Trịnh Huệ – Trạng nguyên cuối cùng và nghi án gian lận thi cử

Nghệ Thuật Quân Sự Thế Giới

Trịnh Huệ (1701-?) sau đổi thành Trịnh Tuệ vì tên trùng với vợ Trịnh Sâm là Tuyên phi Trịnh Đặng Thị Huệ, hiệu là Cúc Lam, là vị trạng nguyên cuối cùng của Việt Nam. Sau khi đỗ đạt cao, Trịnh Huệ bị nghi ngờ liên quan gian lận thi cử. Dù không có cơ sở, chuyện này đã trở thành giai thoại gắn với ông đến tận ngày nay.

Theo Kim Giám Thực Lục (1802) và Kim Giám Tục Biên (1869), thì Trịnh Huệ là cháu 5 đời của chúa Trịnh Tùng, thuộc dòng của Thuần Nghĩa Công Trịnh Dương. Gia đình ông đều có những người đỗ đạt. Anh ruột là Trịnh Côn và các con ông là Trịnh Đức, Trịnh Sa đều đỗ hương cống và làm quan dưới triều Lê – Trịnh. Bố ông phải bỏ quê hương từ xã Sóc Sơn (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) về vùng đất của huyện Quảng Xương lập nghiệp.

Bị nghi ngờ vì chúa “thiên vị dòng họ”

Trịnh Huệ - Trạng nguyên cuối cùng và nghi án gian lận thi cử
Trịnh Huệ – Trạng nguyên cuối cùng và nghi án gian lận thi cử

Theo sách Kể chuyện trạng Việt Nam, từ nhỏ, Trịnh Huệ là người thông minh, mẫn tiệp, sách chỉ cần đọc một lần có thể thuộc ngay. Sau nhiều năm kinh sử, năm Quý Mão (1723), ông thi đỗ Hương cống.

35 tuổi, ông thi Đình và đỗ trạng nguyên (người đầu tiên đỗ trạng nguyên là Nguyễn Quán Quang năm 1247, sau khi Trịnh Tuệ đỗ năm 1736, triều đình không lấy danh hiệu trạng nguyên nữa.

Là con cháu nhà chúa, sau khi đỗ trạng, Trịnh Huệ dính lời đồn gian lận khoa cử. Theo quy định bấy giờ, kỳ thi lấy trạng nguyên diễn ra ngay tại thủ đường của Trịnh Doanh, do chúa Trịnh đích thân ra đề. Trịnh Huệ là cháu 4 đời của Triết vương Thành tổ Trịnh Tùng, đỗ đầu, nên nhiều người nghi ngờ chúa Trịnh Doanh thiên vị dòng họ.

Không có cách nào giải oan, một lần, Trịnh Huệ nói với mọi người rằng: “Tôi đỗ đầu mà bị thiên hạ nói là do vương phủ thiên vị thì còn gì là thơ văn nữa. Nay để khỏi nghi ngờ, xin chư vị đem các câu hỏi khó ở bất cứ sách nào về kinh, sử, y học bói toán, tôi sẽ trả lời”.

Nhiều người tranh nhau hỏi, ông đều trả lời trôi chảy. Không tìm được điểm yếu của Trịnh Huệ, họ quay sang đề cập những câu hỏi hóc búa về thực tế ở Đại Việt.

Một người hỏi: Chiếc đũa là vật thiêng không có chân lúc nào thì gãy, lúc nào thì mất, nó chạy đi đâu? Ở trong kinh điển nào? Trịnh Huệ mỉm cười, khoan thai đọc hai câu thơ của Lê Thánh Tông: Trời còn giành để An Nam mượn / Vạch chước binh Ngô mãi mới vừa.

Ông nói tiếp: “Đó chẳng phải là câu thơ của Lê Thánh Tông bản triều vịnh núi Chiếc Đũa, nơi khởi phát đế nghiệp, mở ra công cuộc bình Ngô của nước ta hay sao? Núi Chiếc Đũa không có chân mà chạy về góc đó”.

Quả là ở Thanh Hoá nơi cửa biển Thần Phù (nay thuộc địa phận làng Văn Đức, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn) có ngọn núi đứng một mình tên chữ là Chích Trợ Sơn, gọi nôm là núi Chiếc Đũa, hình thù giống như chiếc cọc cắm giữa biển làm cột mốc cho thuyền bè qua lại. Từ xưa, các vua chúa qua đây đều có thơ đề vịnh, ca ngợi cảnh đẹp của phong cảnh.

Sau những câu trả lời của ông, ai cũng kính phục, điều tiếng, di nghị cũng qua đi phần nào. Dù vậy, nó vẫn luôn theo ông đến hết cuộc đời. Hơn 4 thế kỷ đã qua, nhưng mỗi khi nhắc đến Trịnh Huệ, người đời lại nhớ về nghi án gian lận khoa cử của ông.

“Trạng nguyên từ”

Sau khi thi đỗ trạng nguyên, lúc đầu, ông làm quan Sơn Nam thừa Chánh sứ rồi đến Thượng thư Bộ Hình, vài năm sau lại được thăng chức Tham tụng – chức quan ngang tể tướng trong triều.

Theo sử sách, năm 1740, một lần, chúa Trịnh Doanh nghi ông về phe với Hoàng Công Phụ làm phản, gây loạn trong triều, nên bắt giam vào ngục để điều tra. Một năm sau, chúa xét thấy bị oan, đã tha bổng và phong ông làm Tế Tửu Quốc tử giám.

Sau này, khi từ giã quan trường, ông ẩn cư tại chân núi Voi, mở lớp dạy học cho người dân trong vùng. Ông còn thuê người xây dựng căn nhà nhỏ để hàng ngày người dân tới học chữ. Ông không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, ai có tinh thần học tập là dạy miễn phí.

Ngày nay, vị trí ông dạy học cho người dân trong làng đã được thay thế bằng ngôi chùa Voi khang trang. Cạnh chùa còn hai chiếc cột đá, đây là vật dụng năm xưa Trịnh Huệ dùng để treo kẻng gõ tập hợp học sinh. Trong số đó, có nhiều học trò sau này đỗ đạt cao và làm quan.

Khi ông mất, học trò dựng nhà thờ phụng. Lúc làm đốc học ở Thanh Hóa, bảng nhãn Lê Quý Đôn đã đến thăm đền thờ Trịnh Huệ. Thấy nhà cửa xuống cấp, ông đã quyên góp tiền sửa chữa và khắc tấm biển treo trước đền là “Trạng nguyên từ” để người đời nghìn năm ghi nhớ.

Trịnh Huệ - Trạng nguyên cuối cùng và nghi án gian lận thi cử
Trịnh Huệ – Trạng nguyên cuối cùng và nghi án gian lận thi cử

Di sản

Trịnh Huệ là tác giả cuốn sách “Tam giáo”, là người nhuận sắc và soạn văn một số bia hiện còn ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình… Đặc biệt ông cùng với Bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 -1766) người cùng quê đã soạn văn bia: “Khánh nguyên kỳ bị ký” dựng năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752) để ghi công tích đối với dân với nước của nhân vật có hiệu là Quy Triều hầu, khi mất được tặng phong là Đô đốc trụ quốc Thượng tướng quân, người huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đây là tấm bia khá đặc biệt, vì soạn văn là Trịnh Huệ và Hà Tông Huân, hai người đứng nhất nhì bảng Tam khôi và đều giữ chức Tể tướng!

Trạng nguyên cuối cùng

Khoa thi nho học Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức dưới triều Lý Nhân Tông, niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075), gọi là Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển đỗ nhất, được vào hầu vua. Nhưng mãi tới triều Trần Thái Tông, niện hiệu Chính Bình thứ 16 (1247), mới đặt ra Tam khôi, gồm 3 bậc: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Qua 63 kỳ thi Đình, lẫy đỗ được 45 vị trạng nguyên và đến khoa thi năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) đời Lê Ý Tông, thì người đỗ trạng nguyên là Trịnh Huệ. Tuy sau khoa thi này, dưới triều Lê Trung Hưng, có gần hai chục lần thi Đình nữa, song không có ai đỗ trạng nguyên. Còn dưới triều Nguyễn, từ khoa thi Đình năm Nhâm Ngọ triều Minh Mệnh thứ 3 (1822) đến khoa thi Đình cuối cùng của chế độ khoa cử Việt Nam dưới thời phong kiến, được tổ chức vào năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định thứ tư (1919) thì không có vị trạng nguyên nào, vì triều Nguyễn chỉ lấy bảng nhãn trở xuống.

Do đó Trịnh Huệ là vị trạng nguyên cuối cùng của chế độ khoa cử nước ta thời phong kiến.

Xem thêm : Lý Thường Kiệt nam chinh đại phá Chiêm Thành: Bình Chiêm, phá Tống.

Tác giả Võ Phúc. Biên tập và bổ sung thêm từ bài viết của Zing news.

Võ Phúc
Follow tôi: