Vương quốc Chămpa và những cuộc chiến tranh với người Việt (P2)

Chia sẻ với bạn bè :

Lịch sử dựng nước và giữ nước của vương quốc Chămpa gắn liền với những cuộc chiến tranh liên miên với các quốc gia láng giềng để giành quyền lợi. Trải qua các triều đại từ Lâm Ấp – Hoàn Vương (Simhapura) – Indrapura cho đến Chiêm Thành và những triều đại về sau, không thời nào mà người Chămpa lại không có những cuộc chiến tranh, phía Bắc họ chống Đại Việt, phía Nam gây hấn Chân Lạp, phía tây lại nhiều lần đánh nhau với vương quốc ĂngKo.

Xem lại Phần 1

Từ khi vua Trần Anh Tông lên ngôi (1293), quan hệ hai nước Việt – Chăm  bước vào thời kỳ hòa bình và mối bang giao có phần tốt đẹp hơn trước. Trong giai đoạn này, bên phía Chiêm Thành đang là thời gian trị vì của vua Chế Mân (Jaya Simhavarman), nhà vua đã nhiều lần sai sứ sang giao hảo và tặng lễ vật mừng vua Anh Tông của nước Việt, đây cũng là thời điểm diễn ra những chuyến đi của Thượng hoàng Nhân Tông sang thăm vương quốc láng giềng trên danh nghĩa du lịch (1301)  nhưng thực chất là để tiếp xúc tạo mối quan hệ bền chặt với quốc gia này.

Năm 1306, một cuộc hôn nhân chính trị rầm rộ trong lịch sử dân tộc đã diễn ra khi thượng hoàng Nhân Tông hứa gả con gái của mình là công chúa HuyềnTrân cho vua Chiêm Chế Mân. Đổi lại, vua Chiêm đã dùng hai châu Ô và châu Lý để làm sính lễ, cuộc hôn nhân này có thể xem là môn đăng hộ đối giữa hai quốc gia và cũng là chiếc cầu nối cho nền hòa bình của hai dân tộc, xóa bỏ những hiềm khích, hận thù trước đó để hai dân tộc có thể bắt tay nhau tạo ra mối bang giao tốt đẹp, mang lại lợi ích cho cả đôi bên.

Ngay khi công chúa Huyền Trân vừa về làm hoàng hậu nước Chiêm thì dân Việt ở châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái ( Nghệ An) cũng nhanh chóng kéo nhau vào tiếp quản hai châu Ô, Lý của Chiêm Thành. Năm 1307, vua Anh Tông cho đổi hai châu Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, chọn người trong dân chúng để làm quan, vua còn sai quan Hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và cai trị vùng ấy, thực hiện các chính sách an dân. Nhân dân ta thường gọi chung hai vùng ấy là châu Thuận Hóa (địa bàn chủa 2 châu Thuận – Hóa kéo dài từ huyện Hải Lăng của Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên của Quảng Nam ngày nay).

Như vậy, sau cuộc hôn nhân chính trị này, người Chiêm  đã mất đi một vùng đất rộng lớn có tầm chiến lược về quân sự, thương mại và mất cả vùng đất được xem là thánh địa của dân tộc Chăm là Amaravâti, Indrapura. Lãnh thổ của nước Việt cũng được mở rộng đến phần lớn tỉnh Quảng Nam trong thời gian này.

cuộc chiến giữa Đại Việt và ChămPa

Việc mất hai vùng đất quan trọng của mình vào tay Đại Việt chỉ bằng một cuộc hôn nhân của nhà vua đã khiến cho toàn thể nhân dân Chămpa không được vui và vẫn ngấm ngầm chống đối sự sát nhập đất đai này. Năm 1307, vua Chế Mân mất, tạo ra một giai đoạn không hay trong mối quan hệ Việt – Chăm. Theo các sách Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam Sử Lược thì theo tục lệ của người Chăm khi vua chết thì hoàng hậu và các phi tử đều phải thác theo để tròn đạo, vua Anh Tông nghe tin ấy thì lo sợ bèn sai tướng của mình vào đất Chiêm tìm kế giúp công chúa Huyền Trân thoát nạn. “Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân được một năm thì mất, mà theo tục Chiêm Thành, hễ khi vua chết, thì các hậu phải hỏa táng theo. Anh Tông được tin ấy, sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng vào thăm để tìm kế đưa công chúa về”.

Cuộc đào tẩu ngọn mục của Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân đã làm cho lòng dân Chiêm Thành hết sức bất bình, họ cảm thấy đó là điều sỉ nhục với dân tộc mình nên caem tức muốn đòi lại hai châu Ô, Lý mà vua Chế Mân đã dâng cho Đại Việt làm sính lễ. Ngay sau khi vua Chế Mân chết, con trai là Chế Chi lên thay (tức Cri Jaya Simhavarman IV), ngoài mặt thì vị vua mới của Chiêm vẫn tỏ vẻ thần phục nhà Trần nhưng kì thực trong lòng lại đầy phản trắc.

Biết được điều đó, năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Anh Tông sai các tướng đi đánh Chiêm Thành, nhà vua đích thân ngự giá cùng Huệ Võ Vương Quốc Chấn, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Minh Hiến vương Uất và tướng quân Phạm Ngũ Lão ra quân.

Quân tướng nhà Trần với oai danh  ba lần đạp tan sự xâm lược của Mông-Nguyên đã làm cho nước Chiêm khiếp sợ, quân Đại Việt đi đến đâu thì người Chiêm đầu hàng đến đấy, tướng quân Đoàn Nhữ Hài lập công lớn trong lần xuất hinh này, không đánh mà khuất phục được Chiêm Thành. Vua Chiêm Chê Chi bị bắt giải về Thăng Long, nhà Trần lập em của Chê Chi là Chế Năng (Chế Đa A Bà Niê) lên làm vua có quyền coi việc nước.

Để vỗ về nhân dân Chiêm Thành và tạo dựng mối quan hệ bang giao hòa hão với họ, vua Anh Tông đã phong Chế Chi tước Hiệu Trung vương (sau là Hiệu Thuận vương) , vương được bố trí ở tại hành cung của vua Trần ở Gia Lâm đến năm 1313 thì mất. “Năm Hưng Long thứ 21, Xiêm La lấn cướp Chiêm Thành, vua Anh Tông sai An phủ sứ Đỗ Thiên Hư làm kinh lược sứ đi kinh lược Nghệ An và Lâm Bình để sang cứu Chiêm Thành.”

Sau khi quân Đại Việt rút đi, vua Chiêm Chế Năng ra sức ổn định tình hình trong nước, nhân việc lòng dân đang hết sức oán hận người Việt, Chế Năng đã cho quân quấy nhiễu cướp phá vùng biên giới. Năm 1314, thừa dịp vua Minh Tông nhà Trần mới lên ngôi còn phải đang lo nhiều việc quốc sự, Chế Năng đã xua quân tái chiếm hai châu Ô, Lý.

Không bao lâu sau, vào năm Đại Khánh thứ 5 (1318), Huệ Võ vương Trần Quốc Chân nhận lệnh vua Minh Tông cất quân sang phạt tội người Chiêm lộng hành, đánh nhau vài trận, quân Chiêm thua to, ta đánh đến kinh đô của họ, buộc vua Chế Năng phải bỏ chạy sang nước Qua Oa ( tức Java) lánh nạn. Như vậy với sự thất bại này của Chê Năng, vương triều thứ XI nước Chiêm đã chấm dứt. Tháng 6 năm 1318, quân Đại Việt lại tiếp tục đánh vào vùng Cổ Lũy động (phía Bắc Quãng Ngãi ngày nay) nhưng không được phải quay về.

Năm 1360, Chê Bồng Nga lên ngôi vua ở đất Chiêm Thành, bắt đầu xây dựng lại đất nước, mở ra một thời kỳ phú cường của vương quốc Chămpa. Năm 1361,vua Chiêm Chế Bồng Nga đem một đạo quân lớn theo đường biển đánh vào cửa biển Đà Lý thuộc phủ Lâm Bình nhưng nhanh chóng thất bại. Năm sau quân Chiêm Thành lại đến cướp phá vùng này, vua Trần Dụ Tông phải cho phòng giữ nghiêm ngặt để giữ vững vùng Hóa châu. Năm Đại Trị thứ 9 (1366) Chiêm Thành lại vào đánh cướp phủ Lâm Bình, bị Tri phủ lầ Phạm A Song đánh đuổi phải rút về.

Năm Đại Trị thứ 10 (1367), vua Trần sai Minh Tự Trần Thế Hưng làm Thống quân hành khiển đồng tri Thượng thư tả ty sự, Đỗ Tử Bình làm phó tướng đi đánh Chiêm Thành. Đời vua Duệ Tông lại sai dân mở đường từ Cửu Chân đên Hà Hoa để chuẩn bị đánh Chiêm Thành. Những lần xuất binh này không mang lại kết quả gì lớn lao mà còn mang lại thất bại nặng nề cho quân Đại Việt. Năm 1377, vua Duệ Tông tử trận ở thành Đồ Bàn, quân ta thua to. Năm 1378, quân Chiêm đánh thẳng vào Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải bỏ chạy, quân Chiêm cướp phá nhiều ngày rồi rút về.

Đời vua Thuận Tông, vào năm Quang Thái thứ 2 (1389), quân Chiêm Thành lại tiến đánh Thanh Hóa, vua Trần sai Lê Quý Ly ngăn địch, hai bên đánh nhau một trận lớn, quân Đại Việt thua to. Sau đó quân Chiêm còn thắng nhiều trận nữa, uy thế tăng cao làm triều đình nhà Trần phải khiếp sợ. Vua Trần phải sai Trần Khát Chân làm tướng cự địch, bên phía Chiêm gặp phải nội phản, quân Việt nhờ may mắn mà thắng được, vua Chiêm là Bồng Nga bị chết trận, bị tướng của mình là Nguyên Diệu cắt đầu đem dâng.

Lần tiến quân này là thất bại rất lớn của Chiêm Thành, chủ tướng Chê Bồng Nga mất, chấm dưt vương triều thứ XII được xem là một trong những vương triều thịnh đạt nhất trong lịch sử của vương quốc Chămpa.

Theo Đại Việt sử kí toàn thư sau khi Chế Bồng Nga mất rồi, nhà Trần liền cho thu phục lại đất cũ. Tháng 2 năm Quang Thái thứ 4 (1394) sai Lê Quý Ly (sau đổi là Hồ Quý Ly) đem quân đi tuần châu Hóa, xét định quân ngũ, sửa, xây thành trì. Đất từ Hóa Châu trở ra Nghệ An lại về Đại Việt.

Năm 1400, Hồ Quý Ly phế bỏ nhà Trần và tự mình lên ngôi vua, đổi tên nước là Đại Ngu. Vua Hồ lúc này đang bị lòng dân chê trách nên rất muốn làm được việc gì to lớn để trấn an thời cuộc, lúc đó ông liền nghĩ đến việc phải đánh Chiêm Thành mở rộng bờ cõi phía Nam. “Năm Nhâm Ngọ (1402) tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn đem quân đi đánh Chiêm Thành. Vua nước ấy là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) để xin bãi binh. Quý Ly bắt phải dâng đất Cổ Lũy (Quãng Ngãi)”.

Về việc này, Đại Việt Sử ký toàn thưcũng ghi chép : “Vua nước Chiêm là Ba Đích lại sợ, sai cậu là Bố Điền dâng voi trắng voi đen mỗi thứ một con và các sản vật địa phương, lại dâng đất Chiêm Động để xin rút quân. Bố Điền đến Quý Ly bắt ép phải đổi tờ biểu là dâng nộp cả động Cổ Lũy. Rồi chia đất ấy ra làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt an phủ sứ và phó sứ lộ Thăng Hoa để cai trị, miền đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tây Ninh. Chiêm Thành thu lấy những dân tiệm cận về nước, còn người ở lại thì bổ làm quan”.

“Năm Quý Mùi (1403) nhà Hồ lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch, và Sa Ly Nha về phía nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành. Quân nhà Hồ vào vây thành nhà Hồ hơn một tháng trời mà đánh không đổ, lương thực hết cả, phải rút quân về. Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng gì”.

Họ Hồ chiếm được Chiêm Động và Cổ Lũy thì chia đất làm 4 châu là Thăng, Hoa, Tư , Nghĩa, đặt lộ Thăng Hoa làm thống hạt 4 châu. “Sau khi nhượng đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho ta, Chiêm Thành thu lấy những dân cận tiệm đem về nước, còn người ở lại thì dùng làm quân, có lẽ đóng ở biên giới. Như vậy trong đất ấy chắc là không còn nhiều người Chiêm”.

Như vậy từ đời nhà Hồ thì vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy lại được sát nhập vào nước ta. Đây là một tổn thất to lớn vì hầu hết những vùng thánh địa  trung tâm của văn minh Chămpa đều nằm ở vùng đất này, trong đó có hai kinh đô cũ là Simhapura và Indrapura (tức Đồng Dương và Trà Kiệu). Cũng từ giai đoạn này trở đi, vùng đất Quãng Nam đã chính thức sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt và chịu sự quản lí trực tiếp của chính quyền phong kiến trung ương.

Về sau, lợi dụng nước ta vừa trải qua cuộc kháng chiến với nhà Minh, Chiêm Thành đem quân vào đánh phá. Nào ngờ Việt tộc lại sớm phục hưng với nhà Lê. Và nhà Lê từ thời Lê Thái Tông năm 1434, 1444, 1445, Chiêm Thành được lòng nhà Minh lại đánh cướp Hóa Châu nhưng bị quân ta đánh bại. Đến thời Lê Thánh Tông vào năm 1470 Chiêm Thành đem 100.000 quân đánh Thuận Hóa.

Lần này, 1471, vua Lê Thánh Tông sắp đặt một trận đại quy mô để quyết tâm làm cho Chiêm Thành kiệt quệ. Thắng trận Đồ Bàn (hay còn gọi là Trà Bàn), kinh đô của Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm, vua Lê Thánh Tông lấy tất cả đất đai từ Thạch Bi Sơn (tỉnh Phú Yên) về phía Bắc lập thành Thừa Tuyên Quảng Nam, đặt phủ, huyện, ra lệnh khắc bia trên núi gọi là núi Đá Bia. Còn bao nhiêu đất đai của Chiêm Thành còn lại (1/5) vua chia thành ba nước nhỏ là Chiêm Thành, Hoa Anh và Nam Phan cho tướng Chàm làm chúa.

Theo sử liệu để lại thì nước ta còn tiến về phương Nam trong giai đoạn về sau nữa, nhưng bằng nhiều con đường khác nhau. Từ sau lần vua Lê Thánh Tông đem quân vào nam đến đất Phú Yên lần này thì nhìn chung nước Chămpa đã suy yếu lắm rồi, không còn đủ sức quấy phá Đại Việt nữa. Cuộc chiến tranh triền miên qua nhiều thời kỳ giữa hai dân tộc Việt – Chăm đến đây xem như kết thúc.

Đoàn Nhật Quang.


Copyright © All rights reserved. | Việt Sử Giai Thoại by VNPICK GROUP.