Từ chiến thắng trên đất bắc đến cuộc kháng chiến chống Tống lần 2

Các Cuộc Kháng Chiến

Sau khi thất bại muối mặt trước quân đội của chư hầu Giao Chỉ nhỏ bé, quân Tống vội vàng được điều động cho một cuộc báo thù rửa nhục. Cuộc chiến tranh Tống – Việt lần 2 xảy ra và lần này là ngay trên đất Việt. Nhà Tống nóng vội tiến quân, quân dân nhà Lý sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2.

Bài trước : Toàn cảnh cuộc chiến Việt – Tống: Tiên phát chế nhân tiến đánh cường địch

Nhà Tống quyết tâm báo thù rửa hận

Khi Lý Thường Kiệt và Tông Đản vây thành Ung Châu, vua Tống nghe theo lời tâu của Vương An Thạch muốn dùng Ung Châu cầm chân quân chủ lực Đại Việt rồi cho một đạo quân khác do Triệu Tiết chỉ huy theo đường khác mà đánh úp Đại Việt. Tiết tiến cử tướng Quách Quỳ, là một danh tướng vùng biên cương Liêu – Hạ tăng cường vào bộ chỉ huy. Khi về kinh nghị sự, vua Tống Thần Tông cho Quách Quỳ làm chánh tướng, chức danh đầy đủ là Tuyên huy nam viện sử, An Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản chiêu thảo sứ. Triệu Tiết được phong làm Phó sứ. Yên Đạt được phong Mã bộ phó sứ đô tổng quản. Vua Tống theo lời tâu của Quách Quỳ, điều quân ở vùng Hà Đông (Thiểm Tây) giáp nước Hạ làm quân nòng cốt cho cuộc xâm lược. Trước đó, vua Tống định cho Lý Hiến làm phó tướng, đồng thời giữ nhiệm vụ giám quân nhưng bị quần thần phản đối do Lý Hiến là hoạn quan, Lý Hiến lại tranh cãi xích mích với Triệu Tiết nên bị bãi chức. Khi dặn dò công việc với Quách Quỳ, vua Tống đã tỏ rõ ý định thôn tính: “Sau khi bình Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như nội địa”.

Rốt cuộc thành Ung Châu bị hạ, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân an toàn về nước, kế đánh úp Đại Việt thành ra phá sản. Nhưng Tống là một nước lớn mạnh, đông đúc gấp hàng chục lần Đại Việt, tự nhận là thiên triều thì dễ gì bỏ qua được.

Được tin Ung Châu thất thủ, quyết tâm xâm lược của vua Tống vẫn không đổi. Vua Tống Thần Tông và Vương An Thạch bàn nhau tiếc nuối rằng xưa kia đã không đánh Đại Việt sớm mà để bị đánh trước. Vương An Thạch than với vua Tống: “Đáng lẽ, ta phải đánh khi Càn Đức mới lập. Bấy giờ, các khê động đều muốn nội phụ. Nếu lúc ấy ta muốn đánh Giao Chỉ, thì chỉ cần mộ 2 vạn tinh binh, chọn 5 – 6 tướng vừa, là có thể làm xong chuyện. Tôi trộm nghĩ rằng nếu bấy giờ ta đoán được sự ngày nay chúng không tuân lệnh, thì ta đã có tiếc gì mà không cử binh. Thế mới biết rằng việc bốn cõi biên thuỳ, nếu không lo sự lớn hơn sự bé, làm việc khó trước việc dễ, thì đến nhọc quân tốn của.”

Lời tâu trên thể hiện sự mù mờ về tin tức ở Đại Việt của Vương An Thạch và vua tôi nước Tống. Họ thứ nhất là đã đánh giá quá thấp sức mạnh Đại Việt, thứ hai là không hiểu rằng nước Tống bị Đại Việt tấn công cũng chính vì âm mưu xâm lược Đại Việt của Tống. Vua tôi Tống vẫn không hiểu được bản chất của cuộc tấn công mang tính đánh phủ đầu mà Lý Thường Kiệt đã vạch ra. Họ vẫn tưởng tượng về một cuộc cướp phá, diễu võ giương oai, hay thừa cơ chiếm cứ lãnh thổ. Tuy mù mờ như thế, nhưng khi thấy rõ sức mạnh kinh hồn của quân Đại Việt trong cuộc tấn công do Lý Thường Kiệt chỉ huy thì Tống triều tỏ ra rất thận trọng. Chính vì vậy mà bất chấp việc cả một vùng tiền đồn rộng lớn miền nam nước Tống bị tàn phá nghiêm trọng, Tống vẫn cố gắng ở mức cao nhất để huy động một đạo quân thiện chiến đông đảo, với trang bị mạnh và hậu cần quy mô lớn.

4,5 vạn quân đã từng theo Quách Quỳ chinh chiến nhiều năm ở biên thùy Tống – Hạ được điều động. Số quân này là những quân lính tinh nhuệ bậc nhất trong toàn quân đội nước Tống bấy giờ, được biên chế làm 9 Tướng (Tướng ở đây là một đơn vị quân đội của nước Tống thời bấy giờ, mỗi Tướng gồm 5.000 quân). Trong số này có 1 vạn kỵ binh, là tinh túy của Tống cũng như nhiều quốc gia trung đại khác. Theo cách tính toán phổ biến đương thời thì khi chiến đấu theo đội ngũ, một đơn vị kỵ binh có thể đánh trực diện với số bộ binh đông hơn 5 – 7 lần. Các vùng khác của nước Tống cung cấp chừng 6,5 vạn bộ binh, phần lớn là từ các lộ nằm trên dọc đường tiến quân từ Biện Kinh tới biên giới Tống – Việt. Số quân này gộp với 4,5 vạn quân nòng cốt lấy từ biên thùy Tống – Hạ tạo thành một đội quân đông 10 vạn lính chiến đấu.

Ngoài lính chiến đấu, còn có khoảng 20 vạn dân phu được điều động. Những dân phu khỏe mạnh ngoài nhiệm vụ phục dịch, còn là lực lượng dự phòng dùng cho chiến đấu. Để phối hợp, nước Tống còn huy động một đạo thủy quân với hàng trăm thuyền chiến chủ yếu là thuyền buôn trưng thu trong dân hoán cải lại thành chiến thuyền, cùng với một số chiến thuyền đóng một cách vội vàng. Binh lính của đạo thủy quân này được tuyển mộ từ những dân thuyền chài ven biển. Đạo thủy quân này có tổng quân số chừng 5 vạn quân, do tướng Dương Tùng Tiên làm tổng chỉ huy. Nhiệm vụ được đặt ra cho đạo thủy quân là tiến vào nội địa nước Đại Việt đúng hẹn để phối hợp với bộ binh Tống vượt sông chiếm kinh thành Thăng Long.

Vua tôi Tống bàn nhau: “Trên đường bộ, tiến binh đến kinh thành giặc còn bị cách sông lớn. Người Giao lại giỏi thủy chiến. Sợ rằng thuyền giặc giữ các chỗ hiểm, đại binh ta khó lòng qua được. Rồi đêm đến, giặc xông tới đánh thì việc ta hỏng mất… Vậy xin hạ lệnh cho các ty kinh lược, chuyển vận Quảng Đông phải tuyển thủy binh, chọn những người dũng cảm rồi dạy thủy chiến cho chúng. Sau này sẽ từ Quảng Châu theo bờ bể, chỉ tiến tới Liêm, Khâm, rồi đậu thuyền ở đó đợi. Lúc nào đại binh tiến sẽ hẹn ngày sai thủy quân cùng vào Giao Châu đánh giặc. Thủy quân sẽ tách ra một phần thuyền ghé vào bờ bắc sông để chở đại quân sang”.

Nước Tống thời kỳ này là một nước chú trọng về quân kỵ bộ để phục vụ cho các cuộc chiến tranh liên miên ở biên cương phía tây và phía bắc chống lại các đạo quân du mục và bán du mục Liêu, Hạ nên quân kỵ, quân bộ rất mạnh. Trái lại, thủy quân rất kém cỏi. Thậm chí, Tống không có một lực lượng thủy quân thường trực đúng nghĩa mà phải huy động trong dân khi có sự cần. Vì vậy mà mặc dù đã rất cố gắng gây dựng một cánh quân thủy để phục vụ cuộc xâm lược Đại Việt, thủy quân Tống vẫn kém xa thủy quân Đại Việt về chất lượng. Việc chuẩn bị chiến thuyền chậm trễ so với tiến độ hành quân. Khi đạo bộ binh của Quách Quỳ đã tiến đến Quế Châu (thủ phủ lộ Quảng Tây) vào giữa năm 1076, thủy quân của Dương Tùng Tiên vẫn chưa tập hợp được chiếc thuyền nào. Phải đến cuối năm 1076 thì Dương Tùng Tiên mới tập hợp được thành thuyền bè và quân lính thành đội ngũ.

Song song với việc xây dựng thủy quân, vua Tống còn sai sứ đem của cải và chiếu thư theo thuyền buôn vượt biển cấp tốc sang Chiêm Thành, Chân Lạp (hay còn gọi là đế chế Khmer) để xúi giục hai nước này liên thủ với Tống cùng tấn công Đại Việt. Chiếu thư như sau : “Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sư sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nước ấy nên thừa cơ hội, hiệp lực mà trừ nó. Ngày nào đánh dẹp xong, Trẫm sẽ ban thưởng cho. Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao Chỉ bắt về. Trong số ấy có cựu vương Chiêm Thành, khó lòng trở về nước. Nên triệu y sang chầu. Trẫm sẽ gia ân cho”. Cựu vương mà trong thư nhắc tới, chính là vua Rudravarman III (Chế Củ) thuở trước, vì bại trận và cắt đất cho Đại Việt mà bị quý tộc nước Chiêm Thành lật đổ, chạy sang Đại Việt ẩn náu. Vốn có dã tâm từ trước, hai nước lại lập tức đồng ý liên minh. Như vậy, Đại Việt không chỉ phải đánh nhau với nước Tống mà phải chiến đấu với cả liên minh Tống – Chiêm – Chân Lạp. Vua Harshavarman III của Chân Lạp gởi sang Chiêm Thành một đạo quân kết hợp với quân Chiêm Thành do vua Harivarman IV đích thân chỉ huy, chuẩn bị dùng thuyền chở quân vượt biển tấn công Đại Việt từ phía nam.

Để chuẩn bị lương thực, hậu cần cho cuộc chiến, vua Tống Thần Tông đã không hề tiếc của. Chỉ trong thời gian quân Tống tập hợp thành đội ngũ và tiến sang biên giới nước Đại Việt, Tống triều đã chi hàng trăm vạn quan tiền để mua lương thực trong dân. Con số hao tốn còn đội lên nhiều lần trong suốt cuộc chiến. Để đảm bảo những yêu cầu mà triều đình đề ra, các quan lại địa phương ra sức vơ vét trong dân chúng.

Vua Tống sai Hàn lâm y quân viện bào chế 57 bài thuốc hoàn trị lam chướng, bệnh tật để mang theo trong quân. Thái y cục cũng được lệnh bào chế 30 bài thuốc trị lam chướng. Ngoài việc lo thuốc thang, vua Tống còn lập đàn cúng bái khi thấy quân lính chưa ra khỏi địa giới nước Tống đã bắt đầu có một số bị bệnh tật. Nhiều chỉ dụ được ban xuống cho tướng lĩnh và quân lính thực hiện các phép vệ sinh trong sinh hoạt. Sở dĩ mặt sức khỏe quân lính được quan tâm kỹ như vậy là bởi quân tinh nhuệ nước Tống chủ yếu ở miền tây và miền bắc nhưng những quân lính này lại không quen thủy thổ phương nam. Còn những dân phía nam nước Tống thì quen thủy thổ hơn nhưng không giỏi chiến trận, lại kém trung thành nên không được tin dùng.

Nước Tống thời kỳ này không quen việc vận chuyển bằng đường biển, chỉ dùng thuyền bè men theo các sông trong nội địa là chính. Khi quân Đại Việt tiến sang tàn phá những cầu đường, lấp sông, phá kho tàng khiến cho việc vận chuyển phục vụ cho chiến tranh của Tống rất khó khăn. Chính điều này làm cho tiến độ chuẩn bị của Tống cho cuộc xâm lược bị chậm trễ rất nhiều. Trong năm 1076, nước Tống đã phải điều động hàng vạn người đắp lại thành Ung Châu, sửa sang lại cầu đường, khai thông lại sông Ung Giang bị quân ta lấp trước đó. Đây có thể coi là một kỳ công của nước Tống để phục vụ cuộc chiến. Những xe cộ, thuyền bè trong nước dọc đường tiến quân được huy động tối đa. Hàng chục vạn phu phải gồng mình khuân vác hàng hóa ở vùng biên giới Tống – Việt. Những vũ khí tối tân nhất của Tống, thậm chí có thể nói là tối tân nhất thế giới thời bấy giờ đều được đưa sang đánh Đại Việt. Trong đó có thể kể đến hỏa tiễn, máy bắn đá, nỏ lớn, pháo thăng thiên…

Công cuộc chuẩn bị và hành quân được tiến hành song song một cách khẩn trương. Khi quân đi xa kinh thành rồi, vua Tống vẫn dùng thư từ theo dịch trạm để theo dõi và chỉ đạo từ xa. Quách Quỳ dẫn quân gần đến biên giới còn nhận được chiếu của vua Tống như sau: “Nghe nói vùng khê động có nhiều của quý. Sau khi Giao Chỉ thua, hãy đặt thành quận, huyện mà cai trị và hãy sung công của cải”. Lời đó lộ rõ mục đích cốt lõi của cuộc chiến không phải là báo thù rửa hận mà chính là để cướp bóc, bành trướng lãnh thổ. Khoảng tháng 8/1076, đạo quân 10 vạn lính với trang bị mạnh, cùng 20 vạn phu dưới trướng của tướng Quách Quỳ đã tiến tới gần biên giới nước ta, quân tiên phong do tướng Nhâm Khởi chỉ huy đã bắt đầu tiến sát các tiền đồn Đại Việt. Đồng thời cánh thủy quân của Dương Tùng Tiên cũng được lệnh tập trung ở cảng Khâm Châu sẵn sàng xuất phát, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược.

Quân dân Đại Việt đã sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2
Quân dân Đại Việt đã sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2

Lý Thường Kiệt bày quân chờ địch

Sau khi hoàn thành cuộc bắc phạt đánh phủ đầu nước Tống và rút quân an toàn về nước, Lý Thường Kiệt – vị chỉ huy tối cao của quân đội Đại Việt đã biết chắc thế nào quân Tống cũng sẽ tiến sang báo thù. Ông đã cùng với triều đình và quân dân cả nước tích cực chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2. Trai tráng cả nước được tuyển mộ vào đội ngũ, ngày đêm tập luyện chiến đấu.

Ở biên giới, thế phòng thủ của Đại Việt chủ yếu dựa vào các lực lượng thổ binh của các tù trưởng. Tù trưởng Lưu Kỷ giữ châu Quảng Nguyên. Phò mã Thân Cảnh Phúc ở châu Quang Lang đóng quân tại động Giáp giữ ải Giáp Khẩu và ải Quyết Lý. Châu Môn có quân của các tù trưởng Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân, Nùng Thuận Linh án ngữ tuyến đường bộ từ Bình Gia đến Thái Nguyên. Vi Thủ An giữ đường từ Tư Lăng đến Lạng Châu. Trong các đội quân này mạnh nhất là quân của Lưu Kỷ và Thân Cảnh Phúc.

Quân của các tù trưởng châu động trên là những lực lượng người dân tộc thiểu số Tày, Nùng. Họ là những chiến binh can đảm và võ nghệ cao cường, lại thông thuộc địa thế, thạo chiến đấu trên những vùng núi non. Đó là những lực lượng đáng gờm đối với bất kỳ đội quân nào. Tuy nhiên có một yếu điểm là những sắc dân biên cương này không hoàn toàn trung thành với Đại Việt. Họ là những xứ tự trị, đối với vương triều Lý về căn bản vẫn chỉ là một liên minh lợi ích. Các đời vua triều Lý thường cố gắng chiêu dụ các tù trưởng bằng tước vị, tiền bạc và hôn nhân để mong có được sự quy phục và đã mang lại nhiều hiệu quả.

Sự đoàn kết như những người đồng chủng đồng văn giữa người miền đồng bằng trung tâm và người miền thượng du về căn bản vẫn khá lỏng lẻo. Chính vì vậy, khi bố trí một thế trận chống ngoại xâm, Lý Thường Kiệt phải chọn địa bàn châu thổ sông Hồng gần kinh thành Thăng Long làm trọng tâm với lực lượng đóng vai trò then chốt là các đội quân chính quy người Kinh sống ở đồng bằng trung châu nước Đại Việt. Đó là những đạo quân đặc biệt trung thành, có thể chiến đấu tới cùng trong mọi hoàn cảnh để bảo vệ đất nước.

Đặc biệt, vai trò của thủy quân là tối quan trọng trong thế trận chống ngoại xâm. Có thể nói đa phần quân chính quy Đại Việt là lính thủy đánh bộ hoặc thủy quân. Tướng Lý Kế Nguyên nắm giữ một đạo thủy quân tinh nhuệ đóng tại biên thùy châu Vĩnh An để đề phòng quân Tống dùng thuyền chở quân vượt biển hoặc phối hợp với bộ binh của tướng Quách Quỳ. Lý Kế Nguyên phụ trách che chắn cho cả một vùng bờ biển phía đông bắc Đại Việt, với những tuyến đường thủy yếu huyệt là vịnh Đông Kênh, cửa biển Bạch Đằng. Quân số đạo thủy quân mà Lý Kế Nguyên chỉ huy ước chừng dưới 2 vạn quân.

Hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn nắm giữ 2 vạn thủy quân với 400 chiến thuyền đóng tại Vạn Xuân. Từ vị trí này, chiến thuyền Đại Việt có thể kiểm soát cả một hệ thống sông ngòi che chắn cho thành Thăng Long từ phía bắc, bao gồm các con sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Bạch Đằng … đặc biệt là sông Cầu. Con sông Cầu thời bấy giờ là một con sông lớn, là nơi mà các tuyến đường quan trọng từ bắc xuống nam đều phải đi qua, với bến đò Như Nguyệt gần như là đường độc đạo để cho một đội quân lớn có thể vượt sông. Vào thời kỳ này, bến đò này là một chốt giao thông huyết mạch, cùng với vùng lân cận là điểm khả thi nhất, thậm chí gần như là sự lựa chọn duy nhất cho quân Tống nếu muốn vượt sông Cầu đánh chiếm Thăng Long.

Chính vì đây là yếu địa, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng ở đây một chiến tuyến quy mô dài gần 30 km, cùng các điểm phụ trợ nằm ở bờ nam. Chiến tuyến Như Nguyệt là một chuỗi những cụm chiến lũy được làm bằng gỗ, tre, nứa được liên kết bằng vữa đất. Chiến lũy được đắp theo những nơi được đánh giá là có thể vượt sông. Bên ngoài các đoạn chiến lũy, lớp lớp những chông tre được cắm kín bờ sông chĩa mũi nhọn về phía bắc. Ngoài ra còn có những hầm chông ngầm được chôn tạo thành những cái bẫy. Những nơi bụi rậm hay bờ dốc cao thì không có chiến lũy, chỉ có quân mai phục đề phòng.

Quân Đại Việt đóng thành cụm quân lớn ngay tại bến đò. Cùng với đó là một chuỗi liên hoàn các cụm quân dọc theo chiến tuyến để canh chừng và liên lạc, hỗ trợ cho nhau. Có bốn cụm quân lớn dọc sông Cầu là Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động, Vạn Xuân được gấp rút chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Quân phòng thủ trên bờ và thủy quân dưới sông từ căn cứ Vạn Xuân phối hợp với nhau tạo thành chiến tuyến mang tính chất sống còn đối với Đại Việt. Tống quân số cho chiến tuyến này chừng 6 vạn.

Quân dân Đại Việt đã sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2
Quân dân Đại Việt đã sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống Tống lần 2

Trong đó, có 2 vạn thủy quân cùng 400 chiến thuyền ở căn cứ Vạn Xuân, 4 vạn quân còn lại đóng thành nhiều cụm liên hoàn dọc theo chiến tuyến . Các cỗ máy bắn đá cũng được bố trí ở những trọng điểm dọc bờ sông. Ngay tại bờ nam bến Như Nguyệt còn có 300 chiến thuyền bày trận. Cấm quân tinh nhuệ nhất dùng để bảo vệ kinh thành cũng được điều lên tham chiến. Ngay sau lưng chiến tuyến chính là con đường tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long.

Ở vùng lãnh thổ phía nam, Đại Việt còn chịu sự đe dọa của Chiêm Thành và Chân Lạp. Hiện tại, sử liệu về việc chuẩn bị cho mặt trận phía nam này hầu như không có gì. Chúng ta thấy rằng quân Đại Việt với những đơn vị đông đảo nhất đã tập trung cho mặt trận phía bắc chống quân Tống. Nhưng hẳn là vùng phía nam cũng phải có số quân phòng thủ nhất định để đề phòng liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp. Ngoài số lộ quân (quân địa phương thời Lý) phòng giữ các châu, trấn phía nam, Đại Việt còn sử dụng tù binh Tống để sung làm lính phòng thủ quân Chiêm. Số tù binh sung quân này có đến hàng ngàn, thậm chí gần vạn người. Đây là quân số quan trọng bổ sung cho chiến trường phía nam, đóng giữ tại trấn Nghệ An, Thanh Hóa. Tuy đội quân tù binh này ô hợp, nhưng Đại Việt hầu như không có nhiều sự lựa chọn.

Về sau, diễn biến cuộc chiến sẽ cho chúng ta thấy mặt trận phía nam chịu ảnh hưởng từ kết quả của mặt trận phía bắc. Xét cho cùng hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp tấn công Đại Việt cũng chỉ mang tính chất theo đóm ăn tàn. Họ chờ đợi một thắng lợi của nước Tống để xâu xé Đại Việt chứ chẳng dại gì dành phần khó nhọc về mình. Nhất là nước Chiêm Thành đã nhiều lần nếm mùi thất bại trước Đại Việt nên càng thêm phần thận trọng. Có thể nói rằng, nếu Đại Việt đánh bại được Tống thì hai nước này không đánh cũng tự rút. Bởi nếu quân Đại Việt được rảnh tay chiến đấu trên lãnh thổ của mình thì cho dù hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp liên minh cũng không phải đối thủ.

Cuối năm 1076, khi quân Tống tiến đến biên giới và bắt đầu những hoạt động quân sự đầu tiên, một thế trận liên hoàn trên toàn lãnh thổ nước Đại Việt đã sẵn sàng chờ đón chúng.

Nước Tống muốn thôn tính Đại Việt ta, cái họ thiếu nhất chính là thông tin. Ở chiều ngược lại, Đại Việt ở thế bị uy hiếp cũng rất cần nắm rõ tin tức của quân Tống. Từ cách bố trí lực lượng, thành phần tham chiến, vũ khí, thời gian … Tất cả những thứ đó đều rất quan trọng cho việc lập kế hoạch đánh giặc cụ thể, hiệu quả. Chính vì vậy, mặt trận nội gián, phản gián được cả hai bên rất chú trọng và diễn ra khá quyết liệt ngay từ trước khi hai bên khai chiến đến xuyên suốt cuộc chiến.

Muốn hiểu thấu đáo về vấn đề sử dụng nội gián của cả hai phía, trước hết phải nắm rõ về đặc điểm dân cư thời bấy giờ. Đương thời, lãnh thổ và dân tộc không hề được phân định rạch ròi như thời hiện đại. Nước Tống ban đầu lập quốc thì lấy vùng châu thổ sông Hoàng Hà làm trung tâm, dân cư nơi đó được coi là những dân thân thuộc, là người “Hán” chính hiệu. Còn các dân phía nam sông Trường Giang vẫn chỉ là những dân “hạng hai”. Trong đó có những sắc dân Mân, Điền, Ngô … vẫn mang những hồi ức về những nhà nước độc lập xa xưa của họ, phần nào có xu hướng thoát khỏi sự cai trị của đế chế Tống để xây dựng lại nền độc lập. Đó là những cư dân vẫn đang trong quá trình đồng hóa với những người phương Bắc để tạo thành người “Hán”. Những dân này ở vùng ven biển phía đông nam nước Tống rất nhiều.

Thêm vào một điều nữa là dân vùng Lưỡng Quảng có ngoài hình khá giống với dân Việt, sinh ra khó phân biệt, dễ dàng cho nội gián người Việt trà trộn. Dân chài lưới, người đi biển buôn bán cũng được Đại Việt thu nạp để do thám trong lãnh thổ nước Tống, được dân chúng che chở tạo thành cả một mạng lưới gián điệp lợi hại. Từ đây mà những động thái mộ binh phu, chuyển lương, đóng chiến thuyền được phía Đại Việt nắm rõ. Tống Thần Tông cũng biết dân chúng các vùng này không trung thành, mối nguy hiểm từ trinh thám Đại Việt khá cao nên thường xuyên gởi các chiếu chỉ dặn dò các lộ Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến phải cẩn thận đề phòng nội gián. Những người Quảng Nam, Phúc Kiến nước Tống sang buôn bán bên Đại Việt thường được trọng dụng, ban cho quan chức nên nhiều người ở hẳn Đại Việt không về nữa.

Đến mức ở nước Tống thời bấy giờ có tin đồn vua Lý vốn là người Mân sang làm vua nên người Lưỡng Quảng, Phúc Kiến mới được ưu ái như thế. Vua Tống sai người nhà của những người ở lại Đại Việt phải khai báo và chiêu dụ trở về nhằm khai thác tin tức. Tống còn phải đối phó với những quân do thám mà ta để lại dọc đường sau khi đánh Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu. Do thám Đại Việt cải trang thành nhà sư, nạn dân đi khắp nơi do la tin tức. Điều này khiến vua Tống lo ngại, hạ lệnh cho lộ Quảng Tây thôi cấp các bằng sắc cho các nhà sư (bằng sắc là một kiểu chứng nhận đối với các nhà sư đương thời).

Xa hơn một chút về phương nam, lộ Quảng Tây nơi biên thùy Tống – Việt và vùng rừng núi phía bắc Đại Việt là vùng của những sắc dân thiểu số, phần lớn là những mảng vỡ của tộc Tây Âu xa xưa. Nước Tống gọi họ là man di, nước Việt cũng bắt chước gọi chung là man. Vùng này gọi chung là vùng khê động, chịu sự cai trị trực tiếp của hàng loạt các dòng tù trưởng. Trên danh nghĩa, những sắc dân khê động này hoặc thuộc về Tống, hoặc thuộc lãnh thổ Đại Việt nhưng thực tế họ rất dễ đổi phe, bởi vì cả Tống và Việt đều không hoàn toàn đồng chủng đồng văn. Ở những trường hợp này, bên nào khéo ứng xử, chiêu dụ hơn sẽ có được sự phục vụ của họ. Chính những sắc dân này là đối tượng mà nước Tống rất tích cực tranh thủ bằng của cải, chức tước trước và trong cuộc chiến. Chỉ cần một vài người thông thuộc địa bàn dẫn đường, Tống có thể dễ dàng công phá những cửa ải hiểm trở nhất.

Tống sai những thám tử lẫn vào trong dân chúng vùng biên giới để kêu gọi dân chúng làm nội ứng cho quân Tống khi giao tranh nổ ra. Những thám tử này cũng là dân khê động vùng biên giới nhưng nằm bên lãnh thổ nước Tống. Vua Tống còn có chính sách chiêu dụ đối với những tù binh, hàng binh Đại Việt, ý đồ dùng những người này làm chỉ điểm, dẫn đường. Mạng lưới gián điệp của quân Tống chỉ phát huy một ít tác dụng ở vùng biên giới và vùng rừng núi phía bắc nước Đại Việt mà về sau trong cuộc chiến chúng ta sẽ thấy rõ. Tuy nhiên thành quả từ việc này không đáng kể so với thành tích dùng nội gián của phía Đại Việt. Nhất là, quân Tống vẫn không thể tiếp cận những tin tức về nội tình triều đình Đại Việt cùng các chính sách, dẫn đến những đoán định sai lầm như là đánh giá thấp sự đoàn kết của nội bộ triều đình Đại Việt.

Về phía quân Đại Việt, những hoạt động do thám đã đem lại những thông tin rất quan trọng để lập ra kế hoạch ứng chiến. Về việc chọn địa bàn quyết chiến, Lý Thường Kiệt đã không sử dụng lợi thế hiểm trở ở các cửa ải phía bắc để lập tuyến phòng thủ ngay tại biên giới mà chọn cách sử dụng các tuyến sông lớn ở vùng đồng bằng làm nơi ngăn cản quân thù. Đó là quyết định không đơn giản. Địa thế vùng biên ải phía bắc là vùng đất thiện hiểm, dễ thủ mà khó công, thuận lợi cho lấy ít địch nhiều. Nhất là, Đại Việt có tượng binh mạnh có thể trấn giữ cửa ải rất tốt. Nếu so về địa thế, vùng đồng bằng trung tâm không thể sánh được với vùng biên giới về thuận lợi cho phòng thủ, lại có phần thuận lợi cho kỵ binh địch.

Tuy nhiên qua phân tích kỹ càng, Lý Thường Kiệt đã chọn vùng đồng bằng làm nơi quyết chiến. Một phần của quyết định này đến từ lý lẽ tự nhiên là vùng đồng bằng gần với hậu cần của quân ta hơn, thuận lợi cho đánh lâu dài và cũng thuận lợi cho dùng thủy quân. Một phần là do Lý Thường Kiệt hiểu hiểm họa bị nội ứng chỉ điểm sẽ luôn chực chờ nếu đặt giao chiến lớn tại vùng biên giới phía bắc. Đối với việc phân chia lực lượng, nắm được rằng thủy binh Tống được thành lập vội vàng, lực lượng ô hợp nên Lý Thường Kiệt đã không giao nhiều quân cho Lý Kế Nguyên đóng giữ châu Vĩnh An. Quân số đạo thủy quân của Lý Kế Nguyên tầm khoảng dưới 2 vạn quân, nhưng đều là tinh binh được trang bị những chiến thuyền tối tân đủ sức chiến đấu ở cả vùng sông ngòi và những vùng biển khơi, có nhiệm vụ là ngăn chặn thủy quân Tống phối hợp với đạo quân chủ lực của Quách Quỳ.

Qua phân tích thông tin, Đại Việt đã đoán trước được đường tiến của thủy quân Tống. Điều này rất quan trọng, giúp thủy quân Lý Kế Nguyên bố trí lực lượng hiệu quả. Một đội thủy quân khác của Đại Việt khoảng 2 vạn quân, do chính hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn thống lĩnh đã được bố trí chốt giữ tại căn cứ Vạn Xuân nhằm kiểm soát sông Cầu, bên cạnh chiến tuyến Như Nguyệt, nơi mà Lý Thường Kiệt dự liệu sẽ diễn ra cuộc quyết chiến với đạo quân chủ chốt của nước Tống – đạo bộ binh 10 vạn lính và 20 vạn dân phu. Cũng dựa vào những tin tức tình báo có được, Lý Thường Kiệt hiểu rằng cuộc chiến quyết định sẽ là cuộc đối đầu giữa Tống và Việt. Hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp tuy cam kết tham chiến nhưng chỉ giữ vai trò thứ yếu.

Nhờ những bố trí chính xác dựa trên các phân tích thông tin, thế trận chống ngoại xâm của Đại Việt trở nên vô cùng vững chắc, đủ sức đương đầu với những đạo quân hùng hậu muốn xâu xé đất nước.

Nhà Tống tiến binh, cuộc kháng chiến chống Tống lần 2 bắt đầu

Nhà Tống tiến binh, cuộc kháng chiến Tống lần 2 bắt đầu
Nhà Tống tiến binh, cuộc kháng chiến Tống lần 2 bắt đầu

Mở màn chiến tranh, quân Tống đánh chiếm trại Ngọc Sơn thuộc châu Vĩnh An (Móng Cái ngày nay) để làm hậu thuẫn cho thủy quân Tống ở Khâm Châu. Ngay khi đại quân của Quách Quỳ còn ở Đàm Châu, tướng Nhâm Khởi đã dẫn quân tiên phong Tống đánh trại Ngọc Sơn từ cuối tháng 7.1076 và chiếm được trại này vào giữa tháng 8.1076. Với một tiền trạm biên thùy như trại Ngọc Sơn mà cầm cự được chừng nửa tháng đã chứng tỏ sức phản kháng của binh lính Đại Việt tại nơi này không hề nhỏ.

Vì vậy mà khi xuống chiếu thưởng công đầu cho Nhâm Khởi để khích lệ tinh thần quân sĩ, vua Tống phải phê vào “Công tuy không to, nhưng cũng đã lần đầu làm phấn khích sĩ tốt”.Sau trận này quân Tống dùng địa bàn trại Ngọc Sơn để kiểm soát châu Vĩnh An, làm bàn đạp chuẩn bị cho cánh thủy quân. Mặt trận chính yếu trên bộ nằm ở những hướng khác. Tháng 10.1076 đại quân của Quách Quỳ tiến đóng ở Tư Minh, Bằng Tường giáp địa giới nước ta, chia quân tấn công các cửa ải để thông đường tiến sâu vào nội địa Đại Việt.

Nước Tống muốn chiếm Đại Việt, đầu tiên họ phải đương đầu với hệ thống tiền đồn biên giới và các thế lực dân tộc thiểu số ở vùng giáp biên hai nước. Trước đây, khi quân Đại Việt đánh phủ đầu nước Tống đã tập họp được một liên quân lớn, với hầu hết các tù trưởng phía Đại Việt tham chiến. Sau khi hạ được Ung Châu, còn có những tù trưởng thuộc lãnh thổ Tống theo về với Đại Việt. Nay Tống mang đại quân xuống, dùng nhiều của cải chiêu dụ, các tù trưởng phía Tống lần lượt nhanh chóng trở về phe Tống triều. Tống cũng cho các thuyết khách tới tiếp xúc với các tù trưởng phía lãnh thổ Đại Việt, dùng nhiều lời lẽ vừa dụ dỗ vừa hăm dọa để lung lạc tinh thần các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số. Ở phía bên lãnh thổ Đại Việt, phản ứng của các tù trưởng có khác biệt lớn. Có những trường hợp đã chiến đấu rất hăng hái chống quân xâm lược, chỉ đầu hàng khi bị bức bí không thể làm khác. Có trường hợp sắt son một lòng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng vì Đại Việt. Nhưng cũng có vài tù trưởng nhanh chóng đầu hàng, thậm chí làm phản bội chỉ điểm cho quân Tống.

Trong số các tù trưởng, trước tiên phải kể đến là tù trưởng Lưu Kỷ ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng). Triệu Tiết từng nói với Quách Quỳ: “Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc giữ động Giáp, đều cầm cường binh”. Địa bàn Quảng Nguyên là một trong những cửa ngõ đầu tiên để quân Tống tiến vào nước ta theo đường bộ. Chính vì vậy, Lưu Kỷ cùng đội quân của mình là những người sớm phải đối đầu với đạo bộ binh đông đảo quân Tống. Ban đầu, vua Tống còn nhận định rằng có thể dễ dàng chiêu hàng Lưu Kỷ. Bởi vì trước kia vào năm 1073, Lưu Kỷ từng nghe lời xúi dục của quan Kinh lược sứ Quảng Tây là Thẩm Khởi mà xin nội thuộc Tống nhưng bấy giờ Tống không dám nhận vì sợ sớm lộ mưu thôn tính Đại Việt. Nhưng thực tế thì trải qua một thời gian gắn bó với quân dân Đại Việt, cùng chiến đấu chung chiến tuyến Lưu Kỷ đã thay đổi hoàn toàn lập trường, trở thành một thủ lĩnh trung thành với Đại Việt.

Tháng 12.1076, đại quân Tống từ châu Tư Minh phía biên giới Tống tấn công châu Quảng Nguyên. Tướng Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn quân nối nhau mà tiến vào địa bàn Quảng Nguyên. Lưu Kỷ cùng 5.000 quân của mình dựa vào địa thế chiến đấu ngoan cường, bao vây tiền quân của Tống, giết và bắt sống giặc tới hàng ngàn tên. Nhưng Yên Đạt dựa vào số đông, thúc trung quân liều chết tới cứu viện, Lưu Kỷ ít quân phải thả lỏng vòng vây và rút lui về căn cứ. Quân Tống tấn công không thủng nổi căn cứ Lưu Kỷ. Yên Đạt bày kế ly gián, sai bọn gián điệp trà trộn trong dân chúng phao tin rằng Lưu Kỷ đã ước hẹn sắp ra hàng quân Tống. Các thủ lĩnh nhỏ ở các động trúng kế, kéo nhau đem quân hàng Tống trước để yên thân. Lưu Kỷ bị bao vây, bất đắc dĩ cũng phải ra đầu hàng ngày 1.1.1077. Quân Tống bắt tù trưởng Lưu Kỷ cùng gia đình và các hàng tướng khác đem về Tống, 5000 quân Quảng Nguyên cũng bị bắt làm tù binh. Quân Tống vào căn cứ Quảng Nguyên cứu lại được 3000 tên bị bắt trước đó. Các động thuộc châu Quảng Nguyên và lân cận bị mất về tay quân Tống, bị ép cung ứng lương thực.

Quân Tống từ châu Quảng Nguyên tiến đánh Môn Châu, tù trưởng Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân ở vùng này đã thông đồng với Tống từ trước, nhanh chóng quy hàng và làm hướng đạo cho Tống. Quân Tống từ châu Tư Lăng tiến đánh Tô Mậu, tù trưởng Vi Thủ An cũng nghe lời dụ hàng của Tống mà hạ khí giới.

Ngày 8.1.1077 cánh quân chính của Quách Quỳ vượt ải Nam Quan tiến đánh huyện Quang Lang. Quân Tống gặp phải quân của phò mã Thân Cảnh Phúc và quân triều đình chặn đánh ở ải Quyết Lý. Tại đây, một trận ác chiến đã diễn ra. Quân Đại Việt có tượng binh giúp sức đã chặn được quân Tống trong thời gian ngắn và gây nhiều thiệt hại, nhưng quân Tống dùng mưa tên bắn vào voi và cho số đông quân cầm mã tấu chém vòi voi nên tượng binh quay đầu chạy, quân Đại Việt do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy phải rút lui về ải Giáp Khẩu (tức ải Chi Lăng) đặt sẵn mai phục chờ giặc. Ải này đặc biệt hiểm trở, trước đây các tướng phương Bắc đều phải chịu thương vong lớn tại đây.

Quách Quỳ là một tướng lão luyện, dò biết được có quân mai phục nên không dám tiến vào ải mà chấp nhận đi đường vòng khó nhọc, dựa theo sự dẫn đường của các phần tử phía Đại Việt đầu hàng. Quân Tống vượt dãy núi Bắc Sơn đến Yên Thế, là một con đường tắt lợi hại đánh vào phía sau phòng tuyến của quân Đại Việt. Tại làng Vạn Linh, kỵ binh địch đụng độ đội quân dự bị của triều đình dùng để chi viện cho ải Giáp Khẩu. Sự xuất hiện của quân Tống là một sự bất ngờ lớn với quân Đại Việt tại đây bởi đường đi mà quân Tống chọn rất hẹp và hiểm trở, phải là người thông thuộc mới có thể đi đúng được. Nhưng dù thế nào đi nữa, quân Đại Việt cũng quyết tử chiến, dựa vào thế núi cao bắn nỏ và ném đá về phía quân Tống gây thương vong lớn, lại lùa voi ra đánh giết quân Tống rất nhiều.

Tướng tiên phong Tống là Tu Kỷ phải rất khó nhọc mới qua được nhờ ưu tiên quân số, hết lớp này đến lớp khác tràn lên khiến quân Đại Việt thất thủ. Quách Quỳ theo đường vòng là nằm ngoài kế hoạch tác chiến của quân Đại Việt, toàn bộ đội quân mai phục ở ải Giáp Khẩu đứng trước nguy cơ bị đánh tập hậu và bị tiêu diệt. Lo ngại điều đó, Thân Cảnh Phúc nhân đêm tối lui quân lẫn về giữ rừng núi Động Giáp, chờ cơ hội đánh phục kích sau lưng giặc. Trong khi cánh trung quân của Quách Quỳ phải đụng trận với Thân Cảnh Phúc và một số đạo quân nhỏ thì cánh quân của Triệu Tiết theo hướng Bằng Tường (thuộc Tống) tiến vào Đại Việt, men theo Bình Giã, Vạn Nhai, Nhã Nam mà tiến và hầu như chẳng gặp phải cản trở gì. Các cánh quân Tống men theo ba ngã dọc sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam mà tiến như vũ bão, không còn đội quân nào trong vùng cản nổi bước tiến của giặc nữa.

Chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày, các cánh quân Tống đã đến sông Phú Lương hội quân, tức là gần sát Thăng Long – trái tim của Đại Việt. Để đến được nơi này, đạo quân Tống đã bỏ xác tổng cộng gần 1 vạn quân trên các tuyến biên giới. Quách Quỳ còn trong hơn 9 vạn quân kỵ bộ. Bên kia bờ sông chính là con đường rộng mở tiến vào kinh thành Đại Việt, tiến vào vùng đồng bằng trung châu màu mỡ. Từ bến Như Nguyệt đến Thăng Long chỉ cách chừng 20km. Nếu quân Tống vượt qua được sông, hầu như chắc chắn Đại Việt sẽ vong quốc.

Nhưng tại đây, quân Tống gặp phải một phòng tuyến quy mô chưa từng thấy mà Lý Thường Kiệt cùng quân dân Đại Việt đã cất công dựng lên từ nhiều tháng trước. Đó là phòng tuyến Như Nguyệt chắn ngang đường thiên lý (con đường lớn xuyên bắc nam). Trên bờ, lớp lớp chông tre và chiến lũy với hàng vạn bộ binh dàn sẵn. Dưới sông, hàng lớp chiến thuyền Đại Việt tuần tra. Lúc này thì quân Tống không còn đường nào để đi vòng né tránh nữa bởi thời bấy giờ đây là nút giao thông gần như duy nhất mà một đội quân có thể đi qua.

Quân Tống đóng trại ở bờ bắc sông Phú Lương, ngay ở đoạn bờ bắc bến Như Nguyệt. Quách Quỳ cho lập một hệ thống trạm chuyển lương dài từ biên giới Tống – Việt đến tận nơi đóng quân. Kế hoạch ban đầu của Quách Quỳ là đóng quân chờ phối hợp với cánh thủy binh Tống. Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy rằng, thủy chiến chưa bao giờ là điều mà người Việt tỏ ra kém cỏi. Cánh quân thủy Đại Việt do tướng Lý Kế Nguyên ở mạn đông bắc lúc bấy giờ cũng đang chiến đấu chặn đường tiến của thủy quân địch. Vận mệnh Đại Việt không chỉ phụ thuộc vào cuộc chiến đấu trong nội địa, mà còn phụ thuộc vào kết quả của cuộc chiến giữ các chiến thuyền mạn biển đông bắc.

Thủy quân là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ kế hoạch xâm lược của nước Tống. Như các kỳ trước đã nói, thủy quân Tống thời kỳ này là một đội quân “thời vụ”, được gây dựng vội vàng chỉ nhằm phục vụ cho cuộc thôn tính Đại Việt. Lính tráng của thủy quân Tống đa phần là dân ven biển được tuyển mộ và huấn luyện trong thời gian ngắn, còn chiến thuyền là những thuyền buôn hoán cải. Xét về chất, thủy quân Tống kém Đại Việt xa cả về lính lẫn thuyền. Bởi Đại Việt là một nước có cơ sở văn hóa sông biển mạnh, lãnh thổ nhiều sông ngòi và giáp biển, thường xuyên phải dùng đến thủy quân cho các cuộc xung đột với Chiêm Thành và đánh dẹp trong nước.

Tuy nhiên, sự kỳ vọng của triều đình Tống cùng tướng Quách Quỳ vào thủy quân Tống không phải là viển vông hay thiếu cơ sở. Với tiềm lực của một đế chế rộng lớn và đông dân hơn Đại Việt gấp nhiều lần, nước Tống toan dùng ưu thế số lượng để bù lại sự yếu kém về chất lượng. Các thuyền buôn mà Tống chọn sung công để dùng cho thủy quân là các thuyền đi biển cỡ lớn, vừa chở được nhiều quân lính vừa giảm chao đảo khi di chuyển. Thủy quân Tống có đến hàng trăm thuyền lớn. Mỗi chiếc chở được hơn trăm lính đến hàng trăm lính.

Quân số đạo thủy quân Tống, theo sách Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam thì có đến hơn 5 vạn quân, do tướng Dương Tùng Tiên chỉ huy. Dương Tùng Tiên được vua Tống phong làm An Nam đạo hành doanh Chiến trạo đô giám, phối hợp với một số quan chức khác phụ trách từ tuyển mộ quân, trưng thu thuyền đến vạch kế hoạch tác chiến. Thủy quân Tống áp đảo hoàn toàn về số lượng so với thủy quân Đại Việt phía mạn đông bắc do Lý Kế Nguyên chỉ huy. Thủy quân của Lý Kế Nguyên chỉ có dưới 2 vạn quân theo như sách Danh tướng Việt Nam ước đoán Thậm chí toàn bộ binh chủng thủy quân Đại Việt cũng ít hơn quân số đạo thủy quân Tống.

Theo kế hoạch ban đầu mà tổng chỉ huy thủy quân Tống – tướng Dương Tùng Tiên vạch ra là dùng thủy quân đi vòng đường biển để tiến thẳng vào lãnh thổ Chiêm Thành, phối hợp với quân Chiêm đánh ngược lên từ phía nam Đại Việt, tạo thành thế gọng kìm. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, kế hoạch này đã tỏ ra quá sức đối với Tống. Bởi việc cho hàng vạn thủy quân đi đường biển xa xôi như thế đòi hỏi sự chuẩn bị về hậu cần quá lớn, trong khi thời gian chuẩn bị thì có hạn. Việc chuẩn bị hậu cần như thế vượt ngoài tiềm lực của bất kỳ đất nước nào thời bấy giờ, kể cả Tống. Do sự phá sản của kế hoạch vượt biển vào Chiêm, thủy quân Tống phải chuyển sang kế hoạch mới. Đó là men theo ven biển đông bắc Đại Việt để xâm nhập vào nội địa theo ngã sông Bạch Đằng, phối hợp với đạo bộ binh của Quách Quỳ, chở quân sang sông lớn để chiếm kinh thành Thăng Long.

Thủy quân Tống tập kết ở Khâm Châu, vào cuối thu 1076 đã vượt biển tiến vào địa giới châu Vĩnh An mà đạo quân của tướng Nhâm Khởi đã chiếm đóng từ trước đó. Tại Vĩnh An, quân Đại Việt rút lui tạm nhường trận địa cho giặc. Lý Kế Nguyên âm thầm cho lực lượng thủy quân của mình đặt mai phục ở sông Đông Kênh, tuyến đường huyết mạch mà ông dự liệu chắc rằng thủy quân Tống phải đi qua. Vì rằng, đó là cách giải thích hợp lý nhất cho việc quân Tống ra quân chiếm Vĩnh An từ rất sớm. Đông Kênh vốn là một dải nước ven biển giữa đất liền và các hải cảng từ Vĩnh An đến Bạch Đằng.

Thủy quân Tống tiến quân vào Vĩnh An mà không hề thấy sự chống cự nào của thủy quân Đại Việt

Đúng như dự đoán, tướng Dương Tùng Tiên cùng thủy quân Tống tiến quân vào Vĩnh An mà không hề thấy sự chống cự nào của thủy quân Đại Việt, bèn lệnh cho toàn quân xếp hàng dọc theo dòng Đông Kênh tiến gấp về hướng cửa sông Bạch Đằng, lọt ngay vào trận địa mai phục của quân Đại Việt chờ sẵn. Lý Kế Nguyên phát lệnh tấn công, thủy quân Đại Việt dốc toàn lực đánh dữ dội vào đội hình thuyền địch. Lúc này thì toàn bộ những nhược điểm của thủy quân Tống bộc lộ. Thuyền Tống to lớn cơ động chậm, bị các chiến thuyền thực thụ của Đại Việt nhanh nhẹn bao vây tiêu diệt từng chiếc. Quân lính Tống ô hợp không biết xoay sở thế nào, bị quân Đại Việt tắm máu. Binh thế Tống đứt đoạn không sao cứu vãn nổi, nhưng vì thủy quân Tống rất đông nên thủy quân Đại Việt giết không xuể.

Dương Tùng Tiên lui thuyền về cửa sông Đông Kênh phía bắc để chỉnh đốn lực lượng cố thủ. Quân Đại Việt truy kích, giao chiến hơn 10 trận lớn nhỏ với quân Tống và luôn dành thế thắng, hàng vạn thủy quân Tống bỏ xác nơi đáy nước. Dương Tùng Tiên thế cùng phải lệnh cho thủy quân tháo chạy ra biển, lui về tận vùng biển Khâm Châu, Liêm Châu để lập thủy trại. Giờ đây chẳng những không tiến quân được, trái lại thủy quân Tống còn lo ngại thủy quân Đại Việt sẽ tràn sang hải cảng của Tống. Dương Tùng Tiên về chẳng dám về, cho thuyền lượn lờ chiếu lệ trên biển đến hàng mấy tháng trời và gởi thư về đất liền Tống dặn dò phòng bị :“Vừa rồi, tôi gặp quân liên lạc của giặc mang lệnh của viên hành quân chiêu thảo sứ bên giặc là Lý Kế Nguyên. Sau đó nhiều lần tôi đánh chúng, nhưng chúng không có ý khuất phục. Vậy xin hãy ra lệnh phòng bị nghiêm ngặt ở biên giới để tránh sự bất ngờ”.

Hai viên hiệu dụng là Phàn Thực, Hoàng Tông Khánh cùng một tốp nhỏ thuyền được Tùng Tiên sai vượt biển xuống Chiêm Thành để thúc giục Chiêm Thành nhanh chóng tiến quân đánh Đại Việt từ phương nam. Nhưng đây cũng là một việc làm vô bổ. Bởi vì đường thẳng hầu như là không thể đi do sự phong tỏa của thủy quân Lý Kế Nguyên, mà đi vòng ra khơi thì đường biển quá xa xôi, khó mà đưa tin kịp thời cho Chiêm Thành để phối hợp với Tống. Việc này cũng thừa thải, do trước sứ Chiêm Thành sang đã đồng ý tham chiến rồi và thực tế thì Chiêm Thành cũng đã cất quân tấn công Đại Việt.

Như vậy là, thủy quân Tống chẳng giúp ích gì được cho bộ binh Tống ngoài việc phân tán một phần binh lực Đại Việt cho mặt trận ven biển đông bắc. Lý Kế Nguyên cùng đạo thủy quân dưới trướng tuần tra vững chắc ven biển đông bắc, khống chế hoàn toàn mặt trận và cắt đứt toàn bộ liên lạc giữa thủy quân với quân Tống trên bộ. Thảm bại là từ ngữ ngắn gọn để đánh giá về mặt trận đường thủy của quân Tống. Đoàn thuyền ô hợp nhếch nhác dưới trướng Dương Tùng Tiên quay trở về bờ nước Tống tận vào cuối tháng 4.1077, khi mà chiến tranh đã kết thúc rồi.

Cuộc chiến sông Như Nguyệt, nhà Tống nướng binh

Quách Quỳ không phải là nhân vật tầm thường mà là một danh tướng rất lão luyện. Chỉ với việc trong vòng 10 ngày vượt qua được các tuyến phòng thủ mạnh của Đại Việt ở biên giới, đi đường vòng vượt qua cửa ải Giáp Khẩu, khuất phục Lưu Kỷ, chiêu hàng một loạt các tù trưởng cũng chứng tỏ bản lĩnh của viên tướng này. Chẳng những thế, nhiều tướng sĩ dưới trướng trong đội quân xâm lược Đại Việt là tinh hoa của quân Tống. Bấy giờ, Quách Quỳ vượt ngàn dặm đến gần sát Thăng Long, thì gặp phải trước mặt là trùng trùng chiến lũy, sông lớn ngăn cách. Chiến tuyến Như Nguyệt như một tấm khiên vững chắc chặn ngang mũi giáo của quân địch, che chở cho trung châu Đại Việt.

Đại chiến sông Như Nguyệt - Ảnh từ Việt Sử Kiêu Hùng
Đại chiến sông Như Nguyệt – Ảnh từ Việt Sử Kiêu Hùng

Quân Tống chia quân lập trại ngay bờ bắc bến Như Nguyệt, tạo thành những cụm quân lớn liên hoàn. Có hai khối quân chính yếu là tổng trại của Quách Quỳ và trại của Triệu Tiết. Trại quân Tống bố trí theo hình tròn, rìa ngoài là quân canh giữ, bên trong là lực lượng tinh binh làm trù bị. Chính giữa đoạn đường nối hai trại của Quách Quỳ và Triệu Tiết là một cụm quân trung gian, và dọc theo đoạn đường giữa hai trại là hàng loạt các khối quân nhỏ nữa. Xung quanh mỗi trại, là các cụm quân làm vệ tinh.

Ban đầu, Quách Quỳ định chờ đợi thủy quân Tống tới để phối hợp vượt sông nhưng rất nhanh sau đó, kế hoạch đã được sắp xếp lại. Châu mục Hoàng Kim Mãn, trước là tri châu Môn phía Đại Việt, nay hàng Tống và làm hướng đạo đã chỉ điểm cho giặc một lối thuận tiện để bộ binh vượt sông. Tướng giặc Miêu Lý cùng thuộc hạ đến nơi quan sát sang bờ nam thấy vắng bóng quân Đại Việt, tâu với chủ tướng Quách Quỳ rằng : “Giặc đã trốn đi rồi. Xin cho quân qua sông”. Đầu tháng 2.1077, Quách Quỳ liền hạ lệnh cho quân lính nhân đêm tối gấp rút dùng gỗ bắc cầu phao vượt sông. Kỹ thuật bắc cầu phao gỗ là một trong những phát minh quân sự đắt giá của Tống thời bấy giờ. Đến sáng thì cầu phao bắt xong, đội tiên phong Tống do tướng Miêu Lý chỉ huy ào ào vượt sông, tiến sâu vào bờ phía nam, tướng Vương Tiến cầm quân chốt giữ ngay đầu cầu đón đại quân Tống tràn sang chi viện. Quân Tống quyết liệt đánh gấp vì ngại rằng thủy quân ta sẽ kịp kéo tới phá cầu.

Cuộc chiến sông Như Nguyệt, nhà Tống nướng binh
Cuộc chiến sông Như Nguyệt, nhà Tống nướng binh

Tưởng chừng như quân Tống đã xuyên thủng được phòng tuyến cuối cùng của Đại Việt, thì đến vùng Yên Phụ, tiên phong quân Tống gặp phục binh quân ta thình lình nổi lên đánh giết dữ dội. Các tốp quân Tống nối đuôi phía sau cũng bị quân Đại Việt tấn công tạt sườn. Đội hình quân Tống bị xé đứt thành từng đoạn, sang bao nhiêu bị giết bấy nhiêu nên phải rút chạy về bờ bắc. Quân tiên phong của Miêu Lý trở nên cô thế chống cự không nổi, bị vây kín bốn mặt. Miêu Lý cùng quân sĩ đạo tiên phong dưới trướng liều chết rút về hướng cầu phao thì cầu đã bị tướng Vương Tiến chặt đứt vì sợ quân Đại Việt tràn qua bờ bắc, chúng rơi vào cảnh tiến thoát lưỡng nan, bị giết đến quá nửa và bị đẩy xuống sông chết đuối. Số tàn quân còn lại một phần được bè của quân Tống bờ bắc chèo sang cứu về, số khác may mắn bơi về được bờ bắc. Tướng Miêu Lý thoát chết nhờ nhảy được lên thuyền nhỏ chèo về bờ bắc.

Đợt vượt sông đầu tiên thất bại thảm hại do mắc bẫy mai phục của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ lại muốn chờ đợi thủy quân tới phối hợp. Nhưng đợi mãi chẳng thấy bóng thủy quân Tống đâu, kể từ khi quân của Quách Quỳ tiến tới được bến Như Nguyệt 18.1.1077, quân Tống đã trải qua cả tháng trời dẫm chân tại chỗ. Quân Tống bấy giờ đã quá xa hậu phương, tải lương đi ngàn dặm, hậu cần dần trở nên thiếu thốn. Vì vậy, Quách Quỳ phải tính kế vượt sông lần thứ hai. Quân Tống điều động phu phen đốn gỗ kết thành những chiếc bè khổng lồ, mỗi chiếc chở được đến hơn 500 quân cùng đầy đủ vũ khí trang bị. Chuẩn bị xong, quân Tống ồ ạt vượt sông bằng bè. Các toán quân Tống đổ bộ lên bờ lập tức dùng hỏa khí đốt phá chông tre và chiến lũy phía Đại Việt, và dùng gươm đao chặt phá chiến lũy. Tuy nhiên những trò này chẳng ăn thua gì, quân Đại Việt bình tĩnh dựa vào chiến lũy mà phòng thủ vô cùng hiệu quả. Quân Tống sang bè nào thì bị giết sạch bè nấy, cứ thế lớp này đến lớp khác, thiệt hại đến gần vạn quân. Quách Quỳ đành phải ngậm ngùi hạ lệnh thu quân. Cuộc vượt sông lần thứ hai của quân Tống thất bại hoàn toàn.

Hai bên ghìm nhau ở đôi bờ sông. Đêm đêm, Lý Thường Kiệt ngầm sai người vào đền Trương Hống, Trương Hát ngâm vang bài thơ :

Giọng thơ đọc ngân vang rùng rợn như tiếng quỷ thần, khích lệ sĩ khí quân Đại Việt lên cao tột độ, và làm cho quân Tống nghi ngoặc hoang mang. Đó là đòn tâm lý chiến mà Lý Thường Kiệt đã dùng để vừa nâng cao tinh thần quân ta, vừa uy hiếp tinh thần quân địch.

Quách Quỳ sau hai lần vượt sông thất bại, đành thôi không tổ chức vượt sông nữa. Quân Tống sai quân đốn gỗ, làm máy bắn đá bắn phá các chiến lũy và thuyền chiến Đại Việt đậu ở bờ nam. Quân Đại Việt cũng có máy bắn đá nhưng không bắn xa được tới bờ bắc. Tuy nhiên, việc dùng máy bắn đá bắn phá của quân Tống cũng không gây thiệt hại đáng kể cho quân Đại Việt do mật độ quá thưa thớt. Quách Quỳ hạ lệnh “ai bàn đánh sẽ chém”. Lý Thường Kiệt nhiều bận khiêu chiến nhưng quân Tống cũng không sang đánh. Thủy quân Đại Việt thi thoảng xuôi dòng sông đánh phá rồi lại rút đi. Có lúc thấy thủy quân Đại Việt từ Vạn Xuân xuôi dòng tiến tới, quân Tống lại tưởng là thủy quân phe mình. Đến khi lại gần chúng mới nhận ra là quân ta đến đánh. Thủy quân Đại Việt vừa tấn công vừa ra sức quát tháo mắng chửi để chọc tức, khích quân Tống sang sông.

Quân Tống chia quân giữ kỹ bờ, đặt máy bắn đá phòng thủ, thủy quân ta không làm gì được nhiều. Chiến sự Như Nguyệt cứ thế kéo dài chậm chạp, thủy quân mà Quách Quỳ trông ngóng mãi vẫn không thấy tới. Quân Tống không biết rằng cánh thủy quân của Dương Tùng Tiên đã hoàn toàn thất thế và vô vọng trước thủy quân của Lý Kế Nguyên. Càng ở lâu, điểm yếu về hậu cần và không hợp thủy thổ của quân Tống càng hiện ra rõ nét. Vùng bắc ngạn sông Cầu thời bấy giờ là vùng thưa thớt, quân Tống không thể cướp phá được lương thực mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự vận chuyển của phu dịch. Dân phu ngoài việc vận chuyển lương thực cho quân lính thì lại phải mang theo số lương thực để nuôi sống chính bản thân mình. Vì vậy mà việc vận lương trở nên vô cùng khó khăn cho quân Tống.

Theo tính toán ban đầu khi chuẩn bị xâm lược, người Tống tính ra phải có 40 vạn dân phu. Tuy nhiên cố gắng lắm Tống chỉ điều động được 20 vạn phu. Nay số phu này phải gồng mình làm việc, bị chết dần do kiệt sức. Hễ có dân phu chết, thì số sống còn lại phải làm luôn việc của người đã chết nhằm đảm bảo hậu cần cho đại quân Tống. Trong hoàn cảnh đó, các đội quân của phò mã Thân Cảnh Phúc vốn chưa bị đánh tan lại hoạt động mạnh ở vùng hậu tuyến giặc, khoét sâu vào điểm yếu của chúng. Quân Tống đóng lâu ngày ở Như Nguyệt, sức chiến đấu cứ yếu dần.

Từ khi Quách Quỳ đem quân Tống vượt biên ải, chỉ trong vòng 10 ngày đã tiến đến bờ bắc sông Phú Lương. Vua Tống Thần Tông ban đầu nghe tin báo về trong bụng lấy làm vui mừng, đích thân lấy bản đồ mà chỉ dẫn cho các quan lại Tống triều biết về đường tiến của quân Tống. Thế nhưng niềm vui của vua Tống là quá sớm và cũng nhanh chóng bị dập tắt. Kể từ khi quân Tống bị chặn lại ở bến Như Nguyệt, ngày này qua ngày khác tin tức báo về triều Tống là quân của Quách Quỳ vẫn chôn chân tại chỗ, tiến công đều bị thất bại và chịu tổn thất. Vua Tống rất nóng lòng, sai phát thẻ bài đặc biệt cho lính đưa thư để đi qua các dịch trạm không phải dừng, hàng ngày báo quân tin liên tục về triều đình.

Quách Quỳ biết rằng thế phòng thủ ở bờ nam Như Nguyệt rất vững chắc nên sau hai lần vượt sông thất bại, y nhất quyết án binh bất động. Quách Quỳ bàn với các thuộc hạ giả cách lơ là, nhử quân Đại Việt sang đánh. Nhưng kế này đã bị Lý Thường Kiệt biết thừa. Vì thế, thay vì tung quân đánh lớn, quân Đại Việt chỉ cho thủy quân xuôi dòng sông Phú Lương đánh nhử và quấy rối quân Tống. Lúc này thì quân Tống lại phải căng sức ra để tuần ra dọc sông, đặt máy bắn đá bắn các thuyền chiến Đại Việt và bắn sang bờ nam. Quân Đại Việt thấy vậy cũng án binh bất động, giữ kỹ chiến tuyến. Chiến cuộc cứ thế kéo dài gần hai tháng trời. Lúc này thì quân Tống không cần phải giả yếu, mà đã yếu thật. Tình trạng thiếu lương thực, thuốc men, không hợp thủy thổ đã làm suy sút tinh thần và và sức chiến đấu của quân Tống rất nhiều. Nắm được thời cơ đó nên vào cuối tháng 2.1077, Lý Thường Kiệt quyết định chủ động tấn công.

Bản đồ trận địa trong cuộc chiến sông Như Nguyệt
Bản đồ trận địa trong cuộc chiến sông Như Nguyệt

Mở màn cuộc tấn công, 400 chiến thuyền chở 2 vạn thủy quân Đại Việt dưới trướng của Hoằng Chân, Chiêu Văn từ căn cứ Vạn Xuân được lệnh xuất kích, tấn công quân Tống từ hướng đông. Đại doanh quân Tống lúc này có khoảng hơn 5 vạn quân. Cuộc tấn công của thủy quân Vạn Xuân là đòn nghi binh, theo kế dương đông kích tây mà Lý Thường Kiệt vạch ra. Tuy vậy cuộc tấn công này không chỉ là đòn hư, mà là một đòn tấn công thực sự mạnh mẽ. Thủy quân Đại Việt đổ bộ lên chân núi Nham Biền, đẩy lui 5.000 kỵ binh địch đóng tại đây.

Sau khi chiếm được núi Nham Biền, quân đổ bộ Đại Việt từ trên núi đánh xuống thật mạnh vào đại doanh của Quách Quỳ. Lớp lớp quân đổ bộ Đại Việt đánh tràn vào khu trung tâm căn cứ của Quách Quỳ, chọc thủng mấy hàng phòng thủ ngoại vi. Quách Quỳ đều toàn bộ các tướng kỵ binh còn lại tung vào trận. Kỵ binh Tống mang sang nước ta chừng 1 vạn, thì nay còn lại 7.000 quân kỵ đều tham chiến. Những tướng giỏi nhất của Tống là Yên Đạt, Tu Kỷ, Nhâm Khởi, Thế Cự, Vương Mãn, Lý Trường, Điền Chưng… đều ra sức chiến đấu.

Một trận giao tranh đẫm máu diễn ra, hai bên đều thương vong lớn. Một phần quân Tống từ hướng bản doanh của tướng Triệu Tiết và quân các cụm trung gian nằm giữa hai khối quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết cũng được điều động sang tiếp viện. Trước sức mạnh của kỵ binh Tống, thủy quân Đại Việt vốn có khả năng đánh bộ yếu hơn, dần yếu thế. Nhận thấy cuộc tấn công đã gây nhiều thiệt hại và xáo trộn cho địch, hoàn thành nhiệm vụ nghi binh và tiêu hao, thủy quân Đại Việt rút lui. Quân Tống dùng máy bắn đá bắn với theo thuyền, làm cho quân ta thiệt hại rất nhiều. Hàng ngàn quân Đại Việt tử trận trong cuộc tấn công này, trong đó có cả hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn. Hoằng Chân, Chiêu Văn xuất hiện trong sử sách luôn luôn sóng đôi với nhau.

Hai vị này đều là con trai của vua Lý Thái Tông, em trai của vua Lý Thánh Tông và là chú ruột của vua Lý Nhân Tông thời bấy giờ. Hai ông dù địa vị hoàng thất mà không ngại xông pha đầu trận tuyến, xả thân vì đại cuộc, đến đây thì tử trận. Đội thân binh 500 người dưới trướng Hoằng Chân cảm khái trước sự hy sinh của chủ tướng, thà chết không chịu rời thuyền, chiến đấu đến cùng. Mặc cho thuyền bị quân Tống bắn chìm, tay cầm kim bài mà chết theo chủ tướng. Thủy quân đổ bộ Đại Việt còn lại hơn 1 vạn, giong thuyền rút lui an toàn.

Đòn tấn công của thủy quân Đại Việt tuy rất mạnh nhưng chỉ là đòn nghi binh. Trong lúc bố trí lực lượng của quân Tống bị xáo trộn do cuộc tấn công của thủy quân, lợi dụng trời tối Lý Thường Kiệt tung quân đánh đòn quyết định. Toàn bộ 4 vạn quân còn lại ở phòng tuyến Như Nguyệt do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy chớp thời cơ đang đêm dùng thuyền vượt sông đánh thẳng vào doanh trại của tướng Triệu Tiết. Lực lượng tại doanh trại của Triệu Tiết lúc này còn khoảng trên 3 vạn quân nhưng sức chiến đấu đã suy giảm nhiều. Quân trong doanh Triệu Tiết đã yếu, quân ở các cụm trung gian gần đó lại đã điều sang tiếp viện cho đại doanh của Quách Quỳ nên gần như cụm quân của Triệu Tiết bị cô lập.

Quân Đại Việt hừng hực khí thế, thình lình tiến công khiến cho quân tướng trong doanh của Triệu Tiết vô cùng bất ngờ, trở tay không kịp. Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt nhanh chóng làm chủ hoàn toàn trận địa, thả sức chém giết quân Tống. Hầu như toàn bộ quân trong doanh trại của Triệu Tiết bị tiêu diệt. Tiết cùng một số ít tàn quân chạy thục mạng về đại doanh của Quách Quỳ. Toàn cục trận chiến kép, quân Tống ở cả doanh trại Triệu Tiết và đại doanh của Quách Quỳ tổng số chết đến gần 5 vạn quân. Cộng với quân số đã hao hụt từ trước đó, Quách Quỳ còn trong tay không tới 4 vạn quân mà một số lớn là mệt mỏi ốm yếu. Về phía quân Đại Việt, trải qua giao chiến quân số ở toàn chiến tuyến Như Nguyệt vẫn còn hơn 5 vạn quân, lại hoàn toàn khỏe mạnh nhờ hậu cần đầy đủ.

Quân Đại Việt chiếm lĩnh doanh trại của Triệu Tiết, đối trận ngay tại bờ bắc Như Nguyệt với khối quân mệt mỏi của Quách Quỳ. Dưới sông thủy quân Đại Việt vẫn còn một lực lượng đáng kể dù cho mất đi hai vị hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn cùng hàng ngàn quân trong đợt tấn công vào đại doanh Quách Quỳ. Thế và lực hoàn toàn thuận lợi cho quân ta.

Lúc này, quân Đại Việt hoàn toàn có thể thừa thắng dứt điểm luôn số quân tướng còn lại của quân Tống. Nhưng rõ ràng là bấy giờ Đại Việt không chỉ phải đối phó với một kẻ thù. Từ phương nam, đầu năm 1077 liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp do đích thân vua Harivarman IV của nước Chiêm Thành trực tiếp chỉ huy cũng đã bắt đầu tấn công Đại Việt. Hiện tại, sử liệu về mặt trận phía nam quá khiêm tốn để có thể miêu tả chi tiết. Nước Chiêm Thành, Chân Lạp thời này do những hạn chế về hệ thống nhà nước, hậu cần tương đối kém so với nước Tống nên thường khó mà huy động những lực lượng viễn chinh lớn.

Quân số của liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp cộng lại ước chừng dao động từ 1 – 2 vạn quân, trong đó có 7.000 thủy quân Chiêm Thành. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp đã tiến chiếm được các châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Binh lực Đại Việt ở đây khá mỏng nên chỉ trong thời gian ngắn đã không giữ nổi. Quân của hai nước Chiêm Thành – Chân Lạp tràn vào Nghệ An, Diễn Châu. Chiến sự tại những nơi này đã diễn ra khá gay gắt, tin tức chiến trường từ phía nam liên tục báo về triều đình nhà Lý. Quân Đại Việt tại vùng Diễn Châu, Nghệ An gồm có lộ quân (quân địa phương tại các châu, phủ) làm nòng cốt, dân quân (dân trong làng, xã sung quân), cùng với hàng ngàn tù binh Tống bị bắt trong chiến dịch phạt Tống 1076 bị ép sung quân.

Hiển nhiên với lực lượng như thế thì phía Đại Việt chỉ có thể giữ thế phòng thủ để kéo dài thời gian. Tại Chân Lạp, vua Harshavarman III lại chuẩn bị một đạo quân thứ hai gởi sang Chiêm Thành, dự tính sẽ theo đường biển tiếp viện cho liên quân đang tấn công Đại Việt. Chiến sự phía nam đòi hỏi Lý Thường Kiệt phải có một giải pháp vừa nhanh gọn với quân Tống, vừa phải bảo toàn được quân lực để bảo vệ đất nước.

Bấy giờ tuy quân Tống đã khốn quẫn, nhưng nếu bị tấn công rất có thể sẽ tử chiến đến cùng trong thế không còn đường lui. Như vậy sẽ khó tránh đổ máu lớn cho quân Đại Việt để giành phần thắng trọn vẹn. Lý Thường Kiệt hiểu rằng, Đại Việt so với Tống thời bấy giờ là một nước nhỏ hơn hàng chục lần, nếu chiến tranh liên miên ắt khó tránh được nhiều tang thương. Thêm nữa, mối đe dọa của Đại Việt không chỉ có một mình nước Tống. Chiêm Thành, Chân Lạp quốc lực cũng không đến nỗi quá thua kém Đại Việt, có thể thừa cơ đánh úp bất cứ lúc nào. Trước tình hình trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho sứ giả sang trại của quân Tống để “xin hòa”.

Xem thêm : Đại chiến Xương Giang, trận huyết chiến quyết định đẩy lùi quân xâm lược

Đánh không được, giữ không xong, quân Tống phải nghị hòa

Sau khi đánh tan tác cụm quân của Triệu Tiết, diệt đến gần sáu phần mười tổng số quân giặc, Lý Thường Kiệt chủ động bàn hòa, mở một lối thoát cho quân Tống, cũng là một lối thoát cho hòa bình để đỡ tốn xương máu của cả hai bên. Bước đi hòa hoãn của Lý Thường Kiệt đã được tính toán rất kỹ. Lý Thường Kiệt bàn với các tướng sĩ: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng sĩ, đỡ tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Sứ giả mang thư của triều đình nhà Lý gởi cho Quách Quỳ. Thư viết rằng: “… Xin hạ chiếu rút đại quân về, sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và triều cống …”. Rõ ràng bao nhiêu tâm huyết mà nước Tống đổ vào cuộc xâm lược đâu chỉ để đổi lấy việc cầu hòa suông như thế. Nhưng nay tình thế quá bi đát, việc cầu hòa của Đại Việt như chiếc phao cho Quách Quỳ bám víu, tránh khỏi thảm cảnh toàn quân bị diệt. Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa, bàn với các tướng: “Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức để báo mệnh triều đình. Đó là ý trời ! Thôi ta đành liều một thân ta chịu tội với triều đình, để mong cứu hơn mười vạn nhân mạng”. (10 vạn nhân mạng mà Quỳ nói là tính cả quân và phu của Tống cho đến thời điểm này).

Triều đình Đại Việt mang biểu của vua Lý Nhân Tông giao cho Quách Quỳ để chuyển tới vua Tống. Quân hai nước định ngày để cho Tống rút quân. Thế nhưng Quách Quỳ sợ quân ta bội ước mà đánh nên đang đêm đốc thúc quân sĩ lui gấp, hàng ngũ rối loạn giày xéo lẫn nhau mà chạy. Tướng Tống là Đào Bật cùng đội thân binh nhận nhiệm vụ rút sau chặn hậu. Quân Đại Việt không truy kích, chỉ theo sau đường quân Tống rút mà chiếm lại đất đai. Quân Tống rút lui nhưng không về hẳn nước Tống mà lại đóng quân chiếm lấy các châu Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang nằm gần biên giới toan chiếm cứ. Lý Thường Kiệt xua quân tiến chiếm lại các châu Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang. Quân Tống rút về tập trung ở Quảng Nguyên. Triều đình Đại Việt chủ trương dùng biện pháp ngoại giao để điều đình đòi lại vùng Quảng Nguyên. Từ đây chiến tranh Tống – Việt đã kết thúc, nhưng cuộc đấu tranh ngoại giao đòi đất bắt đầu.

Sau khi đánh lui được quân Tống, Đại Việt đã giải tỏa được thế lưỡng đầu thọ địch. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp thiếu đi sự phối hợp của quân Tống như rắn mất đầu. Ưu thế nghiêng hẳn về phía Đại Việt. Chính thế vậy mà ngay sau khi biết tin quân Tống rút lui, vua Harivarman IV cũng lui quân. Quân Chiêm Thành rút lui nhưng vẫn lưu lại chiếm giữ ba châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Vào khoảng cuối năm 1077 đến năm 1079, quân Đại Việt quay mũi giáo về phương nam để “hỏi tội” nước Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt chính là người chỉ huy cuộc chinh phạt này. Quân Đại Việt chẳng những thu hồi lại nhanh chóng các vùng lãnh thổ mà Chiêm Thành thừa cơ chiếm đóng mà còn tiến chiếm kinh đô Vijaya. Vua Harivarman IV phải rút quân về vùng cao nguyên phía Tây để bảo toàn lực lượng và gởi thư cầu hòa. Lý Thường Kiệt nhân đó chấp nhận hòa đàm và rút lui. Bấy giờ, một cánh quân Khmer (Chân Lạp) gởi sang Chiêm Thành để tiếp viện cho quân Chiêm chống lại quân Đại Việt do hoàng thân Khmer Sri Nandanavarmadeva chỉ huy vẫn đang đóng quân tại địa khu Panduranga của Chiêm Thành. Nhận được tin Chiêm – Việt nghị hòa, Sri Nandanavarmadeva tức giận cho rằng vua Chiêm Thành đã phản bội đồng minh, bèn tung quân chiếm luôn Panduranga, chính thức trở mặt gây chiến với Chiêm Thành.

Như vậy là, sau khi thất bại trong việc liên minh sâu xé Đại Việt thì hai nước này quay sang đánh lẫn nhau. Một lần nữa, Lý Thường Kiệt lại phải đem quân vào Chiêm Thành nhưng khác với những lần trước, ông đem quân giúp đỡ nước Chiêm Thành chống lại quân Khmer theo lời thỉnh cầu của vua Harivarman IV. Có được sự giúp đỡ của Đại Việt, quân Chiêm Thành nhanh chóng đẩy lùi được quân Khmer khỏi bờ cõi, truy kích tận sang đất Khmer. Vua Harivarman IV tấn công kinh thành Angkor, giết chết vua Khmer Harshavarman III, đẩy Khmer vào thời kỳ loạn lạc. Từ đây, quan hệ Đại Việt – Chiêm Thành trở lại hòa thuận.

Về phía nước Tống, sau khi Quách Quỳ rút quân và gởi biểu “xin hàng” của vua Lý về triều đình (3.1077 ), vua Tống rất tức tối, ý muốn đánh liều dốc thêm quân lính tiếp viện để Quách Quỳ quay lại đánh tiếp, nhưng phân vân vì quốc lực đã hao tổn quá nhiều. Quần thần Tống triều biết vậy, hết sức dùng lời can gián vua Tống. Tể tướng đương nhiệm của Tống bấy giờ là Ngô Sung bấy giờ thay mặt quần thần dâng biểu “mừng công” lên vua Tống. Trong đó có ý chúc mừng vua Tống đã “dẹp yên An Nam, lấy được Quảng Nguyên”. Tống Thần Tông nhận thấy rằng tuy Tống chịu tổn thất nhưng phía Đại Việt đã biết giữ thể diện cho Tống, dâng biểu cầu hòa, bèn hạ lệnh bãi binh, chấp nhận nghị hòa.

Quân Tống đi mười phần thì về chưa được ba phần. Khi kiểm binh, trong số 10 vạn lính chiến đấu đã ra đi chỉ còn 23.400 lính trở về, ngựa chiến thì còn lại 3.174 con. Số dân phu 20 vạn trở về không được một nửa. Phí tổn chiến tranh được người Tống tính ra là 5.190.000 lạng vàng, một con số khủng khiếp. Mọi mục tiêu chiến lược của Tống đề ra trước chiến tranh như sung công của cải, biến Đại Việt thành quận huyện đều không thực hiện được. Nước Tống đã gần như cố gắng ở mức cao nhất để đổ dồn vào cuộc xâm lược Đại Việt nhưng vẫn thất bại. Vì vậy, không còn cách nào khả dĩ hơn là hòa đàm với Đại Việt. Vào khoảng tháng 3.1077, vua Tống gởi thư cho Đại Việt chấp nhận nghị hòa, yêu cầu Đại Việt phải trở lại triều cống và trao trả tù binh. Chiến tranh giữa hai nước chính thức kết thúc trên danh nghĩa.

Đại Việt giao phong với Tống cũng chịu tổn thất nhiều, thiệt hại cũng đến hàng vạn người. Những vùng khê động mà quân Tống đi qua đều xơ xác bởi sự giết chóc và vơ vét của quân giặc. Các thế lực trung thành với triều đình nhà Lý trước đây như họ Thân ở Động Giáp, họ Lưu ở Quảng Nguyên đều chịu tổn thất nặng nề. Tuy đã kết thúc chiến tranh nhưng đất đai Đại Việt bị nước Tống chiếm đóng một phần. Vậy nên chiến thắng của Đại Việt vẫn chưa trọn vẹn. Lý Thường Kiệt trong năm 1077 vẫn đóng quân ở biên giới, chiếm lại các vùng đất đã mất. Lần lượt các châu động trở về với Đại Việt bằng con đường vũ lực. Duy chỉ còn châu Quảng Nguyên là khó có thể dùng quân đánh chiếm bới quân Tống dồn về đây dựng lên những cứ điểm kiên cố. Lý Thường Kiệt đóng quân uy hiếp quân Tống ở châu Quảng Nguyên. Cùng với đó là chính sách đòi đất bằng ngoại giao của triều đình Đại Việt.

Đối với việc ngoại giao với nước Tống, triều đình ta luôn tỏ vẻ khiêm nhường, chấp nhận coi Tống là một nước lớn, mình là nước nhỏ. Nhưng thái độ với đất đai lãnh thổ, nước ta lại rất cương quyết. Mùa xuân năm 1078, sứ bộ Đại Việt do sứ thần Đào Tông Nguyên sang Tống điều đình đòi lại Quảng Nguyên và những tù binh bị Tống bắt. Đại Việt tặng Tống 5 con voi thuần, hứa trả lại các tù binh Tống đã bị bắt trong chiến tranh. Châu Quảng Nguyên trong mắt người Tống là một món lợi bởi ở đây bấy giờ có mỏ vàng. Tuy nhiên sau một thời gian chiếm đóng, nước Tống đã nhận ra việc chiếm giữ vùng này lại hại nhiều hơn lợi. Bởi vì đóng ít quân thì tất quân ta sẽ dễ dàng chiếm lại như các châu Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang mà đóng nhiều quân thì phí tổn lại cao. Châu Quảng Nguyên đối với dân khê động Đại Việt là đất lành, nhưng đối với dân Tống thì lại là đất dữ. Quân Tống đóng giữ tại đây không quen thổ nhưỡng, chết lần chết mòn, hết lớp này đến lớp khác thay thế.

Quân Tống hễ ai có lệnh gọi đi thú ở Quảng Nguyên thì từ biệt vợ con như là đi chết, lính Quảng Nguyên đào ngũ rất nhiều. Tống triều đã chán ngán đất Quảng Nguyên nhưng vẫn không thể vô cớ trả đất, vì sẽ mất thể diện thêm. Nay nhân việc Đại Việt cử sứ giả sang, vua Tống nhanh chóng nhận lời trả đất. Vua Tống nói với những quan lại còn luyến tiếc: “Vì Càn Đức đã phạm thuận, ta mới sai quân đi hỏi tội. Quách Quì đã không đánh lấy được kinh đô nó. Mà nay, Thuận Châu (tên mà Tống đặt cho Quảng Nguyên sau khi chiếm đóng) là đất lam chướng. Triều đình được đất ấy cũng chưa có lợi. Lẽ nào lại còn tự mình xua thú binh vào nơi nước độc. Một người bị chết, Trẫm còn thương xót huống chi mười người chết mất năm sáu”. Những người Tống không hiểu chuyện, vì tiếc nguồn lợi mỏ vàng ở Quảng Nguyên mà đi làm thơ mỉa mai triều đình Tống :

“Vì tham voi Giao Chỉ

Bỏ mất vàng Quảng Nguyên”.

Tác giả Quốc Huy. Bài do Việt Sử Giai Thoại tổng hợp từ Series bài viết từ website Motthegioi.vn