Tướng Nguyễn Cư Trinh: danh nhân xuất tướng võ, nhập tướng văn

Danh Tướng Việt Nam

Tướng Nguyễn Cư Trinh là một danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn, vừa có tài cầm quân đánh dẹp biên thùy, vừa giỏi kinh bang tế thế quản trị miền Nam. Với pháp độ của Nho giáo chính tông và đạo đức cao thượng của một kẻ sĩ quân tử, ông đã lập nền móng cai trị vững chắc, làm cho vùng đất phương Nam buổi đầu vốn trù phú nhưng vô cùng phức tạp sớm được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một cách hưng thịnh và trường tồn…

Đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ rộng lớn, là vựa lúa lớn nhất của cả nước và là mảnh đất cưu mang hàng mấy chục triệu cư dân khắp vùng sinh sống suốt hơn 300 năm qua. Nó là kết quả của công cuộc “Nam tiến” khởi phát từ các chúa Nguyễn. Cuộc chiến đấu mấy thế kỷ lâu dài và mồ hôi nước mắt của ông cha có lẽ đã không viên mãn để đất nước ta có hình dạng lãnh thổ như ngày nay nếu thiếu những đại tướng, chiến lược gia tài giỏi giúp cho việc mở mang bờ cõi đi đến thắng lợi cuối cùng. 

Tuy nhiên cổ nhân có câu: “lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể trị thiên hạ trên lưng ngựa” được, cần có văn hóa giúp giáo hóa dân chúng thì mới có thể mở mang bờ cõi, tổ quốc mới trường tồn. Vì thế mà xét về người có đóng góp quan trọng nhất về mặt chiến lược, giáo hóa và đứng vào hàng khai quốc công thần đối với Nam bộ có lẽ ít ai được như Nghi Biểu Hầu – Nguyễn Cư Trinh. Ông là một danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn, vừa có tài cầm quân đánh dẹp biên thùy, vừa giỏi kinh bang tế thế quản trị miền Nam với pháp độ của Nho giáo chính tông và đạo đức cao thượng của một kẻ sĩ quân tử. Ông đã lập nền móng cai trị vững chắc làm cho vùng đất phức tạp này sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một cách lâu dài bền vững. Cùng với nhiều Nho thần nổi danh sau này như Gia Định Tam Gia, Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản… tất cả đã cùng nhau làm nên một vùng đất mới vừa bừng bừng sức sống vừa tràn đầy truyền thống nhân văn, đây quả là kỳ tích ngàn năm có một vậy.

Hậu duệ danh sĩ Nho gia, nổi danh chính trực

Nguyễn Cư Trinh (chữ Hán: 阮居貞, 1716-1767), tên thật là Nguyễn Đăng Nghi, tự là Cư Trinh, hiệu là Đạm Am, Đường Qua và Hạo Nhiên. Ông là con út của danh sĩ Nguyễn Đăng Đệ – Ký lục tỉnh Quảng Nam dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), nổi tiếng học giỏi từ nhỏ và thanh liêm, công bằng chính trực lúc làm quan.

Cũng như cha, ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, hiếu học. Năm Canh Thìn (1740) Nguyễn Cư Trinh đỗ Hương cống, được bổ làm Tri phủ huyện Triệu Phong ( Quảng Trị), sau đó được thăng chức về làm việc tại triều. Ông chẳng những thanh liêm, chính trực như cha mà còn dám nói thẳng, dám can gián Chúa không hề sợ sệt. Ông cũng là một vị tướng giỏi, vị quan cai trị hiệu quả, chiến lược gia tài năng, phán đoán sự việc chính xác nên thường xuyên được Chúa cho mời hỏi ý kiến về các vấn đề quốc quân trọng đại và phụ trách soạn thảo chiếu chỉ cho Chúa.

Tướng Nguyễn Cư Trinh: danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn
Tướng Nguyễn Cư Trinh: danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn

Thuận theo Mệnh trời mà làm nên nghiệp lớn

Nước Việt tiến về phương Nam để vùng dậy trở thành một quốc gia lớn hơn, một dân tộc lớn hơn là điều đã được trời định. Vậy thì Ông trời cũng sẽ an bài cho những con người tài hoa sinh vào mảnh đất này để biến điều đó thành hiện thực. Nguyễn Cư Trinh là một trong những con người đó, sinh ra với sứ mệnh kinh bang tế thế. Điều này thể hiện ngay từ cái tên tự và húy của ông.

Cái tên của một người thể hiện tài năng và vận mệnh của người đó nên ông cha ngày xưa rất quan trọng việc đặt tên và tự. Trong truyền thống đặt tên của người Việt xưa, tên húy – tên tự – tên hiệu luôn có mối quan hệ qua lại, bổ sung ý nghĩa, tương hỗ cho nhau.

Tên húy là tên đặt lúc sinh ra, là “tên chính thức” trong giấy tờ hành chính để học hành, thi cử, làm quan…Nhưng tên húy lại không phải là tên để dùng gọi khi giao thiệp vì có phong tục kiêng húy. Thuở ấy, đợi lúc nam nhi đủ 20 tuổi Âm lịch, người ta sẽ làm lễ gia quán (加冠) – đội mũ, biểu thị sự trưởng thành và từ đây bắt đầu kiêng húy. Kiêng húy là phong tục cấm gọi tên húy của người đã “đội mũ”. Vì kiêng tên húy nên lúc này phải đặt tên thường dùng, gọi là tên tự.

Tên tự là tên gọi của người con trai trưởng thành sau khi làm lễ “gia quán”, được cha mẹ hoặc trực tiếp, hoặc nhờ người hay chữ chọn lựa chữ nghĩa phù hợp nhất để đặt cho con mình. Việc đặt tên tự vô cùng quan trọng, vì tên tự phải bao hàm nghĩa, hoặc mở rộng nghĩa của tên húy làm cho nó tốt đẹp hơn, đặc biệt nó còn thể hiện ra vận mệnh tương lai của người mang tên đó. Như đã nói, ông tên húy Trinh 貞, có nghĩa là khí tiết trong sạch, liêm khiết, ngay thẳng, khảng khái, chính nghĩa. 

Xem thêm : Về tục Kị húy hay kiêng húy (đôi khi gọi là húy kỵ hoặc tỵ húy)

Chữ Trinh cũng nằm trong lời Thoán từ ở quẻ Thủy địa sư 地水師 của Kinh Dịch như sau: 師: 貞,丈人, 吉.無咎 

Tạm dịch:

Sư: trinh, trượng nhân, cát. Vô cữu.

Thoán truyện giải nghĩa như sau:

Sư, chúng dã. Trinh, chính dã. Năng dĩ chúng chính, khả dĩ vương hĩ. Cương trung nhi ứng, hành hiểm nhi thuận, dĩ thử độc thiên hạ nhi dân tòng chi. Cát. Hựu hà cữu hĩ 

師眾也,貞正也。能以眾正,可以王矣。剛中而 應,行險而順,以此毒天下而民從之。吉。又何咎矣 

Tạm dịch: 

Sư (Quân đội) là sự tập hợp của nhiều người. Là ngay thẳng, chính nghĩa. Lấy chính nghĩa hợp lòng người mới có thể là bậc vương giả mà hưng binh. Giữ đức ngay thẳng chính trực thì muôn người hưởng ứng, đi vào chỗ hiểm nguy cũng thuận lợi, thì có thể làm cho lòng dân của cả thiên hạ theo mình. Tốt đẹp. Có thể lâu dài.

Vậy thì Cư Trinh nghĩa là gì? Hào lục ngũ 六五 trong quẻ Di 頤卦 của Kinh Dịch viết rằng: 

象 曰 .     居 貞 之 吉 . 順 以 從 上 也 . 

Tượng viết: Cư trinh chi cát. Thuận dĩ tòng thượng dã.

Tạm dịch:

Lời tượng nói rằng: Cái tốt của sự ở chính, vì thuận theo trên vậy. Hàm ý là người có thể sống chính trực là nhờ thuận theo đạo trời mà cư xử, xử lý mọi điều.

Chữ Cư Trinh còn ứng với quẻ Truân 屯卦 của Kinh Dịch như sau

初 九: 磐 桓, 利 居 貞, 利 建 侯 .

Sơ cửu: Bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu.

Tạm dịch: 

Hào 1, dương : quanh co, giữ được điều chính thì lợi, gặp tước hầu thì lợi.

Hào này là dương, tượng người có tài, lại đắc chính vì dương ở dương vị, cho nên giữ được tâm cho chính thì có lợi. Nó là hào dương mà lại phải dưới hai hào âm trong nội quái, nghĩa là người quân tử phải thời loạn nên tạm giữ chức vị thấp. Nhưng cũng vì nó là dương, là quân tử nên ngược lại nhờ địa vị thấp, mà lòng luôn thành thực giữ tâm chính trực mà thành cái tượng khiêm hạ, được lòng dân. Do đó người quân tử mới đầu tuy còn quanh co, khó khăn nhưng sau sẽ được tín nhiệm mà giao cho trọng trách giúp đời. Thành công có thể dựng được tước hầu.

Nói tóm lại, tên của Nguyễn Cư Trinh mang theo nội hàm của quẻ Sư và quẻ Truân đã thể hiện ra vận mệnh thiên định của ông: là một bậc đại quan tài năng chính trực phò Chúa làm nên nghiệp lớn, làm cho quân đội quốc gia hưng binh chinh phạt, mở rộng bờ cõi thành công cho bậc vương giả (chúa Nguyễn). Càng về sau càng giữ trọng trách lớn của nhà nước mà trị quốc an dân, phong đến tước hầu. Và trong tên của ông cũng mang theo lời răn của Trời: “muốn đạt được thành tựu lớn về mọi mặt thì cần tu dưỡng đức hạnh, tài năng, sống ngay thẳng chính trực. Nhẫn nại khi ở địa vị thấp, lấy đức đối nhân, sống theo đạo trời thì thời cơ đến mới thành công.” 

Ông được đặt tên tự là Đạm Am 澹庵 (nghĩa là căn nhà tranh lặng lẽ, thanh đạm) cùng với Cư Trinh 居 貞: cư xử đúng theo chính đạo càng làm nổi bật hơn vì chính đạo là đạo Trời, vì đạo Trời thì luôn yên tĩnh, thanh đạm.

Về sau ông lấy tên hiệu là Hạo Nhiên 浩然. Từ này có thể lấy ra từ chữ Hạo Nhiên Chính Khí  浩然正氣 nghĩa là khí chất ngay thẳng rõ ràng, quang minh chính đại, cái khí biểu trưng cho chính nghĩa của trời đất. Tướng quân Văn Thiên Tường đời Tống trong Chính Khí Ca -正氣歌 đã viết:

天地有正氣, 

Thiên địa hữu chánh khí

雜然賦流形

Tạp nhiên phú lưu hình

下則為河嶽, 

Hạ tắc vi hà nhạc,

上則為日星, 

Thượng tắc vi nhật tinh,

於人曰浩然, 

Ư nhân viết hạo nhiên

沛乎塞蒼冥

Bái hồ tắc sương minh

Tạm dịch:

Trời đất có chính khí

Toả ra cho muôn loài

Là sông núi dưới đất

Là trăng sao trên trời

Đầy rẫy cả vũ trụ

Khí hạo nhiên của người

Trong sách Mạnh tử 孟子, thiên Công Tôn Sửu chương cú thượng 公孫丑章句上 chép như sau:

敢問夫子惡乎長.曰:我知言,我善養吾浩然之氣 

Cảm vấn Phu tử ô hô trường? viết: ngã tri ngôn, ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí. 

Tạm dịch:

Công Tôn Sửu hỏi: “Dám hỏi thầy về sự chẳng động tâm của thầy? Thầy có sở trường gì?” Mạnh tử trả lời: Ta hiểu lời ngươi, ta khéo bồi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình. 

Vậy chữ Hạo Nhiên 浩然 có thể hiểu là người mang trong mình Chính khí của trời đất, cũng có thể hiểu là tuân theo mệnh trời. Sống ở đời luôn hành sự theo chính đạo (Cư Trinh 居貞), kiên nhẫn khắc phục khó khăn (quẻ Truân), từng bước mà hưng binh phò vua (quẻ Sư), được lòng dân mà làm nên nghiệp lớn (kiến hầu).

Đánh dẹp phản loạn, vỗ yên dân chúng

Mạnh Tử có câu: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”

Tạm dịch: “Dân là quý, kế đến xã tắc, quân là khinh”.

Theo quan điểm Nho gia chính tông thì bậc trị nước phải luôn lấy dân làm gốc, gốc có vững thì nước mới bền. Vì thế mà quan lại phong kiến ngày xưa, vốn được trao cho trọng trách là “dân chi phụ mẫu” thì càng phải cư xử cho đúng nghĩa vụ của mình, để đem lại sự ấm no an lạc cho dân chúng. Không làm được điều này thì sự học và thành tựu của bản thân coi như chưa đạt.

Trong cuộc đời mình, dù cầm quân hay làm quan cai trị, Nguyễn Cư Trinh đều để lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng dân bản xứ vì tấm lòng thương dân của mình. Ân đức của ông không chỉ ở dân mà còn thấm đến cả giặc cướp phản loạn, làm cho họ yên lòng mà quy phục.

Đại Nam liệt truyện chép như sau:

“Năm Canh Ngọ (1750), mùa xuân, được thăng Tuần phủ Quảng Ngãi. Bấy giờ Quảng Ngãi có Man Thạch Bích thường quấy ngoài biên, quan quân đánh mãi không xong. Trinh đến, viết thư phủ dụ, chúng cũng không ra. Ông bàn tiến đánh, nhiều người cho rằng hiểm trở xa xôi và lam sơn chướng khí ngăn trở. Trinh bèn viết truyện Sãi vãi bằng quốc âm đặt làm lời vấn đáp để khuyên bảo. Rồi tiến quân, giặc Man lẩn trốn, tan tác. Trinh sợ ta đem quân về, chúng lại tụ họp, bèn chiếm đóng chỗ sào huyệt địch lập trại lũy, lập đồn điền, đặt điếm canh, giả vờ làm kế ở lâu. Giặc Man sợ, đến cửa quân xin hàng. Trinh vỗ về, yên ủi, cho chúng về, rồi kéo quân rút lui. Tin thắng trận đến tai chúa, chúa ban khen.”

Một quân tử Nho gia chân chính luôn xem trọng nhân dân, người làm quan chân chính phải thương dân như con. Nguyễn Cư Trinh đã luôn cư xử theo tiêu chuẩn của một bậc dân chi phụ mẫu như thế trong suốt cuộc đời làm quan của mình. Lịch sử còn chép lại việc ông có lần tự tay mình dâng biểu lên Chúa về tình trạng khốn cùng của dân chúng, để xin bãi bỏ một số chính sách bất công làm tổn hại sức dân. Nhưng tiếc là Chúa đã không phản hồi. Vì thế mà ông xin từ chức về quê, nhưng Chúa không chấp nhận mà chuyển làm vị trí khác gần biên giới khá phức tạp. Tuy vậy ông đến nơi nhậm chức vẫn làm tốt nhiệm vụ, lo tăng cường phòng thủ càng nghiêm ngặt hơn.

Chúa chuyển Nguyễn Cư Trinh làm vị trí khác gần biên giới khá phức tạp. Tuy vậy ông đến nơi nhậm chức vẫn làm tốt nhiệm vụ, lo tăng cường phòng thủ càng nghiêm ngặt hơn.

Đại Nam liệt truyện chép như sau:

“Năm Tân Mùi (1751), mùa đông, Trinh dâng thư trình bày tình trạng đau khổ của dân: “Dân là gốc nước, gốc không bền thì nước chẳng yên. Ngày bình thường không lấy ân kết dân, thì lúc có việc trông cậy nương tựa vào đâu? Tôi trộm lo: Dân gian chất chứa tệ hại đã nhiều nếu cứ để yên nếp thường, giữ lối cũ, không tùy nghi thêm bớt, thiết lập kỷ cương thì một đạo còn không thể làm được nữa là một nước. Nay có ba việc hại dân là cấp lương lính, nuôi voi và nộp tiền án phí. Còn các nhũng lệ khác không thể đếm xiết!” Nhân đó Trinh điều trần bốn điều tệ hại đã lâu:

  1. Các viên phủ huyện có chức vụ cai trị dân gần đây không đôn đốc làm việc ấy, chỉ sai khám xét kiện cáo. Xin từ nay, các thuế lệ như sai dư điền tô, nhất thiết giao cho Tri huyện thu biên, giao lên doanh Quảng Nam để nộp cho đỡ phiền nhiễu.
  2. Các viên phủ huyện từ trước đến giờ thường kiếm lợi ở những việc sai bắt tra xét (những người can phạm) để lấy bổng lộc tiền tài, của dân càng hao, phong tục trong dân càng bạc. Nay xin liệu cấp cho lương thường xuyên, thăng giáng tuỳ theo từng viên chức thanh liêm hay tham ô, siêng năng hay lười biếng.
  3. Lậu đinh có hai loại: có kẻ trốn tránh sưu thuế mà lang thang, có kẻ đói rét thân mà xiêu tán. Nay không chia đẳng hạng, tất cả đều liệt vào sổ đinh, bắt đóng thuế thân, họ tất sợ hãi mà tản mát, lén lút ở núi rừng, dân ở lại phải gánh đậy bồi thường, thì sao chịu nổi! Nay xin xét số lậu đinh, ai còn có nghề làm ăn thì thu thuế như lệ, ai đói rét khốn khó thì cho miễn thuế, tùy cách vỗ về để hạng cùng dân được sống lại.
  4. Nên để cho dân yên tĩnh, không nên làm động, động thì dễ loạn, tĩnh thì dễ trị. Nay bắt dân săn bắn ở núi rừng, kiếm gà, lùng ngựa, không thể tất đức ý (triều đình) quấy rối nhân dân địa phương. Lũ giả mạo đi đến đâu làm náo động đến đó, người đều than oán. Xin từ nay hễ sai người đi làm việc phải có giấy tờ đóng dấu, trình quan địa phương xem xét. Kẻ nào nhiễu dân thì bắt trị tội, may ra lòng dân yên tĩnh, khỏi dao động.

Sớ này dâng lên, chúa không trả lời. Trinh cố từ chức. Chúa bèn triệu về rồi đổi làm Ký lục doanh Bố Chính. Trinh đến trị sở rồi đặt thêm đồn lũy, nghiêm việc phòng thủ. Chúa Trịnh đưa thư xin mượn đường đi Trấn Ninh đánh Lê Duy Mật. Trinh viết thư từ chối. Họ Trịnh đã biết ta phòng bị, bèn thôi.

Binh uy bình Chân Lạp, thu phục dân Côn Man

Miền Nam trù phú không phải là được dựng nên chỉ trong một ngày, mà qua mấy trăm năm khói lửa với sự đóng góp của nhiều dân tộc anh em. Ngoài người Hoa vốn được sự ủng hộ và rất được ưu ái của các chúa Nguyễn, không thể không nhắc đến một nhóm lưu dân mà bản thân họ cũng đã phải chịu nhiều hy sinh đau khổ để trấn giữ vùng đất biên cương trong bước đường mở cõi của Đại Việt. Đó chính là nhóm dân Chăm Pa di cư vào miền Nam sinh sống, còn được gọi là dân Côn Man để phân biệt với những người Chăm Pa vẫn sống ở miền Trung.

Côn Man (Hán Việt: 崑蠻) là một danh từ chỉ nhóm người Chăm Pa cư ngụ tại đất Chân Lạp xưa. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 16, tên Côn Man 崑蠻 được dùng vì: “… nhiều người Chăm thuộc nhóm bộ lạc tù trưởng Thuận Thành đã di cư sang nước Chân Lạp, gọi là Côn Man, với tên khác là Vô Tỳ Man…”. 

Trong tiến trình Nam tiến từ những năm cuối thế kỷ XVII, vương quốc Chăm Pa đã dần biến mất cho đến năm 1697, khi chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Bình Thuận và Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý miền Nam năm 1698 thì vùng đất Chăm còn lại (Phan Rang trở về đông), đã trở thành phiên thuộc của chúa Nguyễn và mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và chúa Chăm là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương.

Trong giai đoạn giao thoa đó, một số lớn người Chăm đã lần lượt di cư sang Chân Lạp vì Chân Lạp gần gũi với họ hơn về phương diện văn hóa và họ không muốn bị cai trị bởi chính quyền chúa Nguyễn. Triều đình Chân Lạp lúc này dưới triều quốc vương Nặc Thu đã sắp xếp cho nhóm di dân mới này định cư tại Lo-vek (phủ La Bích), gần khu vực Biển Hồ ngày nay. Nhưng sau đó, thời triều quốc vương Nặc Nguyên, người Côn Man thường xuyên bị triều đình Chân Lạp hiếp đáp và quấy nhiễu. 

Dù họ di cư vì muốn tìm sự bình an, vì sự tương đồng văn hóa và không muốn sống cùng người Việt, nhưng trớ trêu thay người Chăm trên đất Chân Lạp phải sống một cuộc sống còn lao khổ hơn nhiều và đoàn quân đánh dẹp đem lại cuộc sống mới cho họ lại đến từ triều đình người Việt. Năm 1753, với lý do bảo vệ người Côn Man bị ức hiếp, chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát quyết định chinh phạt Chân Lạp.

Cuộc chinh phạt này bắt đầu từ năm 1753 và kết thúc vào năm 1756 dẫn đến việc thất trận, trốn chạy và dâng hai phủ Tầm Lôi và Lôi Lạp tạ tội với triều Việt của vua Nặc Nguyên.

Đại Nam Liệt Truyện còn chép chiến công này như sau:

“Năm Quý Dậu (1753) mùa đông, Nặc Nguyên nước Chân Lạp xâm lấn Côn Man. Chúa muốn đánh nước Chân Lạp, bèn sai Cai đội Thiện Chính (không nhớ họ) làm Thống suất, Trinh làm Tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm doanh đi đánh Chân Lạp. Quân tiến đóng ở Bến Nghé, thiết lập doanh trại lựa chọn sĩ tốt, làm nhiều kho tàng để làm kế khai thác.

Năm Giáp Tuất (1754) mùa hạ, Trinh cùng Thiện Chính chia đường mà tiến. Trinh đi đến đâu, giặc đều tan chạy đến đó; qua Tân Lộ ra Đại giang, cùng quân Thiện Chính hội ở đồn Lô Yêm. Bấy giờ bốn phủ là Soi Rạp (Lôi Lạp), Tầm Bôn, Cầu Nam và Nam Vang đều hàng.

Ta bèn chiêu phủ Côn Man để làm thanh thế.

Năm Ất Hợi (1755), mùa xuân, Thống suất Thiện Chính về đồn Mỹ Tho, dân Côn Man đi theo, đến đất Vô Tà Ân, bị Chân Lạp đánh úp. Thiện Chính vì rừng tràm ngăn trở không đi cứu được. Trinh đem quân tùy tùng đến cứu hơn 5000 đàn ông đàn bà Côn Man hộ tống về đóng ở chân núi Bà Đen. Trinh nhân đó hặc tâu Thiện Chính làm mất cơ ngơi, bỏ dân chúng mới quy phục. Chúa bèn giáng Thiện Chính xuống làm Cai đội, và cho Trương Phước Du lên thay. Trinh cùng Phước Du dùng người Côn Man làm hướng đạo, đi đánh Cầu Nam, Nam Vang. Nặc Nguyên chạy sang Hà Tiên, xin dâng đất hai phủ Tầm Bôn và Soi Rạp (Lôi Lạp), để bù vào lệ cống bỏ thiếu trong ba năm trước.”

Văn tài trấn biên cương, định đại kế muôn đời

Tướng Nguyễn Cư Trinh: danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn
Tướng Nguyễn Cư Trinh: danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn

Tướng lĩnh nhà Nguyễn không hiếm người có thể đánh dẹp Chân Lạp, chiếm đất đồn điền, nhưng thực sự định ra sách lược để đem miền Nam gắn chặt vào cơ đồ của quốc gia ắt hẳn phải tính đến công của Nguyễn Cư Trinh, với sách lược mà đời nay hay gọi là chính sách “Tàm Thực” (tằm ăn). Từ cuộc chiến Chân Lạp 1753, ông đã dâng biểu về kế sách này, khuyên Chúa nhận hai phủ mới, cho người Côn Man được định cư tại khu vực biên giới Việt – Chân Lạp. Mục đích là để ngăn chặn việc Chân Lạp tái diễn gây hấn nơi biên giới. Lúc mới đầu chúa Nguyễn cũng chưa ưng thuận, có thể do địa hình xa xôi và chi phí đóng quân tốn kém nhưng Nguyễn Cư Trinh vẫn kiên trì dâng biểu về việc này. Sử liệu có ghi chép như sau:

“Chúa chưa ưng thuận việc này, Trinh tâu rằng: “Từ xưa dụng binh, chẳng qua cốt muốn giết kẻ đứng đầu mở rộng bờ cõi. Nay Nặc Nguyên hối lỗi, dâng đất, lòng thành. Nếu tra cứu đến cùng tội dối trá của nó, nó sẽ chạy trốn. Và từ Gia Định đến La Bích đường đi xa xôi không tiện đuổi đến kỳ cùng. Nay muốn mở rộng bờ cõi, nên lấy hai phủ ấy trước để giữ vững lấy phía sau hai doanh. Năm trước, mở phủ Gia Định, trước lấy Hưng Phước, sau lấy Đồng Nai, khiến cho quân dân tụ họp đông đúc. Nay đất cũ từ Hưng Phước đến Sài Gòn chỉ hai ngày đường, dân cư còn chưa ở yên, quân lính đóng giữ cũng chưa đầy đủ. Hơn nữa, từ Sài Gòn đến Tầm Bôn, hàng sáu ngày đường, lính thú trú phòng thực e không đủ. Thần thấy người Côn Man giỏi về đánh bộ, Chân Lạp cũng đã chột dạ. Nếu cho họ ở vào đất ấy để chế ngự, dùng người Man đánh người Man, cũng là đắc sách. Vậy xin cho Chân Lạp chuộc tội, lấy đất hai phủ ấy, giao cho thần xem kỹ hình thế, đặt lũy, đóng quân, biên chế chia cấp điền sản cho quân dân, vạch rõ địa giới, cho thuộc về châu Định viễn để thu toàn khu”.

Chúa nghe cho. Chưa bao lâu, Nặc Nguyên chết. Chúa bèn phong Nặc Tôn làm quốc vương Chân Lạp. Nặc Tôn lại dâng đất Tầm Phong Long. Trinh tâu xin dời doanh Long Hổ đến xứ Tầm Bào. Lại đặt đạo Đông Khẩu ở xứ Sa Đéc, đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Đốc ở Hậu Giang, đều đem lính doanh Long Hổ đến trấn áp. Cõi Nam mở đất đến đây rất rộng, đều là công Cư Trinh.”
(Theo: Đại Nam Liệt Truyện).

Gia Định là vùng đất mới rất phức tạp, thành phần dân cư đa dạng, đa sắc tộc, chưa kể còn là địa hình rừng rậm sông nước nên vô cùng khó để mà ổn định và phát triển nơi này. Nhưng những điều khó khăn đó nếu khắc phục xong thì vùng đất này lại là một nơi hết sức tiềm năng và giàu có. Vì thế mà Nguyễn Cư Trinh đã quyết tâm thi hành một loạt pháp lệnh, chính sách nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các địa khu mới sáp nhập, ngoài thì răn đe ngoại xâm, trong thì vỗ yên dân chúng. Do đó uy danh của ông lẫy lừng khắp cõi và được dân chúng vô cùng yêu mến, xứng danh một bậc Nho thần thời trị:

“Đất Gia Định đường sông nhiều ngả, thuyền cướp thường tụ chỗ vắng, rình thuyền buôn đi qua để cướp bóc, người buôn rất khổ. Trinh hạ lệnh cho các hạt: phàm thuyền lớn nhỏ, đều phải khắc tên họ quê quán chủ thuyền ở đầu, được quan sở tại làm sổ thuyền để tiện tra xét. Từ đây, kẻ gian không ẩn nấp vào đâu được, trộm cướp phải im hơi. Cư Trinh ở ngoài biên hơn 10 năm, uy danh lẫy lừng, dân Việt người Man đều mến phục.”
(Theo: Đại Nam Liệt Truyện).

Vị trí thành Bát Quái so với sông Sài Gòn năm 1795 do Le Brun vẽ. (Ảnh: Wikipedia)

Không chỉ có tài năng trị quốc an dân, văn tài của Nguyễn Cư Trinh cũng nổi tiếng khắp miền Nam. Sinh thời ông hay sáng tác và ngâm vịnh thơ phú, thường cùng Đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tứ lấy văn từ tặng đáp nhau, lời và ý thảy đều dồi dào đẹp đẽ. Những lời thơ của một vĩ nhân từng đem hết tài sức của mình bảo vệ non sông và dân chúng, càng khiến cho cảnh đẹp của dải đất phương Nam hiện lên qua những trước tác của ông trở nên sống động và bất tử.

Xin đơn cử một số bài mà Nguyễn Cư Trinh đã từng họa thơ “Hà Tiên Thập Cảnh Vịnh” của họ Mạc như sau:

Kim dự lan đào
Nguyên văn chữ Hán:

金 嶼 攔 濤
帝 怒 陽 侯 數 犯 邊
敕 移 山 岳 鎮 前 川
波 霑 不 拭 長 城 面
水 猛 方 知 砥 柱 權
精 衛 半 消 銜 石 恨
驪 龍 全 穩 抱 珠 眠
知 君 亦 是 擎 天 勿
今 古 滔 滔 獨 儼 然

Phiên âm Hán Việt:
Đế nộ Dương Hầu sổ phạm biên
Sắc di sơn nhạc trấn tiền xuyên
Ba triêm bất thức trường thành diện
Thủy mãnh phương tri chỉ trụ quyền
Tinh Vệ bán tiêu hàm thạch hận
Ly long toàn ổn bão châu miên
Tri quân diệc thị kình thiên vật
Kim cổ thao thao độc nghiễm nhiên
(Kim dự lan đào)

Dịch Thơ:
Đảo vàng ngăn sóng

Trời giận Dương hầu phạm đất nầy
Sắc đem gò núi trấn sông đây
Sóng xô, thế vững, thành không ngập
Nước mạnh quyền cao, núi chẳng sầy
Tinh Vệ bớt hờn thôi đá ngậm
Ly Long ôm ngọc ngủ dòng say
Mới hay tài ấy kê trời vững
Cuồn cuộn nghìn thu sức chẳng lay
(Phạm Ngọc Khuê dịch).

Tiêu tự thần chung
Nguyên văn chữ Hán:
蕭 寺 晨 鐘
晨 風 搖 落 露 花 拋
迢 遞 孤 聲 過 樹 梢
金 獸 哮 殘 星 海 渚
木 鯨 打 落 月 村 坳
萬 家 醒 夢 佛 朝 闕
八 水 開 顏 曾 下 巢
待 扣 堪 伶 禪 亦 有
不 鳴 鳴 得 太 陽 交

Phiên âm:
Thần phong dao lạc lộ hoa phao
Thiều đệ cô thanh quá thụ sao
Kim thú háo tàn tinh hải chử
Mộc kình đả lạc nguyệt thôn ao
Vạn gia tỉnh mộng Phật triều khuyết
Bát thủy khai nhan tăng hạ sào
Đãi khấu kham linh thuyền diệc hữu
Bất minh minh đắc thái dương giao

Dịch thơ:
Chùa Tiêu chuông sớm

Gió sớm lay rơi hạt móc sa
Chòm cây văng vẳng tiếng ngân qua
Thú vàng gào nguyệt rơi lòng biển
Cá gỗ khua sao rụng rãnh nhà
Muôn họ tỉnh mồng triều Phật lạy
Tám nguồn công đức đợi Sư ra
Đón chờ tiếng gõ trên am nổi
Chẳng gõ thì thôi, gõ sáng òa
(Phạm Ngọc Khuê dịch)

Chính trực đến cuối đời, lưu danh thiên cổ

Thân là hậu duệ danh sĩ Nho Gia, mang cái tên tốt đẹp: thuận ý trời mà hành sự – Nguyễn Cư Trinh đã sống một cuộc đời vô cùng chính trực và mực thước cho đến lúc mất.

Sử sách còn ghi lại giai thoại đối đáp của ông với quyền thần Trương Phúc Loan. Thú vị ở chỗ là sự chính trực và uy tín của ông lại có thể khiến cho một kẻ gian hùng không từ thủ đoạn như y lại kính sợ mà không dám làm hại. Trong Đại Nam Liệt Truyện có đoạn chép như sau:

“Năm Ất Dậu (1765), Duệ Tông Hoàng Đế nối ngôi chúa, triệu Trinh về, thăng Lại bộ kiêm Tào vận sứ. Quyền thần Trương Phước Loan cho rằng mình có công lập chúa, chuyên quyền ngang ngược, thường triệu các quan đến nhà riêng bàn việc, Cư Trinh nghiêm nét mặt nói: “Bàn việc ở công triều chế độ đã định từ lâu. Phước Loan sao dám vô lễ như thế! Chực chuyên quyền à? Loạn thiên hạ, tất là người này!” Các quan đều không dám đi. Phước Loan căm giận lắm nhưng vẫn kính sợ không dám làm hại.

Năm Đinh Hợi (1767) mùa hạ, Cư Trinh mất, lúc 52 tuổi, được tặng phong: Tá lý công thần, Đặc tiến Trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu Chính trị thượng khanh Tham nghị, tên thụy là Văn Định.

Minh Mạng năm thứ 20 (1839), Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế truy lục công Cư Trinh, tặng Khai quốc công thần, Vinh lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Lại, đổi thụy là Văn Khác, phong Văn Minh hầu. Cho theo thờ ở Thái Miếu.”
(Theo: Đại Nam Liệt Truyện)

Lời kết:

Thời Tam Quốc có chiến lược của Gia Cát Khổng Minh khiến Lưu Bị tiến quân vào Thục mà nhà Thục Hán được chia ba thiên hạ. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh có cuộc Nam tiến và chiến lược “Tằm ăn dâu” là nguồn gốc sức mạnh cho nhà Nguyễn thống nhất Đại Việt sau mấy trăm năm chia cắt. Đây có thể coi là quá trình mở cõi vĩ đại nhất trong suốt 600 năm qua của lịch sử Việt Nam. Nguyễn Cư Trinh bằng tài năng của mình không những đã hoàn tất đại nghiệp, tạo nên miền Nam mà còn giúp nhà chúa bình định xứ này, cai trị cho dân an cư lạc nghiệp. Với sự nghiệp to lớn của mình, khi mất Gia Cát Lượng được ban thụy là Trung Vũ Hầu nghĩa là vị hầu tước có võ công to lớn và lòng trung thành; còn Nguyễn Cư Trinh khi mất được ban thụy hiệu là Văn Định Hầu, nghĩa là vị hầu tước có văn tài cai trị và an định quốc gia. Trong suốt mấy trăm năm lịch sử toàn vùng Đông Nam Á từ đó về sau, không có cuộc sáp nhập nào to lớn và thành công mỹ mãn như cuộc sáp nhập miền Nam của thời chúa Nguyễn. Chính tiền đề lịch sử trọng đại này đã kiến lập nên một mảnh đất giàu có ấm no với hàng chục triệu người sinh sống cho tới ngày nay. Vì thế tuy không nổi tiếng như Gia Cát Vũ Hầu, nhưng ân trạch mà Nguyễn Cư Trinh để lại cho toàn thể con dân miền Nam nước ta suốt mấy thế kỷ qua đến ngày nay so ra cũng không hề kém hơn vậy.

Nhận xét về công nghiệp của ông, Liệt Truyện chép cũng rất xác đáng:

“Cư Trinh là người có tài lược, khéo quyết đoán. Những việc ông tâu bày phần nhiều là lời trung, bàn phải. Khi coi việc quân ở cõi Nam, mở đất đai, giữ yên ngoài biên, huân nghiệp hơn người. ông lại giỏi văn, trội thơ, có tập ‘Đạm am’ lưu hành ở đời”.

Tác giả Minh Bảo. Theo NTDVN.com

Minh Bảo