của triều Nguyễn giai đoạn 1858-1862:

Khi thực dân Pháp lần đầu tiên nổ súng xâm lược Việt Nam thì nội bộ triều đình nhà Nguyễn thể hiện sự quyết tâm cùng nhau chống Pháp nhưng về sau với chính sách nghị hòa của thực dân Pháp thì nội bộ triều đình lại chia thành hai phe chủ chiến và chủ hòa với những tư tưởng đối lập nhau.

Thực dân Pháp nổ súng bắt đầu cuộc xâm lược nước ta ngày 1/9/1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha bắt đầu nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở màn cuộc xâm lược Việt Nam. Vua Tự Đức đã cử quân tướng tích cực phòng thủ và đánh trả quân xâm lược ở mặt trận Đà Nẵng.

Ngày 2/9/1858, Pháp chiếm được Điện Hải rồi chiếm Sơn Trà tiến vào cửa sông Đà Nẵng. Vua Tự Đức đã sai quân Đô đốc Lê Đình Lý, Phạm Khắc Thận đem quân tiếp viện ở mặt trận.

Chiến sự ở mặt trận Đà Nẵng ngày càng căng thẳng, trước tình hình đó vua Tự Đức đã cử Nguyễn Tri Phương đến Đà Nẵng để chỉ huy cuộc kháng chiến. Nguyễn Tri Phương cho xây dựng thành hào, không cho địch tấn công sâu vào nội địa, với sự áp dụng của chiến thuật lối đánh du kích làm tiêu hao sinh lực địch.

Qua đó cho thấy trong thời kì đầu chống thực dân Pháp, nội bộ triều đình nhà Nguyễn đã tỏ rõ quyết tâm phối hợp cùng nhân dân đánh giặc. Trước sự tấn công, bao vây, cô lập của quân dân ta, thực dân Pháp đã bị tổn thất nặng nề. Nên sau năm tháng tấn công Đà Nẵng, thực dân Pháp cũng không thực hiện được mục đích buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, kết thúc chiến tranh nhanh chóng, phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Trước tình hình đó, thực dân Pháp phải rút đại bộ phận quân khỏi Đà Nẵng.

Triều Nguyễn đã có sách lược gì trong Cuộc Kháng chiến chống Pháp
Thành Điện Hải (Đà Nẵng) sau những trận đại bác tấn công

Tháng 2/1859 thực dân Pháp chuyển hướng đánh sang Gia Định. Tại mặt trận Gia Định, nhận tin Gia Định bị chiếm 17/2/1859, triều đình Huế đã cử Thượng thư bộ hộ Tôn Thất Cáp và Bố chính nam ngai Phan Tĩnh điều quân các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa… cùng với đạo quân ứng nghĩa được thành lập để chống Pháp và kêu gọi nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”, không hợp tác với địch. Triều đình thực hiện chính sách “thủ” để “công” từ 9/1858 đến 2/1859.

Picture3
Pháp tấn công thành Gia Định (1859)

Sau khi không đạt được mục tiêu đề ra ở mặt trận Đà Nẵng, thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, vướng vào cuộc chiến tranh Áo trên đất nước Ý, nên phải dồn lực lượng vào chiến trường Châu Âu, không thể tiếp viện cho quân đội ở Việt Nam. Trong lúc này mâu thuẩn Anh- Pháp gay gắt, chiến trong có thể bùng nổ. Trước tình khó khăn như vậy, chính phủ Pháp phải ra lệnh cho Giơnuilly nghị hòa với triều đình nhà Nguyễn. Ngày 20/6/1859 Giơnuilly chính thức đề nghị đình chiến với triều đình nhà Nguyễn. Ngay lập tức, nội bộ triều đình nhà Nguyễn đã có sự phân hóa không thống nhất về đường lối chính sách, chủ trương. Người bàn chiến, kẻ bàn hòa lại có kẻ không hòa không chiến. Sự phân hóa chủ yếu ở các luồng tư tưởng sau:

Tiêu biểu cho phe chủ chiến có 2 đại diện chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.

Tiêu biểu cho phe chủ hoà có Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng, Võ Xuân Hãn… chủ trương cho rằng: “Chiến không bằng hoà, nhưng phải cố thủ rồi sau mới bàn. Kẻ địch vốn cậy quyền bền súng mạnh làm sở trường, họ ở ngoài sóng gió mặt bể, thế ta khó thắng với họ. Thượng kế bây giờ nên lấy giữ (thủ) làm chính, giữ vững rồi sau mới có thể nói đánh, cũng có thể nói đến hoà. Bằng không trước lo việc giữ thì đánh cũng không được mà hoà cũng không xong”.

Đây là tư tưởng được Tự Đức cho là hợp lẽ phải. Sở dĩ phe chủ hoà chủ trương như vậy là bởi họ lý giải là nên nuôi sức chọn thời châm chước đối phó. Mặt khác Tự Đức và những người trong phe chủ hoà cho rằng mục đích tấn công vào thực dân Pháp chỉ là truyền đạo và buôn bán, chứ không làm gì tổn hại đến ta. Cái nhìn đó của vua quan nhà Nguyễn là thiển cận, bó hẹp trong phạm vi một quốc gia đang cố duy trì nền tảng của chế độ phong kiến, không mở rộng ra thế giới nên thiếu hiểu biết về bản chất của đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng.Cái chủ trương thủ để hòa hay là “ trì cửu để đợi cho họ mỏi” của triều đình thật là tai hại; địch không bị tấn công mạnh, không mất sinh lực nhiều, không ê răng gẫy vuốt gay từ lúc đầu, thái độ của triều đình có thể làm cho quân dân nản chí vì mất lòng tin. Hơn nữa, không ít người trong số vua quan nhà Nguyễn vốn sớm mang tư tưởng hoang mang lo sợ giặc khi chúng ngấp nghé ngoài cửa ngõ nên dao động sinh ra chủ hoà nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỉ của giai cấp mình. Lập trường của phe này tỏ ra phản động và không hợp lòng dân.

Còn có kẻ lại chủ trương chủ hòa trắng trợn, hèn nhát, sợ giặc, gồm có Lê Chí Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Giao, Nguyễn Hào. Đại lược họ nói: “ Đạo dùng binh lấy thư nhàn đợi kẻ nhọc… Công thủ là việc khó; hòa tuy là hạ sách, nhưng ngày nay chính là lúc nên để cho dân nghĩ ngơi, bằng ngược lại thì sợ rằng có cái lo ngoài ý nghĩ. Nay kẻ kia cầu hòa, quyền nghi cũng có thể cứu lại”.

Các quan Tô Trân, Phan Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiểu Hữu, Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sỹ Thuần cho rằng:“Quảng Nam, Gia Định địa thế, địch tính đại đồng mà tiểu dị, địch ở ngoài xa khơi thì khó đánh, địch vào nội địa càng dễ đánh, dễ bị tiêu diệt. Phải giữ và đánh, thủ để công, công để thủ, quét sạch địch, bằng nay hoà với họ thì sẽ bắt ta bỏ tấn và thông thương, xây nhà thờ, mở phố xá, rồi trăm sự xảo quyệt đều do một chữ hoà mà ra cả”. Các quan Trần Văn Trung, Lâm duy Hiệp cho rằng: “Pháp ở xa đến chỉ cần mấy khoảng như họ đưa, chứ không có ý thôn tính nước ta”. Họ chủ trương “chỉ có phòng giữ là đắc sách, nay muốn quyết chiến với họ chưa thấy cái cứ

Ý kiến được nhiều người tán thành là hòa hảo thương thuyết. Chủ hòa khẳng định ngay từ đầu đại bộ phận thuộc hàng ngũ triều đình đã mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, tư tưởng sợ giặc, tư tưởng đớn hèn, làm cho quan quân triều đình nhà Nguyễn bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh thắng quân thù. Ở mặt trận Gia Định, trong trận Kỳ Hòa ta chủ trương chiến, nhưng đã thất bại làm cho triều đình hoang mang lo sợ, trong khi đó nội bộ triều đình ngày càng phân hóa mạnh mẽ. Phe chủ hòa đã lấn áp phe chủ chiến. Quan điểm của triều đình Huế ở mặt trận Gia Định và Kỳ Hòa là quan điểm “thủ” để giữ lại thành. Khi Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Định Tường (12/4/1861), Biên Hòa (18/12/1861), Vĩnh Long (23/3/1862), Gia Định (17/2/1859), xu hướng hòa nghị thắng thế và đi đến hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 đánh dấu sự thất bại của hai phe chủ chiến và chủ hòa, qua đó hai phe chủ chiến và chủ hòa điều có mặt tích cực và tiêu cực.

Phe chủ chiến:

Tích Cực: Phái chủ chiến phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Với ý nghĩ của quần chúng rất đơn giản, đúng đắn, giặc đến cướp nước thì phải đánh giặc giữ nước, chúng chưa tới thì đánh, chúng chưa đến thì phải chủ động tìm chúng mà đánh, bên cạnh quân đội chính quy còn có đông đảo quần chúng nhân dân. Chủ trương của phái chủ chiến phù hợp với truyền thống dân tộc và yêu cầu của lịch sử.

Tiêu cực: Không hiểu đúng đắn lực lượng của thực dân Pháp. Khi Pháp gặp nhiều khó khăn về quân số và tàu chiến thiếu hụt, vướng vào cuộc chiến tranh ở Ý mà triều đình vẫn án binh bất động, chỉ chủ trương bao vây địch ở mé ngoài không hề chủ động tấn công. Pháp đánh Đà Nẵng mà triều đình chỉ cho 3000 quân chính quy thể hiện sự không quyết tâm đánh giặc, tiêu diệt địch Khi không thành công ở Đà Nẵng, Pháp táo bạo tấn công Gia Định thì quan lại triều đình không có hành động cứng rắn kịp thời để bóp chết ngay từ đầu ý chí xâm lăng của địch. Mặc dù thành Gia Định lúc đó có 1000 quân, đủ khí giới và lương thực cho 1 vạn quân đóng giữ trong một năm, nhưng quân triều đình chỉ chống đỡ vài trận rồi bỏ thành chạy dài, sau đó sợ triều đình trừng phạt, Vũ Duy Ninh thắt cổ chết để trốn tránh trách nhiệm, mở đầu cho một chuỗi tự sát của bầy tôi bất lực, của một triều đình suy tàn.

Phe chủ hòa:

Tích Cực: Theo hướng hòa nghị là “quyền nghi”, là tạm thời. Muốn hòa hoản để củng cố, phát triển đất nước, để duy tân, cải cách. Từ đó Pháp muốn xâm lược cũng khó khăn, sau đó lợi dụng thời cơ để lấy lại đất nước. Một số người theo xu hướng chủ hòa theo hướng cách tân, sách lược cũng không đạt được kết quả vì triều đình không chấp nhận cải cách, duy tân.

Tiêu Cực: Có một bộ phận hèn nhác, chỉ thấy sức mạnh của Pháp nên khi Pháp tấn công thì bỏ chạy. Phái chủ hòa với tư tưởng đã có sẵn không tin vào sức mạnh của nhân dân, mà luôn đối phó với các phong trào đấu tranh của nhân dân, làm cho thực dân Pháp có điều kiện để tấn công. Chủ hòa theo hướng hòa nghị là quốc sách, lau dài, dựa vào Pháp để cầu sống sót, xin chuộc lại đất và dần dần đổi mới.

Đường lối đối nội của triều Nguyễn giai đoạn 1862-1884:

Sau Hiệp ước 1862, triều đình hạ lệnh cho Trương Định phải bãi binh, mặt khác điều ông đi nhận chức Lãnh Binh ở An Giang, rồi Phú Yên. Nhưng được sự ủng hộ của nhân dân, ông đã chống lệnh triều đình, quyết tâm ở lại kháng chiến. Phất lá cờ “Bình Tây Đại nguyên soái ”, hoạt động của nghĩa quân đã củng cố niềm tin của dân chúng, khiến bọn cướp nước và bán nước phải run sợ.

Thực dân pháp chiếm Nam Kì.

Pháp chiếm Định Tường(12/4/1861), Biên Hòa(18/12/1861) sau đó lại xuống sông Đồng Nai đánh chiếm Bà Rịa(7/11/1862), Vĩnh Long(23/3/1862).

Trước sự tấn công của Pháp, triều đình với chủ trương thủ để giữ, quân

triều đình do Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Bá Nghi cầm đầu có hơn 2000 quân đóng tại Bình Thuận không đánh phá gì giặc cả, dần dần địatrong triều đình xu hướng hòa nghị thắng thế.

Trong khi đó nhân dân và nghĩa sĩ nổi lên đánh giặc quyết liệt hoàn toàn đi ngược lại với sách lược mà triều đình nhà Nguyễn đề ra. Từ khi Vĩnh Long thất thủ nhân dân và nghĩa dũng hoạt động mạnh và vẫn giữ được các địa điểm quan trọng: Mĩ Quý, Cai Lậy, đánh vào Chợ Lớn, đầu độc quân Pháp ở Sài Gòn, chiếm lại Phước Lộc, Vĩnh Phước, Bến Lức ở Gia Định.

Về phía phe chủ chiến vẫn một mặt tích cực đấu tranh trong triều đình. Mặt khác ra sức ủng hộ và hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh của nhân dân. Còn Tự Đức vốn mang nặng tư tưởng chủ hoà nên đã làm ngơ trước mọi cơ hội kháng chiến của nhân dân ta.

Lúc này sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kì, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc tổ chức bộ máy cai trị và chuẩn bị mở rộng phạm vi chiếm đóng. Năm 1867, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì, triều đình không có hành động chống cự, ngược lại đã giao nộp thành nhanh chóng.

Sau khi để mất ba tỉnh miền Tây, phong trào kháng chiến trong nhân dân nổ ra mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do Trương Quyền, Phan Tam, Phan Ngũ, Nguyễn Trung Trực…lãnh đạo. Các phong trào này kết thành cao trào chống Pháp, nhưng tất cả các cuộc kháng chiến đều bị thất bại do chính sách đàn áp đẫm máu của triều đình Huế. Điều này chứng tỏ lúc này triều đình hoàn toàn đối lập với nhân dân không đoàn kết thống nhất cùng nhân dân chống giặc ngoại xâm.

Kháng chiến chống Pháp của nhân dân ( 1873 – 1884) :

Ngày 20/11/1873, Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu và hy sinh anh dũng. Hà Nội bị Pháp chiếm. Mặc dù thành Hà Nội bị giặc chiếm, quan quân triều đình tan rã nhanh chóng, nhân dân Hà Nội vẫn tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu. Tiêu biểu là cuộc phối hợp chiến đấu của quân triều đình do Hoàng Tá Viêm lãnh đạo với quân Cờ đen thiện chiến của Lưu Phúc Vĩnh đã làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất. Ngày 21/12/1873 quân của Lưu Vĩnh Phúc cho bao vây thành Hà Nội và khiêu khích quân địch, quân địch chủ quan đuổi theo đến Cầu Giấy thì bị phục binh đổ ra giết. Kết quả là Gácniê tử trận, thành Hà Nội được trả lại triều đình Huế.

Trong khi chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất đang làm nức lòng nhân dân ta thì triều đình Huế lại bỏ lỡ cơ hội đánh Pháp, không dám hiệu triệu quan quân thừa thắng xông lên. Thì Triều đình, đứng đầu là Tự Đức ra lệnh cho Hoàng Tá Viêm lui binh về Sơn Tây vì sợ quân Pháp trả thù. Kết quả là một điều ước được ký ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn với những điều khoản rất có hại cho ta. Triều đình Huế chính thức thừa nhận chính quyền của Pháp ở cả 6 tỉnh Nam Kỳ, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộc Pháp. Phần đất còn lại bị Pháp chi phối cả nội trị và ngoại giao.Về phía phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của Tôn Thất Thuyết đang bí mật bố trí trận địa kinh thành Huế để chuẩn bị ngày đối phó với giặc Pháp.

Không thực hiện được đầy đủ âm mưu xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị tiến công ra Hà Nội lần thứ hai vào năm 1882. Lấy cớ triều đình Pháp vi phạm hiệp ước 1874, chính phủ Pháp tăng cường quân đội cho Bắc kỳ. Chủ chương của thực dân Pháp lúc này là sự suy yếu của triều đình Huế để dùng lực lượng quân sự làm áp lực buộc phải công nhận nền bảo hộ Pháp trong cả nước. Chủ trương của triều đình Huế lần này cũng không khác gì lần trước. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu một mặt tích cực tổ chức phòng thủ, mặt khác cấp báo về Huế, xin tăng viện. Kết quả là triều đình không tán thành, cho phòng thủ như vậy là không phải lúc, địch sẽ lấy cớ gây sự thêm.

Trong khi phe chủ hoà sớm kí hoà ước bắt tay với Pháp thì phe chủ chiến vẫn ra sức hoạt động, chuẩn bị lực lượng để chờ ngày sống mái với kẻ thù. Dựa vào quyền lực của mình, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết kiên quyết phế bỏ và trừ khử những ông vua và những thế lực thân Pháp. Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi Tự Đức mất, liên tiếp có 3 ông vua bị phế, lập, đó là các vua Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc. Những ông vua này đều sớm có tư tưởng thân Pháp làm cản trở phe chủ chiến và phong trào đấu tranh của nhân dân. Đồng thời đệ nhất phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, người đúng đầu phe chủ hoà cũng bị giết.

Lợi dụng sự sơ hở của hiệp ước Harmand (25/8/1883) không có khoản nào nói tới vấn đề quân sự của triều đình, Tôn Thất Thuyết đã cho tuyển mộ binh lính, thành lập và củng cố các sơn phòng. Tại kinh đô, Tôn Thất Thuyết cho tổ chức và đổi mới việc huấn luyện hai đội quân Phấn Nghĩa và Đoàn Kết. Đội quân này do Đề đốc kinh thành Trần Xuân Soạn chỉ huy.

Ngày 22 tháng 7 năm 1883 vua Dục Đức bị phế, ngày 29 tháng 11 năm 1883 Hồng Dật bị phế, ngày 31 tháng 7 năm 1884, Kiến Phúc bị phế, Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu là Hàm Nghi mà không thông qua người Pháp. Dân gian gọi là sự kiện trên là “Tứ nguyệt tam vương” . Như vậy chỉ trong vòng 4 tháng nước ta đã có 3 ông vua bị phế, chứng tỏ tình hình chính trị nước ta khá căng thẳng, điều đó đã làm cho tư tưởng của một số quan lại lay động. Bên cạnh những người vì quyền lợi của bản thân, quyền lợi giai cấp mà đi ngược lại truyền thống của dân tộc, đi ngược lại với quản đại quần chúng nhân dân mà có xu hướng thân Pháp, thậm chí còn cầu viện Pháp (Hiệp Hòa) thì cũng có một số người đã đứng lại trước quyền lợi của nhân dân, tin tưởng vào sự ủng hộ của nhân dân, đại diện như Tôn Thất Thuyết. Rõ ràng lúc này phe chủ chiến đã thắng thế. Tôn Thất thuyết không chỉ cương quyết phế truất các ông vua mới lên ngôi đã có tu tưởng thân Pháp như Dục Đức, Hiệp Hòa. Như vậy, những hành động của phe chủ chiến lúc này mà Tôn Thất Thuyết là người đại diện có thể khiến cho người khác nghĩ là chuyên quyền. Tuy nhiên nếu nhìn đa diện thì hành động cương quyết của Tôn Thất Thuyết là đáng nghi nhận, rất hợp lòng dân. Có thể nói đây là sự lên ngôi của phe chủ chiến, chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh chống Pháp bằng bạo lực nổ ra.

Đường lối đối ngoại của triều Nguyễn (1858-1884)

Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862)

Triều đình nhà Nguyễn thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn; mở ba cửa biển (Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên) cho Pháp vào buôn bán; cho phép người Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia Tô, bãi bỏ lệnh cấm đạo trước đây; bồi thường cho Pháp một khoản chiến phí tương đương 288 vạn lạng bạc. Pháp sẽ trả lại thành Vĩnh Long cho triều đình chừng nào triều đình buộc được dân chúng ngừng kháng chiến.

Triều đình đã chính thức đầu hàng, bức bột trước sự xâm lược của Pháp. Với việc làm đó, triều đình đã từ bỏ một phần trách nhiệm tổ chức và lãnh đạo kháng chiến chống Pháp, đồng thời cũng thể hiện ý thức vì lợi ích riêng của triều đình phong kiến nên đã phản bội một phần lợi ích dân tộc.

Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874)

Triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất Việt Nam kể từ địa giới phía nam tỉnh Bình Thuận trở vào Nam (điều 5).

Nước Pháp thừa nhận chủ quyền của vua nước Nam trên phần đất Việt Nam kể từ địa giới phía Nam tỉnh Bình Thuận ra Bắc, thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Nam-nghĩa là nước Nam không còn lệ thuộc vào bất cứ cường quốc nào (điều 2).

Vua nước Nam phải thi hành chính sách đối ngoại của mình cho phù với chính sách đối ngoại của nước Pháp, về mặc chính trị, không được thay đổi những mối quan hệ ngoại giao hiện nay với Pháp, không được tự ý ký hiệp ước thương mại với bất cứ một nước nào khác mà không báo cho chính phủ Pháp biết (điều 3).

Xóa bỏ Hiệp ước đã ký ngày 5-6-1862.

Triều đình sớm tỏ ra hoang mang, giao động vô căn cứ nên lo sợ, dẫn đến những việc làm ngu ngốc và tội lỗi. Với nội dung kí kết đó, triều đình đã tiếp tục phản bội lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân, tạo đà cho quân Pháp có cơ hội lấn tới trên con đường xâm lược nước ta. Qua Hiệp ước này cho thấy, triều đình Huế thực sự thừa nhận sự cai trị của Pháp ở xứ Nam Kỳ. Hiệp ước Giáp Tuất đã gây nên sự phản ứng dữ dội trong dân chúng cũng như các quan chức yêu nước. Từ đây, phong trào nhân dân đã có thực tiễn để đi tới một nhận thức mới mẻ là: Chống Pháp phải đi đôi với việc chống triều đình đầu hàng.

Hiệp ước Quý Mùi (Hắc-Măng) (1883)

Triều đình Huế Chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì, cắt tỉnh Bình Thuận ra khỏi Trung Kì để nhập vào đất Nam Kì thuộc Pháp. Ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh được sáp nhập vào Bắc Kì. Triều đình chỉ được cai quản vùng đất Trung Kì, nhưng mọi việc đều phải thông qua viên khâm sứ Pháp ở Huế. Công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kì thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lại triều đình, nắm cá quyền trị an và nội vụ. Mọi việc giao thiệp với nước ngoài (kể cả với Trung Quốc) đều do Pháp nắm. Triều đình Huế phải rút quân đội ở Bắc Kì về Trung Kì.

Tuy nội dung hiệp ước chỉ nói đến mức độ bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và trung Kì nhưng thực chất quyền đối nội, đối ngoại của triều đình đã phụ thuộc vào Pháp và do Pháp quyết định. Vì vậy, thực chất hiệp ước 1883 đã chính thức chấm dứt sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập. Tuy vẫn còn tồn tại trên hình thức nhưng triều đình phong kiến chỉ còn là tay sai cho Pháp. Với hiệp ước 1883, triều đình phong kiến nhà Nguyễn không những tự mình làm mất đi sự độc lập của một chính quyền nhà nước phong kiến mà qua đó còn thể hiện sự phản bội trắng trợn của triều đình phong kiến và bè lũ vua tôi nhà Nguyễn với lợi ích của dân tộc.

Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884)

Việc kí kết hiệp ước đó không làm thay đổi căn bản tình hình nước ta, kẻ thù vẫn nham hiểm và đô hộ nước ta, triều đình vẫn đầu hàng, can tâm làm tay sai cho giặc. Hiệp ước này mang ý nghĩa một bản khai tử đối với chủ quyền đối ngoại của vua nước Nam.

Từ các bản hiệp ước nói trên ta đã có đủ bằng chứng kết luận từ năm 1858 – 1884, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng từng bước tiến tới đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược Pháp

Ảnh hưởng sách lược của triều Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858 – 1884)

Sau sự kiện Pháp đổ bộ bán đảo Sơn Trà, triều đình nhà Nguyễn ngay lập tức nắm bắt tình hình và đưa ra được những chiến lược sáng suốt nhằm giữ chân và đánh trả giặc trên mặt trận Đà Nẵng cũng như Gia Định, xoay chuyển cục diện tích cực cho phe ta trên chiến trường.

Đầu tiên là sự kiện vua Tự Đức xuống chiếu cho bắt giam và cách chức các tướng vô dụng như Tổng đốc Trần Hoàng, Hồ Đức Tú, Chu Đức Minh…; đồng thời lập chức cho người tài lên cầm quân đánh giặc: lập danh tướng Nguyễn Tri Phương làm Tổng đốc Quảng Nam cùng Chu Phúc Minh ra Đà Nẵng chặn giặc.

Nguyễn Tri Phương dùng chiến thuật xây dựng tuyến phòng thủ dài hơn 4km từ Hải Châu (chân đèo Hải Vân) tới Thạch Giản để vây chặt quân Pháp tại chỗ, không cho chúng đánh rộng ra. Chiến thuật tuy không độc đáo nhưng đã giam chân được giặc trong 5 tháng liền, bị tiêu hao, bị dịch bệnh hoành hành làm 200 tên chết trong 1 tháng, đồng thời bị mất khả năng tiếp ứng từ đất liền.

Sau khi giặc chiếm được thành Gia Định, vua Tự Đức một mặt cho lập các đội nghĩa dũng tại chỗ, một mặt cử tướng Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Cáp vào Gia Định làm Thống chế mặt trận Gia Định.

 Các đội nghĩa dũng, nổi bật là của Trần Thiện Chính (một tri huyện bị cách chức), của Lê Huy (một võ quan bị thải hồi)… với gần 6000 nghĩa binh, đều chiến đấu có hiệu quả, góp phần làm tiêu hao và quấy rối quân Pháp trong thành Gia Định.

Sau trận đánh ngày 8-5-1859, Tự Đức cũng quyết định cho tăng cường hệ thống đồn lũy từ chân Đèo Hải Vân tới Đà Nẵng; tăng viện thêm, 31 khẩu đại bác, súng phun lửa và đại bác mới, loại có khương tuyến mới mua được…

 Kế hoạch tăng cường binh lực và vũ khí, phối hợp cùng sự quyết tâm của các đội dân binh, quân Pháp bị đưa vào tình thế cực kỳ lúng túng, sa lầy ngay tại Đà Nẵng.

Từ 1858 – 1884, nhà Nguyễn với tư cách là nhà lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến đã không biết dựa vào sức dân, ngày một áp dụng hàng loạt chiến thuật tác chiến sai lầm, bị động, và mang nặng tư tưởng cầu hoà, bỏ lỡ rất nhiều cơ hội. Xuất phát từ những toan tính hẹp hòi muốn bảo toàn truyền thống trị của giai cấp mình, triều đình Tự Đức đã quay lưng lại với cuộc kháng chiến của nhân dân từ chống cự yếu ớt đến đầu hàng, lần lượt kí các hiệp ước thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên toàn đất nước Việt Nam.

Trở lại thời điểm ngay sau tháng 2-1859, sau khi giặc đánh chiếm thành Gia Định, lúc này Pháp đã nắm trong tay một thành lớn và thu về 200 khẩu pháo, cùng 2 vạn vũ khí các loại. Tuy nhiên, lực lượng của Genouilly thời điểm này cũng đang rất có hạn và không đánh rộng ra được nên buộc phải dừng các cuộc tấn công và lui về thế cầm cự. Thay vì sử dụng cơ hội này để dồn lực tấn công và dứt điểm chiến tranh tại Gia Định, Tự Đức – lúc này đang dần thấm nhuần tư tưởng “chủ hòa”, sợ giặc, chỉ cho tướng Nguyễn Tri Phương vào xây phòng tuyến Chí Hòa nhằm ngăn chặn giặc.

Trong lúc phong trào kháng chiến của nhân dân dâng cao, triều đình quyết định kí kết với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất 5/8/1862, cắt hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kì dâng giặc, nhượng bộ vô số quyền lợi đồng thời bước đầu thể hiện sự đầu hàng trước Pháp.

Các quan lại triều đình bị chia làm 2 phe phái: chủ chiến và chủ hòa, một mặt phe chủ hòa nhu nhược, bị động, nuôi ảo tưởng sẽ mang lại hòa bình bằng việc liên tiếp nhượng bộ giặc; triều đình bị phân tán nên dễ dàng bị giặc đe dọa tâm lý. Khi chiếm Vĩnh Long, De Lagrandière đã buộc các đại thần triều đình là Phan Thanh Giản và Trương Văn Uyển viết thư cho các quan chức trấn nhậm Châu Đốc, Hà Tiên để báo tin thành Vĩnh Long đã mất và yêu cầu họ phải trao thành cho người Pháp vào 5 giờ sang ngày 21-6-1867. Phan Thanh Giản sau sự biến cũng gom sạch tiền, thóc của 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên trao lại cho nguời Pháp rồi tuyệt thực và uống thuốc độc tự tử.

Quân Pháp chiếm được các thành còn lại một cách dễ dàng mà không hề tốn một viên đạn nào. Hơn thế nữa, họ còn gây được áp lực tâm lý giữa các đại thần triều đình với nhau.

Triều đình tiếp tục thỏa hiệp với giặc qua việc kí bản dự thảo hiệp ước 14 khoản ngày 15-10-1867 của De Lagrandière, được đánh giá là chứa những điều khoản tai hại nặng nề cho vận mệnh đất nước như việc nhượng 6 tỉnh cho Pháp cùng chủ quyền các đảo Côn Đôn và Phú Quốc…

Dù bản dự thảo trên vẫn chưa chính thức vì thiếu sự ủy quyền của chính phủ Pháp, nhưng chính sự thiếu rõ ràng về tính pháp lý và ngoại giao của văn bản đã cho Pháp lợi dụng sơ hở mà mở đường đánh chiếm Bắc Kỳ những năm về sau.

Từ 1867 đến 1873, nhà Nguyễn dần để lộ sự hàng phục trước quân thù khi chính sách Duy thủ cũng đã biến dạng. Vua Tự Đức vẫn duy trì “bế quan tỏa cảng”, tuy nhiên cũng cởi mở nhỏ giọt để tăng cường nội lực: cho người sang học tiếng Pháp, vào Nam Kỳ học tiếng Pháp với Trương Vĩnh Ký…

Triều đình không hề lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp – Thanh về vấn đề Bắc Kỳ, trong khi đó cũng là thời điểm 2 nước này xảy ra chiến tranh, mà chỉ loay hoay xin sửa lại Hiệp ước 1862, mong muốn cử người sang Pháp thương lượng dù kẻ thù chỉ ráo riết chuẩn bị chiến tranh.

Chính sách đóng cửa gây tranh cãi cho dân chúng, đặc biệt là những sĩ phu yêu nước có học vấn cao. Bởi lẽ đóng cửa không giao du đồng nghĩa với việc cố thủ với sự lạc hậu, cổ hủ, và quay lưng lại với mọi tiến bộ khoa học – kỹ thuật của phương Tây. Chưa kể thương nghiệp cũng trở nên trì trệ và gây khó khăn cho việc giao lưu, phát triển văn hóa.

Khi nghe đến đề nghị về cải cách Duy tân với 60 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, vua Tự Đức dù đồng tình với những ý kiến trên, nhưng do tâm lý trì hoãn, chần chừ ngại thay đổi, một mặt e sợ trước cường địch nên cũng không quyết tâm cải cách mà bình chân như vại.

Về sau, triều đình thực sự thừa nhận sự cai trị của Pháp ở xứ Nam Kỳ khi chấp nhận ký tại Gia Định bản Hiệp ước Giáp Tuất gồm 22 điều khoản: mở các cửa biển, cửa song cho người Pháp thông thương; tăng thêm các loại quyền hạn cho giáo hội Công giáo; cột chặt ngoại giao Việt Nam với Pháp…

Điều này đồng nghĩa với việc triều đình đã chấp nhận cấu kết với Pháp để chống lại dân khởi nghĩa, mà điều 2 gọi là “đánh giặc cướp”.

Sau khi vua Tự Đức qua đời, ngày 22-8-1883, vua Hiệp Hòa chấp nhận đầu hàng do triều đình quá rối loạn, không thể chống cự trước sự tấn công của quân Pháp. Ngày 25-8-1883, Hiệp ước Harmand được ký kết, khẳng định Việt Nam chính thức là một thuộc địa của Pháp.

Ngày 6-6-1884, triều đình tiếp tục bị Patenotre buộc kí thêm văn bản Patenotre với thêm 19 điều khoản, xóa hẳn những biểu hiện quyền lực còn lại của chế độ phong kiến Việt Nam, đánh dấu sự sụp đổ của một vương triều độc lập.

Sự nhân nhượng liên tiếp của triều đình trước những yêu sách của giặc không những không mang lại hòa bình, đánh thức lương tâm từ phía thực dân, mà cuối cùng đã dẫn đến kết cục mất nước. 

Nói tóm lại, những đóng góp tích cực của triều đình nhà Nguyễn trong công cuộc dựng và giữ nước là không thể phủ nhận, điển hình như cuộc cải cách hành chính Minh Mạng, những chính sách khai hoang phong phú, sáng tạo đã góp phần không nhỏ cho tăng trưởng nông nghiệp, cũng như trị an đất nước, đặc biệt là dưới vương triều Nguyễn đã dựng lên Kinh thành Huế, kinh đô quan trọng nhất của nước ta thời bấy giờ… Nhưng khi bình xét riêng trong một thời kỳ đầy biến động như kháng chiến chống Pháp xâm lược thì những cố gắng tích cực đó vẫn khó có thể bù đắp cho hàng loạt bước đi sai lầm của nhà lãnh đạo này, mà hậu quả là đánh mất độc lập dân tộc, vận mệnh đất nước bị rơi vào tay giặc. Có thể nói, triều đình Nguyễn đã thất bại không chỉ trong việc lãnh đạo dân tộc giành lại chủ quyền, mà còn đánh mất luôn lợi ích bản thân ngay từ đầu chính là duy trì quyền lực cho gia tộc.

Tác giả : Lê Hoàng Vũ Linh. Bài viết gốc đăng trên Ereka.vn

(một bài viết tồng hợp nhiều nguồn – bàn về một giai đoạn của Triều Nguyễn)

Xem thêm : Thái độ và trách nhiệm của Vua Tự Đức khi để nước ta rơi vào tay của thực dân Pháp