Vương và Đế có gì khác nhau? Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam?

Quan Điểm - Bình Luận

Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam? Là Lý Nam Đế hay là Đinh Tiên Hoàng? Giữa Vương và Đế có gì khác nhau? Tác giả Nguyễn Chánh sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu những điều trên qua những phân tích và lập luận trong bài viết dưới đây.

Phần 1: Phân biệt giữa “Vương” và “Đế” có gì khác nhau.

Đầu tiên, xin phép phân biệt giữa chữ Vương (王 ) và chữ Đế ( 帝).
Cả hai chữ này đều có thể mang ý nghĩa là vua, nhưng chữ “Vương” thì có hai trường hợp.

Một là người đứng đầu một quốc gia, một lãnh thổ (được xem là vua của một cõi). Ví dụ: Triệu Quang Phục sau khi kế tục Lý Nam Đế xưng là Triệu Việt Vương; Ngô Quyền sau khi đánh đuổi quân Nam Hán thì xưng là Ngô Vương (có người gọi là Tiền Ngô Vương); Sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi và xưng là Dương Bình Vương…

Hai là 1 tước hiệu cao quý thời quân chủ (Đế 帝, Vương 王, Công 公, Hầu 侯, Bá 伯, Tử 子, Nam 男), như vậy thì quyền lực của Vương chỉ xếp sau Đế. Thường thì tước vị này được Hoàng Đế sắc phong.

Ví dụ thời Lý, sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ phong tước hiệu cho các con mình; Thái Tử Lý Phật Mã là Khai Thiên Vương (開天王) (là vua Lý Thái Tông sau này), các Hoàng Tử: Vũ Đức vương (武德王), Dực Thánh vương (翊聖王) và Đông Chinh vương (東征王). Sau khi Lý Thái Tổ mất, các hoàng tử vì tranh ngôi với thái tử Lý Phật Mã mà xảy ra sự kiện “Tam Vương Chi Loạn”…

Ví dụ thời Trần, vua Trần lúc đó là Hoàng Đế đã phong tước “Vương” cho các vị tướng, như: Hưng Đạo Đại Vương (興道大王) Trần Quốc Tuấn; Chiêu Minh Đại Vương (昭明大王) Trần Quang Khải; Khâm Thiên Đại Vương (欽天大王) Trần Huy Hiệu; Chiêu Văn Đại Vương (昭文大王) Trần Nhật Duật…

Thời Hậu Lê thì có Lạng Sơn Vương (諒山王) Lê Nghi Dân; Tân Bình Vương (賓平王), Cung Vương (恭王) Lê Khắc Xương (là anh của vua Lê Thánh Tông và Lê Nhân Tông); Bình Nguyên Vương (平原王)Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông sau này)…

Thời Tây Sơn, năm 1787, do mâu thuẫn nội bộ, Nguyễn Huệ đem quân vào vây thành Qui Nhơn. Sau đó thì giảng hòa, Nguyễn Huệ lui quân, tự xưng là Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra Bắc. Năm 1788, Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc đã giao lại binh quyền cho em mình, bỏ đế hiệu, tự xưng là Tây Sơn Vương. Sau đó, Nguyễn Huệ lên ngôi là Quang Trung Hoàng Đế, đem quân ra bắc để đánh bại 29 vạn quân Thanh.

Thời Nguyễn thì có Tùng Thiện Vương (從善王) Nguyễn Phúc Miên Thẩm (con trai thứ 10 của Minh Mạng Hoàng Đế); Tuy Lý Vương (绥理王)Nguyễn Phúc Miên Trinh (con trai thứ 11 của Minh Mạng Hoàng Đế; An Phong Quận Vương (安豐郡王) Nguyễn Phúc Hồng Bảo (con trưởng của Thiệu Trị Hoàng Đế),…

Vương và Đế có gì khác nhau?
Vương và Đế có gì khác nhau?

Về phần chữ “Đế”. Đế hay Hoàng Đế là tước vị tối cao của 1 quốc gia. Quốc gia nào có quyền lực hơn, được một vài nước khác thần phục, triều cống thì mới xưng “Đế”, nhưng nước còn lại là chư hầu và chỉ xưng “Vương”.

Ví dụ như khi Trung Quốc xưng Đế với các nước xung quanh, nước ta là 1 nước chư hầu, chấp nhận triều cống và được Trung Quốc ban cho tước vị “Vương” như An Nam Quốc Vương (安 南 國 王).Tước vị này được hoàng đế của nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh của Trung Quốc phong cho 1 số vị vua của Việt Nam vào thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn.

Nước ta cũng có xưng Hoàng Đế, nhưng lại là “bên trong xưng đế bên ngoài xưng vương” và vẫn chịu phong hiệu của Trung Quốc. Mỗi khi đất nước có thay đổi triều đại, thay đổi vua thì vẫn phải sai sứ sang Trung Quốc để thông báo. Còn Trung Quốc thì sai sứ sang phong Vương. Điều này cho thấy nước ta chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao giữa 2 nước. Đồng thời ta vẫn xưng Đế để thể hiện quan điểm độc lập riêng, quyền lực riêng tại khu vực.

Thời nhà Đinh , sau khi thống nhất đất nước, thành lập nước Đại Cồ Việt, Đinh Tiên Hoàng sai người mang lễ vật sang triều cống cho nhà Tống. Vua Tống phong cho Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương.

Thời nhà Tiền Lê, Lê Đại Hành sau khi đánh bại quân Tống xâm lược năm 981, Lê Đại Hành cũng được nhà Tống phong là Giao Chỉ Quận Vương. Tuy nhiên mỗi lần nhà Tống sai sứ sang phong thì Lê Hoàn thác cớ này cớ khác mà không chịu lạy lúc nhận chiếu của vua Tống. Năm 982, Vua Lê Đại Hành đánh bại quân Chiêm Thành, Chiêm Thành tỏ ra thần phục. Cứ vài năm (có khi là 1 năm) vua Chiêm lại sai sứ sang Đại Cồ Việt để dâng cống phẩm.

Vào triều Lý, năm 1068, quân Chiêm Thành cướp phá Đại Việt ở vùng biên giới. Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông thân chinh cầm quân cùng Lý Thường Kiệt đánh tan quân Chiêm và bắt được vua Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng dất 3 châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính. Qua chiến thắng này, nhà Tống vốn không ưa Đại Việt, song vẫn đành thừa nhận Chiêm Thành là một chư hầu của Nhà Lý (Đại Việt).
Từ khi nhà Lý được thành lập, các nước xung quanh (Chiêm Thành; Chân Lạp, Xiêm La, Ai Lao) cũng có nhiều lần sang triều cống cho nhà Lý.

Đại Việt Sử Kí Toàn Thư có ghi như sau:

(Trang 107) [3b] Đinh Mùi, [Long Chương Thiên Tự] năm thứ 2 [1067], (Tống Trị Bình năm thứ 4). Mùa Xuân tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương.
(Trang 148) [19b] Nhâm Dần, [Trinh Phù] năm thứ 7 [1182] , (Tống Thuần Hy năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu cầu người hiền lương. Nước Xiêm La sang cống.

(Trang 149) [21b] Tân Hợi, [Thiên Tư Gia Thuỵ] năm thứ 6 [1191] , (Tống Thiệu Hy năm thứ 2). Mùa xuân, nước Chân Lạp sang cống.

Vào triều Lê xưng “Đế” và ban tước “Vương” cho các nước chư hầu như Chiêm Thành Quốc Vương (占 城 國 王), Lão Qua (Lan Xang) Quốc Vương (老 撾 國 王),…

Vào thời triều Nguyễn, Gia Long Hoàng Đế, Minh Mạng Hoàng Đế cũng ban tước “Vương” cho Chân Lạp (Cambodia) gọi là Chân Lạp Quốc Vương (真 臘 國 王).(Từ thời chúa Nguyễn, mỗi năm Chân Lạp đều cho sứ giả mang lễ vật sang triều cống. Con đường đi từ Chân Lạp sang Việt Nam, dần dần người dân gọi là Đường Sứ, nay là con đường QL22- CMT8)

Sau khi lên ngôi, lập triều Nguyễn năm 1802, vua Gia Long đã cử một sứ đoàn do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu sang nhà Thanh để xin cầu Phong. Cuối năm đó, vua tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh (nhà Thanh) và đổi quốc hiệu là Nam Việt. Nhà Thanh ngại nhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở Lưỡng Quảng nên đổi ngược lại thành Việt Nam như ngày nay.

Như vậy, chữ “Vương” hay chữ “Đế” đều là các tước hiệu thời quân chủ. Trong đó thì quyền lực chữ “Đế” lại cao hơn chữ ” Vương” một bậc.

Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam? Đinh Tiên Hoàng Đế hay Lý Nam Đế?

Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam?
Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam?

Sau khi phân biệt về Vương và Đế, bây giờ tôi xin phép vào vấn đề chính, “ai là vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam?” Câu hỏi này gây ra khá nhiều tranh cãi, vì vậy, thông tin tôi đưa ra trong bài này là ý kiến cá nhân. Các bạn có thể bàn luận ở phần cmt, nhưng vui lòng giữ lịch sự nhé!

1. Có phải Đinh Tiên Hoàng là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam không?

Tóm tắt một chút. Đinh Bộ Lĩnh là người ở động Hoa Lư, Châu Đại Hoàng (nay là huyện Hoa Lư, Ninh Bình), con của Thứ sử Châu Hoan Đinh Công Trứ. Sau khi Đinh CôngTrứ mất, Đinh Bộ Lĩnh tìm tới nương nhờ dưới trướng Sứ Quân Trần Lãm (Trần Minh Công) trấn thủ Bố Hải Khẩu (nay thuộc Thái Bình). Sau khi Ngô Vương mất, Dương Tam Kha cướp ngôi, tự mình lập làm vua, xưng là Dương Bình Vương. Do không thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên chống đối, loạn 12 sứ quân được chính thức được hình thành vào năm 966.

“Bính Dần, năm thứ 16 [966], (Tống Càn Đức năm thứ 4). Nam Tấn [Vương] mất, các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ: Ngô Xương Xí chiếm Binh Kiều235 ; Kiểu Công Hãn (xưng là Kiểu Tam Chế) chiếm Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)236 ; Nguyễn [25b] Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình) chiếm Tam Đái237 ; Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công) chiếm Đường Lâm238 (có sách chép là chiếm Giao Thủy239 ; Đỗ Cảnh Thạc (xưng là Đỗ Cảnh Công) chiếm Đỗ Động Giang240 ; Lý Khuê (xưng là Lý Lãng Công) chiếm Siêu Loại241 ; Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công) chiếm Tiên Du, Lữ Đường (xưng là Lữ Tá Công) chiếm Tế Giang242 ; Nguyễn Siêu (xưng là Nguyễn Hữu Công) chiếm Tây Phù Liệt243 ; Kiểu Thuận (xưng là Kiểu Lệnh Công) chiếm Hồi Hồ (nay ở xã Trần Xá huyện Hoa Khê vẫn còn nền thành cũ)244 ; Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át) chiếm Đằng Châu245 ; Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công) chiếm Bố Hải Khẩu246 ; gọi là 12 sứ quân.n ” – Đại Việt Sử Kí Toàn Thư trang 67

Sau khi dẹp xong 11 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đặt kinh đô tại Hoa Lư (Ninh Bình). Được bầy tôi tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Sau này sử gọi là Đinh Tiên Hoàng hay Đinh Tiên Hoàng Đế.

Đinh Tiên Hoàng là người có công thống nhất lại đất nước sau hơn nhiều năm loạn lạc, sau đó lên làm Hoàng Đế. Ông có nhiều điểm tương đồng với vị vua tài giỏi của Trung Hoa- Tần Thủy Hoàng Đế (秦始皇帝), người có công thống nhất 7 nước trong sự kiện “Chiến Quốc Thất Hùng”, thống nhất Trung Hoa.

Vậy, Đinh Tiên Hoàng có nghĩa là gì? Có phải là vị hoàng đế đầu tiên của dân tộc ta không? Tôi cho rằng, nói Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đầu tiên là không sai, nhưng chưa đủ. Bởi vì còn có một vài vị từng xưng hoàng đế trước Đinh Tiên Hoàng. Như vậy, nói đúng hơn thì Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đầu tiên của thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc ta kéo dài từ năm 968 đến khi Pháp xâm lược năm 1858, 1859. (trong thời kỳ này, có 1 khoảng thời gian từ 1407-1428, nước ta bị nhà Minh đô hộ).

Vậy còn Lý Nam Đế (Lý Bí) có phải là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam không?

Lý Bí hoặc Lý Bôn (李賁) là người đã nổi dậy chống quân Lương vào cuối năm 541. Quê hương của ông có nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quê ông ở phủ Long Hưng, Thái Bình. Theo Việt Nam Sử Lược, quê ông ở phủ Long Hưng, thuộc tỉnh Sơn Tây cũ.

Cuối năm 541, Lý Bí khởi binh liên kết cùng các châu lân cận, đánh Thứ sử Giao Châu là là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư, đuổi Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Giao Châu và Thứ sử Tân Châu sang đàn áp. Lý Bí một lần nửa đem quân đánh bại Nhà Lương, kiểm soát toàn bộ Giao Châu (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cộng thêm quận Hợp Phố).

Năm 543, vua Lâm Ấp là Rudravarman I mang quân sang tấn công quận Nhật Nam và quận Cửu Đức. (xem thêm: hành chính Việt Nam thời Bắc Thuộc). Lý Nam Đế sai Phạm Tu (có sách nói Lý Phục Man) đi đánh dẹp Lâm Ấp, bình ổn khu vực phía nam đất nước. Năm 544, ông tự Xưng là Lý Nam Đế, lập nên nhà Tiền Lý, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân. Đóng đô ở Thành Long Biên (có sách ghi ở Long Uyên hoặc cửa sông Tô Lịch- Hà Nội).

“Giáp Tý , [Thiên Đức năm thứ 1 [544], (Lương Đại Đồng năm thứ 10), Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”- trang 36,37 – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngoại Kỷ, Quyển IV).

Tuy nhiên, dưới sự tấn công mạnh mẽ của nhà Lương, năm 548 Lý Nam Đế qua đời ở động Khuất Lão (nay thuộc Phú Thọ). Nghe tin Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục tự xưng là Triệu Việt Vương, chỉ huy quân kháng chiến chống lại nhà Lương. Sau khi đánh thắng nhà Lương, Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử cướp ngôi, nhưng Lý Phật Tử không giữ được đất nước. Nhà Tiền Lý tồn tại được 61 năm (từ 541-602).

Nếu tính theo thời gian lịch sử, Lý Nam Đế có thể là vị Hoàng đế đầu tiên (lên ngôi năm 544) , trước cả Đinh Tiên Hoàng Đế (lên ngôi năm 968). Sử sách từ xưa đã cho rằng Lý Bí xưng Đế chứ không xưng Vương. Mặc dù khi xưng Đế, ông chưa ổn định được đất nước, chưa khẳng định bờ cõi và thời gian độc lập chưa được lâu. Tuy nhiên, do thời gian lập nước Vạn Xuân tới nay đã lâu và không có nhiều tư liệu lịch sử để tham khảo, và trích từ các bộ sử sách các cụ từ xưa đã ghi chép là ông xưng Đế. Cho nên tôi không dám ý kiến.

Vương và Đế có gì khác nhau? Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam?
Vương và Đế có gì khác nhau? Ai là Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam?

Phần 3: Họ Triệu trong Bình Ngô Đại Cáo

Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi có viết:
“自趙丁李陳之肇造我國,
與漢唐宋元而各帝一方。”
Phiên âm
““Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi CÁC ĐẾ nhất phương”

Dịch Nghĩa Theo Ngô Tất Tố
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên HÙNG CỨ một phương”

Bảng dịch nghĩa trên, theo tôi là chưa chính xác dựa theo văn bản chữ Hán của Nguyễn Trãi. Nếu dịch đúng sẽ là
“…Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên XƯNG ĐẾ mỗi phương…”

Vậy, theo cụ Nguyễn Trãi, người họ Triệu xưng đế trước cả Đinh Tiên Hoàng Đế kia là ai? Có phải là Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục.

Theo tôi, người họ Triệu đã xưng đế trước cả Đinh Tiên Hoàng Đế chính là Triệu Đà – Triệu Vũ Đế ( 趙武帝) chứ không phải là Triệu Quang Phục, bởi vì vị này chỉ xưng Vương- Triệu Việt Vương.

Triệu Đà là một võ tướng theo lệnh của Tần Thủy Hoàng dẫn quân chinh phạt miền nam (lãnh thổ của bộ tộc Bách Việt). Sau đó thì nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà tách ra khỏi nhà Tần, xưng Đế và lập nên nước Nam Việt suốt những năm 207-137 TCN. Sau khi nhà Hán làm chủ Trung Hoa, Triệu Đà đã bỏ đế hiệu, quy phục nhà Hán, nhà Triệu nay là chư hầu cai trị vùng đất này thay cho vua Hán. Nhưng vẫn tìm cách ly khai ra khỏi nhà Hán. Vài năm sau, Hán Cao Tổ Lưu Bang và Hán Huệ Đế Lưu Doanh chết đi, Lã Hậu nắm quyền, bắt đầu gây sự với Triệu Đà. Lã Hậu ra lệnh cấm vận với nước Nam Việt ….Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi nhà Hán, tự xưng “Nam Việt Vũ Đế”. Sau đó một thời gian, ông lại quy phục nhà Hán.

Có người coi Triệu Đà là giặc vì ông là người Hán đã dùng mưu kế để chiếm được nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương… Riêng tôi thì không như vậy. Tôi không xem Triệu Đà là giặc.

Tuy là người Hán, nhưng Triệu Đà đã chung sống cùng người Việt, trở thành người Việt (Việt Hóa), lấy vợ Việt, thụ hưởng văn hóa của dân tộc Việt ở phương nam, lập ra nước Nam Việt, lãnh đạo nhân dân chống lại người Hán, bảo vệ đất nước, mạnh mẽ truyền hơn năm đời. Tuy nhiên đến đời choắc của Triệu Đà thì suy yếu, lại thêm Hoàng hậu họ Cù mưu toan dâng nước Nam Việt cho nhà Hán. Dù Tể tướng Lữ Gia có cố gắng đến mấy cũng không thể bảo toàn được Nam Việt. Như bao triều đại khác, thịnh rồi lại suy…

Đến thời vua Quang Trung, phải chăng ông cũng công nhận Triệu Đà là vị Hoàng Đế đầu tiên của nước ta. Do đó vua Quang Trung mới kiếm cớ đòi Lưỡng Quảng trả lại cho nước Việt. Bởi vì nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế xưa kia có lãnh thổ gồm cả Bắc bộ, lẫn Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc. Tiếc thay vua Quang Trung mất sớm, giấc mộng bất thành.

Và có phải chăng vua Gia Long cũng công nhận Triệu Vũ Đế là tiên tổ? Sau khi lên ngôi và thành lập nhà Nguyễn năm 1802. Vua Gia Long đã cử một sứ đoàn do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu sang nhà Thanh để xin cầu Phong. Cuối năm đó, vua tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh (nhà Thanh) và đổi quốc hiệu là Nam Việt – tên quốc hiệu trước kia của Triệu Vũ Đế.

Trở về với Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã viết rằng “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần…” như vậy thì Đinh Tiên Hoàng xưng đế sau thời Triệu Đà (Triệu Vũ Đế). “Tiên Hoàng Đế” không phải là Hoàng Đế đầu tiên của nước ta, mà lại là Hoàng Đế đầu tiên của nhà Đinh chăng? Hoặc được công nhận là vị Hoàng Đế đầu tiên tính từ lúc nước ta độc lập tự chủ chăng? Còn người xưng đế đầu tiên của nước ta là Triệu Vũ Đế – theo lời cụ Nguyễn Trãi.

Hiện nay, ở ngoài miền Bắc, còn có rất nhiều nơi thờ Triệu Vũ Đế.

  • Đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Việt Nam thờ Triệu Đà và phu nhân Trình thị. Năm 1990, đền được bộ Văn hóa thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • Đình thờ Thành hoàng Triệu Đà ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Xưa kia đây là nơi Triệu Đà cho xây dựng điện Long Hưng.
  • Nhiều nơi xung quanh khu vực Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội) cũng có đền thờ Triệu Đà. Như các làng Văn Tinh, Lực Canh (thuộc xã Xuân Canh), Thạc Quả (thuộc xã Dục Tú) thờ Triệu Đà.
  • Đình Văn Tinh nơi thờ Triệu Đà và Cao Sơn Đại Vương tại khu vực xã Xuân Canh, Đông Anh , Hà Nội. Nơi đây còn có lễ hội truyền thống Làng Văn Tinh được tổ chức vào ngày 7/3 Âm lịch hằng năm, để tưởng nhớ về công lao giữ nước, giúp dân của 2 đối tượng được thờ bên trong. Người dân ta không thờ ai sai bao giờ. Tôi tin là như vậy!

“Tại Việt Nam, chương trình lịch sử trước năm 1975, Triệu Đà vẫn được xem là vị vua đầu tiên của Việt Nam, có công thành lập nhà nước Nam Việt. Cho nên trong các doanh trại của quân đội VNCH có doanh trại mang tên tên trại Triệu Đà nằm trên đường Phan Văn Trị, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay vẫn thuộc quận Gò Vấp, TP.HCM)” – Tiến sĩ Hồ Văn Tường.

“Ở miền Nam trước năm 1975, còn miền Bắc trước năm 1960 vẫn còn dạy cho học sinh là TRIỆU ĐÀ là Đế đầu tiên của nước Việt! Chẳng hiểu vì sao Triệu Đà bị “bức tử” khỏi lịch sử! Cháu chỉ cần hiểu thế hệ cha anh của cháu vẫn còn được biết Triệu Đà nằm trong chính sử nước Việt. Các thế kỷ xưa kia, nhắc lại như thời Trần, rồi đến thời cụ Nguyễn Trãi, cho đến tận thời vua Quang Trung, KHÔNG AI HỖN LÁO VỚI TỔ TIÊN đi “bức tử” Triệu Đà & gọi Triệu Đà là “giặc” hết!” – Thầy Nguyễn Chương

Sử gia Lê Văn Hưu có nói: “Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể [8b] lại ngấp nghé được.”

Bên cạnh đó, còn 1 số nơi lấy tên Triệu Đà để đặt tên. Tên của Triệu Đà được đặt cho một đường phố nhỏ tại địa bàn khu phố 2, phường Hiệp Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Khu Dân Cư Triệu Đà ở Q10 TP HCM….

Với những chứng minh trên, Triệu Vũ Đế có bị coi là giặc không?

Vậy, theo ý kiến của tôi, dựa vào tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của cụ Nguyễn Trãi và những thông tin tôi đã nêu ở trên , nếu cho nói vị Hoàng Đế đầu tiên của nước ta, tôi sẽ trả lời là Triệu Đà – Triệu Vũ Đế. Còn nếu nói vị Hoàng Đế đầu tiên của nước ta từ thời độc lập tự chủ, tôi sẽ là lời là Đinh Tiên Hoàng Đế. Còn nếu hỏi tôi ai là vị Hoàng Đế đầu tiên của Việt Nam trong thời kì Ngàn năm Bắc thuộc tôi sẽ trả lời là Lý Nam Đế.

Tài liệu tham khảo

  • Lịch sử Việt Nam – Đào Duy Anh
  • Sử Việt 12 khúc tráng ca – Phan Dũng
  • Tóm tắt Niên Biểu Lịch Sử Việt Nam – Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức
  • Đại Việt Sử Kí Toàn Thư – Ngô Sĩ Liên
  • Google, nguoikesu, Wikipedia, báo Vnexpress…
    -Tiến sĩ Võ sư Hồ văn Tường, Thầy Nguyễn Chương

Tác giả Nguyễn Chánh. Bài từ Việt Sử Giai Thoại.