Vương quốc Chămpa ở miền Trung Việt Nam đã hình thành và phát triển như thế nào

Battle near Liegnitz (Wahlstatt) on 9th April 1241 (The Mongols under Orda defeat the Polish-German knights' army under Duke Henry II. of Silesia).-"Great defeat of the Christians, which they suffered from the Tatars".-Copper engraving b.Matthäus Merian t.Eld. From: J.L.Gottfried, Historische Chronica, 1630, p.583; later coloured.

Chia sẻ với bạn bè :

Từ khoảng TK III đến TK VIII, cương vực của Vương Quốc Chămpa lúc mở rộng nhất nằm trải dài từ dãy núi Hoành Sơn sông Gianh ở phía Bắc cho đến sông Dinh – Hàm Tân (Bình Thuận) và từ biển Đông đến tận miền núi phía Tây nước Lào ngày nay. Tỉnh Quảng Nam ngày nay được coi là chiếc nôi sinh thành của Chămpa.

Lãnh thổ Chămpa chia ra thành hai vùng: vùng phía Bắc (Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, là nơi cư trú của bộ tộc Cau). Vùng phía Nam (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; là nơi cư trú của bộ tộc Dừa). Dãy núi Trường Sơn chia cắt Chămpa thành nhiều vùng thường được gọi là các châu, gồm có châu Armavati (ở phía Bắc, từ Quảng Bình đến Quảng Nam với kinh đô Indrapura – Đồng Dương về sau Đồng Dương còn là một trung tâm Phật giáo).

Trong các thời kỳ lịch sử các châu này tranh giành ảnh hưởng và địa vị lẫn nhau. Tiểu quốc nào mạnh sẽ ảnh hưởng bao trùm lên các tiểu quốc và tiểu vương ở đó sẽ trở thành kinh đô của cả vương quốc rộng lớn. Do đó, trong lịch sử Chămpa đã trải qua nhiều kinh đô khác nhau.

lãnh thổ của vương quốc chămpa

Giai đoạn Sinhapura 

Hay còn gọi là Lâm Ấp từ đầu đến khoảng năm 750. Vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên nhà nước Lâm Ấp đã được ra đời, do vua Khu Liên lập ra năm 192, là kết quả đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Hán của nhân dân vùng đất cực nam quận Nhật Nam. Đây được coi là thời kỳ đầu của vương quốc Chămpa.

Căn cứ vào theo các nguồn sử liệu nêu trên xác định sự ra đời và tồn tại của Chămpa cổ. Trung tâm Lâm Ấp là huyện Thọ Linh cũ (thuộc Thuận Hóa, Thừa Thiên, Huế) và vùng Kim Sơn, Bồng Miêu (Quảng Nam). Tuy gặp phải nhiều khó khăn nhưng Lâm Ấp vẫn giữ được chủ quyền và bắt đầu công cuộc phát triển đất nước. Năm 653, Chư Cát Địa trở thành vua và cho xây nhiều đền tháp ở Mỹ Sơn. Vua Vikrantarman nối ngôi và truyền cho Lư Đà Na (Rudravarman). Lâm Ấp tồn tại đến khoảng năm 758.

Giai đoạn Virapura 

(Hoàn vương _ Panduranga) khoảng 750 – 850. Khoảng năm 749 lãnh thổ Lâm Ấp được mở rộng đến Panduranga. Đây là thời kỳ vùng miền Nam Kauthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang) nắm bá quyền đối với các tiểu quốc khác của Chămpa. Kinh đô Chămpa chuyển về Virapura nên giai đoạn này gọi là giai đoạn Virapura hay còn gọi là Hoàn vương. Vương triều Virapura trải qua 5 triều đại gồm:

+ Prithi Indravarman

+Satyavarman

+Indravaman I (787 – 801)

+Harivarman (801 – 817)

+Vikrantavarman III (829- 854)

Về phía Bắc, Hoàn Vương mở rộng đến Quảng Nam – Đà Nẵng với cảng thị Đại Chiêm Khẩu (Hội An). Vua đầu tiên của Hoàn Vương là Prathivindravarman, vua thứ hai là Satyavarman – người kháng cự lại cuộc tấn công của quân Java vào khu đền Po Nagar năm 774. Dưới đời vua Indravarman I, Ấn Độ giáo và Phật giáo đều phát triển. Quân đội Java lại đi cướp kinh đô Virapura. Em rể Indravarman I là Harivarrman nối ngôi Indravarman I, lúc này Champa phát triển mạnh lên.

Trong các năm 808 và 819 Chămpa tiến đánh An Nam. Từ năm 813 đến 817, hoàng tử Chămpa là Vikrantavaman III đã hai lần tiến quân đánh Chân Lạp. Trong những năm sau đó, ông đã lên nối ngôi vua nhưng không có con trai nên triều đình chọn Indravarman, xuất thân từ phía Bắc Champa lên nối ngôi, lịch sử Champa chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ của vương triều Indrapura phía Bắc và đến đây thời kỳ Hoàn Vương chấm dứt sau 100 năm cai trị.

Trong suốt giai đoạn lịch sử 100 năm của vương triều Hoàn vương – Virapura là một thời kỳ lịch sử khá đặc biệt. Suốt thời gian dài 100 năm các vị vua có nguồn gốc phía Nam đã lên trị vì Champa.

Do có sự chuyển biến trung tâm quyền lực từ Bắc vào Nam nên hầu như những bia ký hay những công trình đượ xây dựng thời gian này tập trung chủ yếu ở Kauthara và Panduranga. Theo các tài liệu bia ký cũng cho biết thủ độ Virapura cũng được xây tiếp trên cơ sở lâu đài cũ của dòng vua chúa phía nam. Sau Hoàn vương một thời kỳ mới đã được mở ra – thời kỳ Vương triều Indrapura (Đồng Dương).

Giai đoạn Indrapura (khoảng 850 – 982)

Đây là thời kỳ mở ra giai đoạn mới của Chămpa, lập kinh đô mới mang tên Indra – Indrapura, ở địa điểm làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; kinh đô mới này lui về phía Nam, cách địa điểm cũ vài chục kilomet, là nơi đây kín đáo và thuận tiện đường giao thông Bắc – Nam và hướng ra biển, tôn thờ thần Siva dưới tên gọi mới, Sambhubhadresvara – Campapuraparamesvara.

Đến lúc này ta thấy có sự thay đổi về dòng vua cũng như địa điểm kinh đô từ Sinhapura đến Virapura rồi lại đến Indrapura. Trong Thư tịch Trung Quốc mà cụ thể là Tân Đường thư gọi ba giai đoạn này là Lâm Ấp, Hoàn Vương và Chiêm Thành.

Đây là một giai đoạn với nhiều nét đặc sắc, là một bước ngoặt trong lịch sử và văn hóa Chăm. Giai đoạn này gọi là Indrapura – Đồng Dương, tức địa danh ngày nay. Vương triều Đồng Dương có đến 20 minh văn và phế tích kiến trúc, trải trên một địa bàn rộng từ Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và đến cả cao nguyên, Khánh Hòa, Ninh Thuận. Bản thân Đồng Dương – Indrapura vừa là hoàng cung, vừa là đền miếu thờ thần Phật, nó cũng được coi là kiến trúc lớn của Chămpa.

Kinh đô được dời đến Indrapura và lúc này Phật giáo trở thành quốc giáo. Vua Indravarman đặt tên nước là Campura (Chămpa). Các vua nối ngôi là Jaya Simhavarman, Jaya Saktivarman, Bhadravarman II và Indravarman II.

Năm 945, vua Chân Lạp Rajendravarman II đánh châu Kauthara (Nha Trang) và tiến công thủ phủ của châu này. Trong đời vua tiếp theo là Indravarman, Chân Lạp tiến đánh vùng Pô Nagar. Vua Jaya Indravarman lên ngôi năm 960. Đến năm 972, Champa có vua mới là Paramesvaravarman I.

Năm 979 vua này đã giúp sứ quân Ngô Nhật Khánh tiến đánh Đại Việt nhưng thất bại. Năm 982, vua Lê Đại Hành đánh Chăm-pa và tiến vào kinh đô Chăm-pa, vương triều Indrapura chấm dứt.

Nhìn chung, trong toàn bộ sơ kì Chămpa tuy biến động vương triều nhiều lần song đều là thời gian hình thành, củng cố, phát triển vương triều, gắn liền với sự mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán và đứng vững trước các tấn công từ Java và Campuchia.

Vào thế kỷ II trước Công nguyên, nhà Hán xâm lược và thống trị Âu Lạc, đồng thời chiếm luôn phần đất từ Đèo Ngang đến Quảng Bình và Nghĩa-Bình lập thành quận Nhật Nam. Người Chăm liên tục đứng dậy cùng nhân dân Âu Lạc chống lại ách đô hộ của nhà Hán. Đến thế kỷ II sau Công nguyên, sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Khu Liên (năm 192), người Chăm ở huyện Tượng Lâm, huyện xa nhất của quận Nhật Nam, thuộc phần đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay lập ra tiểu quốc độc lập. Vào thế kỷ IV, dưới thời Phạm Văn, toàn bộ đất Quảng Nam lúc bấy giờ thuộc lãnh thổ của quốc gia Chămpa.

cảnh chinh chiến của dân tộc Chăm

Thời đó cửa sông Thu Bồn còn cách xa bờ biển Thu Bồn ngày nay, đồng bằng Thu Bồn chưa được mở rộng như bây giờ. Vùng hạ lưu dọc biển chủ yếu là đầm phá và nồng cát, đất nông nghiệp không nhiều, phía tây có rừng rậm bao phủ. Người Chăm với một dân số không nhiều lại sống rải rác, tiến hành khai phá đất đai để làm ruộng, đào ao hồ để trữ nước tưới, xây dựng các hệ thống mương máng dẫn nước để chống hạn. Họ sản xuất thóc lúa và một số loại nông sản khác như đỗ, lạc, mía, cau, hồ tiêu và các loại cây ăn quả. Trên các bãi sông Thu Bồn người ta trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt vải, lụa.

Người đàn bà Chăm bấy giờ đã dệt được những chiếc váy kama uốn quang mình dài xuống đến cổ chân, cùng nhiều thứ lụa là, gấm vóc. Rừng cũng được người Chăm bắt đầu khai thác, các thứ gỗ mun, trầm, kỳ nam, đậu khấu, sừng tê được khai thác để xuất khẩu. Nhiều thứ đá quý được người Chăm mài tiện làm đồ mỹ nghệ, người Chăm còn đãi vàng dọc các suối ngòi vùng Bồng Miêu, họ đã làm các loại thuyền buồm dùng để vượt biển đi buôn. ở chốn cung đình tập trung nhiều thợ giỏi các nghề xây dựng, điêu khắc, đúc tượng, làm đồ trang sức bằng vàng bạc, ngọc ngà, dệt gấm thiêu hoa, chuyển sản xuất phục vụ vua quan, quý tộc.

Các triều vua Chăm của cải đầy ắp là do bót lột của nhân dân, lại còn do chinh chiến với các lân bang để bắt tù binh đem ra bán ở nước ngoài làm nô lệ. Tất cả của cải đem vào việc xa xỉ và xây dựng đền tháp, cung điện.

Mỗi vị vua Chăm sau khi lên ngôi đều đến đây làm lễ cúng thần linh hoặc xây dựng thêm đền đài hiến dâng lên thần Srisanabhadresvara- đấng tối cao bảo vệ vương quyền. Chiến tranh đã làm cạn kiệt nguồn tài lực của nhân dân và bản thân vương quốc cũng ngày một suy yếu. Nguồn nhân lực hao mòn, không đủ sức duy trì việc khai thác đất đai, mà bản thân việc khai thác trước đây cũng đã không thể thực hiện một cách triệt để. Cuộc xâm lược của quân Nguyên- Mông đối với Chăm pa vào thế kỷ XIII tuy bị thất bại hoàn toàn, nhưng đã tàn phá nặng nề đất nước này và tiêu diệt khá nhiều người Chăm.

Người Chăm sùng bái các thần Ấn giáo như là bộ ba Bơrama, Visnu, Siva, và tiếp thu cả đạo Phật thuộc phái Đại thừa. Về chữ viết, chữ Phạn (sanskrit)_một văn tự cổ của Ấn Độ cũng được tiếp thu cải biến thành chữ Chăm và được sử dụng rất sớm ở Chăm-pa (đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ II- VIII). Triều đình Chăm-pa đã lấy các từ Ấn Độ thậm chí các địa danh Ấn Độ để đặt tên nước, tên châu, tỉnh và kinh đô của mình như Champa, Amaravati (vùng bắc Champa), Sinhapura, Inđrapura, Vigiaya… Các công thức văn bia chữ Phạn, các điển tích tôn giáo và văn học Ấn Độ cũng được các vua chúa, các học giả người Chăm lĩnh hội và sử dụng rất rộng rãi.

Người Chăm còn tiếp thu và sử dụng lịch Ấn Độ trong sản xuất và đời sống. Đó là hệ thống lịch saka, áp dụng ở miền Bắc Ấn Độ từ ngày 3 tháng 3 năm 78 và được phổ biến sang nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Chăm-pa. Người ta cũng tính thời gian theo chu kỳ 12 năm, mỗi năm 12 tháng và cũng lấy các con thú làm biểu tượng cho mỗi chu kỳ (giống như lịch Can Chi của Trung Quốc).

Đây cũng là hệ thống âm lịch, nên người ta dựa vào tuần trăng để chia một tháng ra 2 tuần và mỗi tuần có 7 ngày. Các công trình xây dựng đền tháp, nghệ thuật kiến trúc, môtíp kiến trúc của Chăm-pa cũng đều học tập của Ấn Độ. Tuy vậy, không phải văn hóa Ấn Độ đã mang vào Chăm-pa một cách nguyên vẹn, rập khuôn, mà trong thực tế tất cả những hình thức văn hóa đó đều đã được gia giảm và thể hiện theo kiểu Chăm-pa. Ta có thể nhận thấy tháp đền Chăm-pa có những dáng vẻ riêng.

Nghệ thuật kiến trúc và tạc tượng thế kỷ VII – X rất sinh động và độc đáo. Chữ viết mặc dù vay mượn từ chữ Phạn nhưng người Chăm lại sáng tạo thành chữ Chăm cổ. Trong vương quốc Chăm-pa, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển. Người Chăm đã giữ rất lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm răng đen, coi trọng phụ nữ, tục thờ cúng tổ tiên, tục hỏa thiêu người chết và chôn tro xương trong các mộ vò.

Xã hội người Chăm ở vương quốc Chăm-pa cổ là xã hội của cư dân sản xuất nông nghiệp và quan hệ chủ yếu trong xã hội cũng là những quan hệ về ruộng đất, về chế độ sớ hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất đó. Vua là nhân vật chuyên chế, có uy quyền tuyệt đối, nhưng chưa thấy sự xuất hiện các lãnh địa riêng của nhà vua, cũng hoàn toàn chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ các quý tộc và quan lại có lãnh địa riêng hay có ruộng đất riêng. Một khi không thấy có sở hữu ruộng đất lớn của vua và quý tộc-quan lại thì ta có thể nghĩ rằng hầu hết ruộng đất đều do người nông dân giữ và canh tác.

Ruộng đất ở đây vẫn được coi là ruộng đất chung của công xã. Người nông dân vẫn sống theo từng làng (tức công xã) và có thể làng đã giao ruộng đất cho từng gia đình nông dân công xã canh tác. Công xã là nơi duy trì các mối quan hệ cộng đồng và thân tộc trong đời sống kinh tế và tinh thần. Quá trình phân hóa và phát triển của xã hội diễn ra tương đối chậm. Xã hội Chămpa cổ đã sớm hình thành tầng lớp nô lệ. Nô lệ phục vụ trong các gia đình quý tộc và đền miếu, trong những công việc và phạm vi mà người ta không thể cưỡng bức lao động của nông dân công xã. Nô lệ đã trở thành một thành phần không thể thiếu của cơ chế xã hội Chămpa cổ. Như vậy, xã hội Chămpa mang những đặc trưng cơ bản của khu vực Đông Nam Á.

Đoàn Nhật Quang.

Xem thêm :


Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.