Tướng Đinh Liệt – công thần khai quốc trải qua 4 đời vua nhà Lê

Danh Tướng Việt Nam

Danh tướng Đinh Liệt, công thần khai quốc nhà Lê thế kỷ XV. Trải qua 4 đời vua, ông không chỉ là một danh tướng cầm quân giỏi, còn là một danh thần có công lớn trong công cuộc xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông.

1 trong 19 người tham dự Hội thề Lũng Nhai

Danh tướng Đinh Liệt sinh năm Canh Thìn (1400) dưới triều Hồ Quý Ly; là người Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, là em ruột của danh tướng Đinh Lễ, cháu gọi vua Lê Thái Tổ bằng cậu.

Theo Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình thì Đinh Liệt là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn – con trai của vua Đinh Tiên Hoàng.

Thời thơ ấu, ông được cha gọi là Hồng Mai, rất giỏi về kinh luân thao lược và sớm có tinh thần yêu nước; thời trẻ, là một  thanh niên khôi ngô, tuấn tú, thông minh, gan dạ, sớm bộc lộ tư chất của người có chí khí lớnthường đi theo làm cận vệ cho Lê Lợi.

Theo sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn, khi Lê Lợi dựng cờ cứu nước, Đinh Liệt cùng với Đinh Lễ và Đinh Bồ, tích cực hưởng ứng.

Ông là một trong số 19 người tham dự Hội thề Lũng Nhai tháng 2/1416 nổi tiếng và là một trong số rất ít những người dự hội thề này có may mắn được chứng kiến ngày đại thắng và sau đó được chứng kiến ngày non nước thịnh trị, thái bình suốt nửa chặng đầu của thời Lê sơ.

Xếp hạng cao nhất trong các khai quốc công thần

Năm 1424, quân Lam Sơn chiếm được thành Trà Lân và cuối năm đó bắt đầu tấn công vào Nghệ An bằng nhiều trận chiến, nhưng sống mái nhất là trận Khả Lưu.

Nghĩa quân chiếm được châu Trà Lân, chuẩn bị vây đánh thành Nghệ An thì bị quân Minh bất ngờ kéo đến phản công. Lê Lợi sai Đinh Lễ dẫn quân mai phục trước ở vùng đất hiểm tại Khả Lưu.

Tướng Đinh Liệt được lệnh đem hơn một ngàn quân, bí mật luồn xuống phía Đỗ Gia (Hương Sơn, Hà Tĩnh) để từ đó vòng lên đánh tập hậu, hỗ trợ cho Đinh Lễ.

Quả nhiên, giặc bị sa vào ổ mai phục của Đinh Lễ, chưa biết xoay xở thế nào thì bị quân của Đinh Liệt bồi cho cú đánh ồ ạt từ phía sau phải đại bại.

Sau đó, Tướng Đinh Liệt còn lập công đánh chiếm Tùng Lĩnh, Linh Cảm, giải phóng châu Trà Lân, Ngọc Ma và có ý kiến tâu với Lê Lợi chuyển đại bản doanh sang vùng núi Thiên Nhẫn.

Cuối năm 1427, Liễu Thăng cầm đầu viện binh gồm 10 vạn tên sang nước ta, Bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định đánh trận quyết chiến với giặc tại Chi Lăng và Xương Giang. Đinh Liệt và Lê Sát đem quân lên sát biên giới vùng Lạng Sơn trực tiếp đánh những trận đầu tiên với đạo viện binh này.

Đội quân do tướng Đinh Liệt chỉ huy đã có công lớn trong trận tập kích tại Mã Yên, chém chết Liễu Thăng. Thắng lợi vang dội của trận tập kích đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ Lam Sơn, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn cho những trận đánh quan trọng sau đó…

Ròng rã 10 năm theo nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến, Đinh Liệt tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Bình Định vương Lê Lợi, gian nan không ngại trí, thất bại chẳng sờn lòng, càng chiến đấu, tài năng quân sự của ông càng nảy nở.

Bởi những công lao nói trên, ngay sau khi lên ngôi hoàng đế (1428), vua Lê Thái Tổ ban cho Đinh Liệt chức Thứ thủ (Phó chỉ huy) của vệ quân Thiết Đột, được xếp vào hạng cao nhất trong số các Khai quốc công thần từng có mặt từ Hội thề Lũng Nhai.

Năm sau, khi khắc biển công thần, ông được phong Đình Thượng hầu. Năm 1432, ông được gia hàm Nhập nội Tư mã, được tham dự triều chính.

Đức vọng cao chót vót, đó là nhận xét của nhà sử học Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí về Đinh Liệt, công thần khai quốc nhà Lê.

Anh em Đinh Lễ - danh tướng Đinh Liệt
Anh em danh tướng Đinh Lễ và danh tướng Đinh Liệt

Cả nhà bị giam dưới hầm

Tháng 5/1434 đời Lê Thái Tông có quân Chiêm Thành vào cướp phá, ông được lệnh đem quân vào đánh, nhưng chỉ mới đến Hóa Châu (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế), vua Chiêm đã vội rút quân về.

Tháng 11/1441, vua Lê Thái Tông lập hoàng tử Bang Cơ làm Hoàng Thái tử, sai Lê Liệt, lúc ấy là Nhập nội Đô đốc mang sắc mệnh lập làm Hoàng thái tử.

Tháng 8/1442, vua Lê Thái Tông băng ở Lệ Chi Viên, ngày 12, đại thần Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trịnh Khả nhận di mệnh cùng với Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi. Lúc ấy, vua mới 2 tuổi. Lấy năm sau làm Thái Hòa năm thứ 1.

Năm 1444 đời Lê Nhân Tông, vua còn nhỏ, có người vu cáo, Thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm.

Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, tháng 6/1448 ông mới được tha, nhưng vợ con vẫn bị giam, đến tháng 3/1450 gia đình ông mới được thả hết. Năm 1454, ông được phục chức, được ban hàm Thái Bảo.

Ngày 3/10/1459, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang, chia quân ba đường, trèo thành cửa đông, lẻn vào cung cấm. Vua Lê Nhân Tông và Tuyên Từ hoàng hậu bị hại. Ngày mồng 7/10 năm đó Lê Nghi Dân tự lập, lên ngôi hoàng đế.

Ngày mồng 6/6/1460, tướng Đinh Liệt lúc ấy giữ chức Khai phủ nghi đồng tam ty Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu, cùng với Nguyễn Xí, Lê Lăng, Lê Niệm, Lê Nhân Thuận, Lê Nhân Khoái, Trịnh Văn Sái, Trịnh Đạc, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Yên, Lê Vĩnh Trường,  Lê Yên, Lê Giải cùng bàn nhau lật đổ Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân.

Sau buổi chầu, Nguyễn Xí, tướng Đinh Liệt cầm quân giết Phạm Đồn, Phan Ban, giáng Nghi Dân làm Lệ Đức Hầu, rước hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.

Tháng 10, vua Lê Thánh Tông phong ông làm Lân Quận Công; tháng 12, ông cùng Lê Lăng đi đánh tù trưởng họ Cầm làm loạn, được thăng lên chức thái sư phụ chính.

Danh tướng Đinh Liệt - công thần khai quốc trải qua 4 đời vua nhà Lê
Danh tướng Đinh Liệt – công thần khai quốc trải qua 4 đời vua nhà Lê

Lão tướng Đinh Liệt vẫn ra trận

Năm 1465, khi Nguyễn Xí qua đời, ông là Tể tướng, nắm quyền quyết định nhiều việc lớn của nước nhà.

Cuối năm 1470 Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông là lão tướng, được sung chức Chinh Lỗ Tướng quân, cùng tướng Lê Niệm (cháu nội của Lê Lai) dẫn đội quân tiên phong. Trận ấy quân ta đại thắng, vua Chiêm Thành là Trà Toàn bị bắt.

Năm 1471, khi về đến nơi thì ông lâm bệnh mà mất, được truy phong là Trung Mục vương.

Bài chế của vua Lê Thánh Tông khi ban chức Khai phủ nghi đồng tam ty Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu viết: “Xét Lê Liệt đây, sớm đem tình ruột thịt ra ứng hội phong vân. Tiếng kèn, tiếng sáo, xướng họa, khó biết anh em ai hơn, ai kém. Kế ở miếu đường, mưu ở biên cương; vừa tướng văn, vừa tướng võ.

Khi tiến khi lui cùng nước, cùng vui cùng lo. Lúc nguy hiểm, lúc bình thường vẫn trọn một tiết. Chịu cố mệnh hai triều, người nhiều công giúp đỡ. Xứng đáng làm bầy tôi xã tắc; lại được ký thác cho việc cầm cân để thêm trọng vọng. Công lao và chức vị càng to; nơi nơi xa gần ai đều cũng thấy”

Còn trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú  viết: Ông là người có công to khi mới mở nước, trải thờ bốn triều. Lại là công thần bậc nhất buổi Trung hưng: chức vị và đức vọng cao chót vót. Từ năm Quang Thuận trở đi (1465) làm thủ tướng gần 10 năm, quyết đoán những mối ngờ lớn, quyết định những việc bàn lớn. Vua rất tin cậy, trong triều ngoài nội đều tôn trọng.

Bia cổ ghi công đức Tam Quốc công.

Con cháu nối đời làm quan

Hổ phụ sinh hổ tử, con cháu 7 đời của Đinh Liệt đều có võ tướng cao cấp. Không chỉ là một danh tướng cầm quân giỏi,  Đinh Liệt còn là một danh thần có công lớn trong công cuộc xây dựng đất nước.

Con cháu ông sau tiếp tục nối đời làm quan cho nhà Hậu Lê và thời Lê – Trịnh. Sách Danh tướng Việt Nam, liệt kê con cháu 7 đời của Đinh Liệt đều có những võ tướng cao cấp và kết luận, theo cách nói của người xưa, dòng họ Đinh Liệt đúng là “hổ phụ sinh hổ tử”.

Ông cùng anh là Đinh Lễ được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội; tên của ông cũng được đặt tên cho các con đường ở thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Nha Trang.

Tương truyền, vợ ông là bà Lương Minh Nguyệt, người làng Chuế Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và giỏi nghề ca hát Ả đào. Trong thời gian Lê Lợi kháng Minh, bà đã mở quán rượu nổi tiếng ở gần thành Cổ Lộng (Thăng Long), cốt ý dò la tin giặc, giúp kháng chiến.

Trong một cuộc tấn công thành Cổ Lộng, bà Minh Nguyệt đã cùng các cô gái tiếp viên phục rượu một số tướng Minh say mèm và làm ám hiệu để quân Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Thạch chiếm được thành. Sau, Đinh Liệt được phong tước Quốc công, mang họ nhà vua (họ Lê), và bà là Nhất phẩm phu nhân. Các vua đời sau đều có sắc phong vợ chồng bà là Phúc thần.

Theo tài liệu của GS Trần Gia Phụng, bà Lương Thị Huệ có lẽ là một tên khác của bà Lương Minh Nguyệt (?), hiện có đền thờ tại huyện Thọ Xương và dân chúng còn gọi bà là Ngọc Kiều phu nhân.

Có tài liệu cho rằng, năm Giáp Thân (1464) bằng những chứng cứ chuẩn xác, Đinh Liệt đã chứng minh Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ không giết vua mà bị vu oan rồi bị giết oan… nên Lê Thánh Tông đã xuống chiếu Chiêu tuyết minh oan cho Nguyễn Trãi.

Đinh Liệt được vua Lê Thánh Tông ban tặng 8 chữ vàng: “Tứ đại kỳ công, vĩnh thùy bất hủ”, được vua ban đất Lộc điền ở Đống Cải, Nông Cống (sau này Đống Cải đổi thành Đông Cao).

Khắp nơi lập đền thờ

Lễ hội Đông Cao thực chất là ngày giỗ của Thượng trụ quốc Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt được tổ chức 5 năm một lần. Tấm bia cổ trong đền thờ ghi lai lịch ngôi đền và công trạng của Tam quốc công.

Con trưởng của Đinh Liệt là Đinh Công Nhiếp đem gia nhân khai hoang vùng đất chân núi Nưa thuộc làng Đống Cải; ông làm quan đến Thị Lang bộ binh, tước Văn Thắng hầu, sau từng là Thượng Thư bộ binh, dưới thời Lê Thánh Tông.

Lộc điền của họ Đinh sau nhập với làng Đống Cải đến thời Duy Tân nhà Nguyễn thì đổi tên là làng Đông Cao cho đến ngày nay. Đinh Liệt được thờ làm thành hoàng làng, các nhân vật có nhiều công lao giúp nước của họ Đinh như Đinh Tôn Nhân, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Vĩnh Thái, Đinh Công Đột đều được phối thờ ở Đông Cao.

Bà Đinh Thị Ngọc Ban em gái Đinh Liệt được gọi là bà chúa Ban có công giúp Lê Lợi nên đã có đền thờ riêng ngay tại Đông Cao.

Ở Thái Bình, khu di tích Sáo Thần nơi có Đền thờ Tam quốc công trong 277 vị khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, ba anh em Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt được coi là những vị tướng kiệt xuất nhất của nghĩa quân Lam Sơn, được vua Lê phong tặng là: “Lê triều Lũng nhai Khai quốc Bảo kiến công Thần”.

Đinh Lễ còn được gọi là “Thái Sư Bân Quốc Công”, Đinh Bồ là “Thái Phó Đinh Quốc Công”, Đinh Liệt là “Thái Bảo Kỳ Vũ hầu Đại đô đốc”.

Cả ba ông đều danh tiếng lẫy lừng như vậy thật đúng với câu đối khắc ghi trước cửa Đền là: “ Võ công cái thế lừng thiên hạ – Danh bất hư truyền rạng núi sông”. Trải qua gần 550 năm với bao biến cố và thăng trầm, Đền thờ Tam Quốc Công vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Xem thêm bài hay : Đinh Lễ – một trong hai vị mãnh tướng giỏi nhất của Lam Sơn

TS Nguyễn Thành Hữu